Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đền bù và sử dụng tiền đền bù của nông hộ Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng sử dụng tiền đền bù của nông hộ tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Chương 4.
Một số giải pháp nhằm sử dụng hợp lý tiền đền bù giải phóng mặt bằng của người nông dân tại thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 5 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC ĐỀN BÙ VÀ SỬ DỤNG TIỀN ĐỀN BÙ CỦA NÔNG HỘ 1. Lý luận về đền bù và việc sử dụng tiền đền bù của nông hộ 1. Thế nào là đền bù Có thể hiểu khái niệm “đền bù” một cách đơn giản là “đền” những thiệt hại vật chất cụ thể bị mất đi và “bù” lại những giá trị phát sinh từ thiệt hại vật chất cụ thể đó [Minh Triết, 2007]. Trong đền bù đất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất của nông hộ để xây dựng khu công nghiệp thì Nhà nước phải tính toán “đền” tiền cho người dân một khoản tương ứng và phù hợp với giá trị hiện tại mảnh đất đó, và “bù” bằng tiền cho những giá trị tương lai mà mảnh đất này có thể tạo ra trên cơ sở tính toán ở hiện tại.
Ngoài ra khi thu hồi đất thì người nông dân không có việc làm do mất tư liệu sản xuất, Nhà nước tiếp tục tính toán “bù” thêm một khoản cho người nông dân chuyển đổi nghề mới, tạo việc làm và ổn định cuộc sống. Nội dung của các khoản tiền đền bù khi thu hồi đất nông nghiệp gồm: - Tiền đền bù đất: Là khoản tiền đền bù cho hộ do bị mất tư liệu sản xuất, cụ thể ở đây là đất nông nghiệp. - Tiền đền bù hoa mầu: Là khoản tiền đền bù do việc thu hồi đất làm thiệt hại đến hoa mầu chưa được thu hoạch trên diện tích thu hồi. Mức đền bù đối với cây hàng năm và vật nuôi trên đất có mặt nước tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một vụ tính theo mức thu hoạch bình quân của ba vụ trước đó theo giá nông sản, thuỷ sản thực tế ở thị trường địa phương tại thời điểm đền bù.
- Tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp. - Tiền hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất. Các khoản hỗ trợ này nhằm mục đích giúp đỡ phần nào cho người dân sau khi mất đất chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống và ổn định sản xuất, giảm bớt những gánh nặng kinh tế. Không nhằm mục đích giải quyết toàn bộ kinh phí Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 7 chuyển đổi nghề nghiệp và ổn định sản xuất cho nông hộ, vì các khoản hỗ trợ này không nhiều và chỉ mang tính chất hỗ trợ.
Mục đích của tiền đền bù đất nông nghiệp * Mục đích của tiền đền bù đất nông nghiệp Đất nông nghiệp vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt của nông hộ, vì vậy khi thu hồi đất nông nghiệp của nông hộ thì Nhà nước trả khoản tiền đền bù nhằm giúp nông hộ tìm kiếm tư liệu sản xuất mới, chuyển đổi nghề nghiệp, ổn định cuộc sống và ổn định sản xuất. Khoản tiền đền bù giúp giải quyết những khó khăn của nông hộ do mất đất nông nghiệp, khoản tiền đền bù chính là tiền vốn giúp nông hộ tạo ra thu nhập mới, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho nông hộ. * Hoạt động sử dụng tiền đền bù của nông hộ: là hành vi chi tiêu, phân bổ khoản tiền đền bù của nông hộ vào các mục đích khác nhau. Trong đó các khoản sử dụng đúng mục đích và các khoản sử dụng không đúng mục đích.
- Sử dụng tiền đền bù đúng mục đích: Là số tiền đền bù được nông hộ sử dụng để tạo ra thu nhập mới, giải quyết công ăn việc làm như: đầu tư vào phát triển ngành nghề dịch vụ, học nghề, mua sắm phương tiện và tài sản phục vụ cho sản xuất kinh doanh, mua tư liệu sản xuất,… - Sử dụng tiền đền bù không đúng mục đích: Là các khoản chi tiêu trong quỹ tiền đền bù của hộ mà không nhằm mục đích tạo thu nhập và giải quyết việc làm cho nông hộ, như: xây dựng nhà cửa, mua đồ dùng sinh hoạt, trả nợ, chia cho con cháu,… 1. Các yếu tố ảnh hướng tới việc sử dụng tiền đền bù của hộ Các yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng tiền đền bù của hộ có thể được chia thành nhóm yếu tố bên trong hộ và nhóm yếu tố bên ngoài hộ: * Nhóm yếu tố bên trong hộ: bao gồm các yếu tố như trình độ và tuổi của chủ hộ, thu nhập của hộ trước khi nhận tiền đền bù, diện tích đất bị mất,. sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới việc tiêu dùng tiền đền bù của hộ. * Nhóm nhân tố bên ngoài hộ như: Điều kiện phát triển kinh tế và định hướng phát triển các ngành nghề, dịch vụ của địa phương; hình thức giải ngân tiền đền bù; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 khả năng thu hút lao động của khu công nghiệp,.
sẽ ảnh hưởng gián tiếp tới việc sử dụng tiền đền bù của hộ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www. Cơ sở lý luận chung về khu công nghiệp tập trung 1. Quan niệm về khu công nghiệp tập trung KCNTT là hình thức thu hút vốn đầu tư quốc tế đặc biệt, nhưng vẫn thuộc loại hình đầu tư trực tiếp (FDI).
Đầu tư trực tiếp là một hình thức di chuyển vốn giữa các quốc gia, trong đó người chủ sở hữu vốn (chủ đầu tư) đồng thời là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động sử dụng vốn ở nước nhận đầu tư. Để tạo điều kiện cho các đối tác nước ngoài có điều kiện mở rộng đầu tư, chính phủ nước sở tại thường tạo ra môi trường thuận lợi cho đầu tư nước ngoài, trong đó có việc thành lập các KCNTT trên lãnh thổ của mình. * Khái niệm KCNTT là một khu vực được xây dựng cho các xí nghiệp công nghiệp vừa và nông nghiệp. Trong đó có sẵn các khu nhà máy cũng như các dịch vụ và tiện nghi cho những người sinh sống.
Mục tiêu của nước sở tại khi xây dựng các KCNTT là: + Thu hút đầu tư trên quy mô lớn và phát triển kinh tế. + Thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. + Tạo việc làm cho lao động. + Phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật.
+ Chuyển giao công nghệ mới. + Phát triển hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ đảm bảo sự phát triển kinh tế xã hội trong vùng. + Kiểm soát được vấn đề ô nhiễm môi trường * Đặc điểm của khu công nghiệp tập trung + Về mặt pháp lý: KCNTT là phần lãnh thổ của nước sở tại nên các doanh nghiệp hoạt động trong đó phải tuân thủ sự điều chỉnh của pháp luật nước sở tại. Ví dụ: các doanh nghiệp (trong nước và vốn đầu tư nước ngoài) hoạt động sản xuất kinh doanh trong các KCNTT của Việt Nam như: - Quy chế về KCN.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 - Luật đầu tư trong nước. - Luật đầu tư nước ngoài. - Luật Doanh nghiệp. - Luật lao động.
+ Về mặt kinh tế: - KCNTT là nơi tập trung nguồn lực để phát triển công nghiệp bao gồm: các nguồn lực của nước sở tại và của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. - Hoạt động sản xuất kinh doanh công nghiệp phải góp phần phát triển cơ cấu vùng theo mục tiêu nước sở tại. - Phát triển các ngành mà Chính phủ nước sở tại ưu tiên. - Quy chế thủ tục thông thoáng, hấp dẫn hơn so với các khu vực khác của đất nước.
Chuẩn bị điều kiện để thực hiện tự do hoá thương mại. Tác động của khu công nghiệp tập trung đến nông nghiệp và nông thôn Việc xây dựng KCNTT sẽ gây ra những tác động sau đây cho vùng và địa phương. * Tác động tích cực - Tạo điều kiện cho địa phương có thể tiếp thu công nghệ kỹ thuật tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của chủ đầu tư. - Tạo điều kiện cho địa phương có thể khai thác đầy đủ và hiệu quả lợi thế của mình về tài nguyên thiên nhiên và vị trí địa lý.
- Tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, giảm thiểu tỷ lệ thất nghiệp, tăng kim ngạch xuất khẩu và cải thiện đời sống của nhân dân. * Tác động tiêu cực - Nếu vùng hoặc địa phương không có quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học sẽ dẫn đến đầu tư tràn lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. - Vùng hoặc địa phương khó chủ động trong việc bố trí cơ cấu đầu tư theo ngành và lãnh thổ vì điều này phụ thuộc vào sự lựa chọn của chủ đầu tư. - Nếu vùng hoặc địa phương không tiến hành thẩm định kỹ sẽ dẫn đến sự du Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 nhập của các công nghệ không phù hợp với nền kinh tế địa phương công nghệ lạc hậu và gây ô nhiễm môi trường.
- Giảm số lượng doanh nghiệp của vùng và địa phương. Các quy định về bồi thƣờng hỗ trợ hộ nông dân có đất bị thu hồi để giải phóng mặt bằng Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ quy định việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 84/2007/NĐ- CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại đất đai; Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết trong khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.