CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận về dạy học kết hợp 1. Khái quát về lịch sử nghiên cứu dạy học kết hợp 1.
Một số nghiên cứu trên thế giới về dạy học kết hợp Theo Singh (2003), có 3 cách tiếp cận quá trình học: tiếp cận vật lí (hay là dạy học giáp mặt – face-to-face), tiếp cận dạng học tập trực tuyến (E-learning) và tự học [36]. Dạy học giáp mặt cho phép người dạy và người học tương tác trực tiếp, người học được thực hành các nhiệm vụ học tập, thí nghiệm một cách trực quan. Tuy nhiên, khi mà dạy học giáp mặt không thể đáp ứng đủ nhu cầu của người học trong việc tìm hiểu, mở rộng tri thức cũng như nhận sự hỗ trợ, hướng dẫn từ người dạy trong một số tình huống ngoài lớp học, hình thức dạy học trực tuyến ra đời. Khác với dạy học giáp mặt, E-learning lại có đặc trưng là những lớp học ảo, bài giảng online, đặc biệt là tương tác, trao đổi trực tuyến.
Với những đặc trưng như vậy, E-learning rõ ràng đem lại sự linh hoạt, chủ động trong học tập khi thời gian có thể không theo những giờ cố định, mà có thể phát sinh theo tình huống, theo nhu cầu; không gian học tập diễn ra trên lớp học ảo và không bị giới hạn bởi không gian vật lí. Trong khoảng thời gian từ thập niên cuối cùng của thế kỉ XX đến đầu thế kỉ XXI, với sự đầu tư phát triển công nghệ thông tin ở các nước phương Tây, hình thức dạy học trực tuyến E-learning bắt đầu phát triển khá rầm rộ. Không chỉ các trường học mà ngay cả các doanh nghiệp lớn ở Mỹ đã triển khai E-learning thông qua một số nền tảng như Global Learning Systems, Click2Learn,. Xu hướng này đã dần ảnh hưởng tới các nền giáo dục phát triển tại châu Á như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản,.
Đến cuối năm 1999, ước tính có khoảng 2500 cơ quan liên quan tới giáo dục trong 81 quốc gia đã ứng dụng E-learning trong đào tạo, hơn 1000 trường đại học trên thế giới đã triển khai các khoá học trực tuyến [13]. Sự 7 phát triển mạnh mẽ của E-learning trong giai đoạn này đã đưa đến một nhu cầu mới trong giáo dục đó là kết hợp giữa dạy học giáp mặt và dạy học trực tuyến thông qua Internet. Thuật ngữ Blended Learning (B-learning) hay dạy học kết hợp bắt đầu ra đời và được nghiên cứu. Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu bởi Friesen, ông nhận thấy rằng, trong những ngày đầu dạy kết hợp, đó có thể là bất kỳ sự kết hợp nào của công nghệ, phương pháp sư phạm và thậm chí cả nhiệm vụ công việc [40].
Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, nhiều công trình của các tác giả đã đi sâu nghiên cứu dạy học kết hợp. Dạy học kết hợp thường được tập trung nghiên cứu trên các khía cạnh như khung khái niệm, các mô hình và mức độ kết hợp, cách thức thiết kế và tổ chức thực hiện các khóa học, đánh giá hiệu quả so với các hình thức dạy học khác, phân tích xu hướng phát triển và các thách thức khi triển khai. Về câu hỏi vì sao lại lựa chọn hình thức dạy học kết hợp, Charles R. Graham và các cộng sự đã chỉ ra rằng dạy học kết hợp không chỉ cho phép những nhà giáo dục đổi mới phương pháp giảng dạy mà còn tăng cường khả năng hoàn thành khoá học và tiết kiệm chi phí so với học tập trực tiếp.
Nhóm nghiên cứu đã nêu lên 6 ưu điểm, cụ thể: (1) sự phong phú, đa dạng về mặt phương pháp sư phạm; (2) sự thuận tiện và dễ dàng truy cập học liệu; (3) tương tác xã hội; (4) học tập chủ động; (5) chi phí tối ưu; (6) dễ dàng sửa đổi. [33] Nghiên cứu về vấn đề các thách thức của dạy học kết hợp, tác giả Charles R. Graham chỉ ra 6 vấn đề chính: (1) Vai trò của sự tương tác trực tiếp, (2) Vai trò lựa chọn của HS và tự điều chỉnh, (3) Mô hình hỗ trợ và đào tạo, (4) Sự cân bằng giữa sáng tạo và sản xuất, (5) Thích ứng văn hóa (6) Nền tảng thiết bị số. Tác giả này cùng với các cộng sự cũng đã nghiên cứu về những khó khăn, rào cản có thể gặp phải của dạy học kết hợp trong tương lai [33].
Các nghiên cứu về định nghĩa, 8 mức độ và hình thức dạy học kết hợp sẽ được đề cập cụ thể hơn trong các phần sau. Thống kê về mức độ ứng dụng dạy học kết hợp trong các môi trường giáo dục, đặc biệt với hệ thống học tập trực tuyến K-12 tại các nơi HS học tập phổ thông theo hệ 12 lớp, Lisa R. Graham (2019) [33] cũng đã chỉ ra sự phát triển tăng vọt của hình thức dạy học này. Tại Mỹ, chỉ trong vòng 10 năm từ 2000 đến 2010, số lượng HS tham gia học tập kết hợp đã tăng từ 45000 lên hơn 4 triệu.
Xu hướng này cũng diễn ra tại các nước có nền giáo dục phát triển ở châu Âu và châu Á như Canada, Ấn Độ, New Zealand, Hàn Quốc,… Như vậy, có thể thấy dạy học kết hợp đã xuất hiện và được nghiên cứu trên thế giới ngay khi thời đại công nghệ thông tin phát triển. Đây là một mối quan hệ phát triển song song, công nghệ thông tin càng phát triển, nhu cầu trong việc nghiên cứu để đa dạng hoá hình thức triển khai dạy học nói chung và dạy học kết hợp nói riêng càng được nâng cao. Một số nghiên cứu ở Việt Nam về dạy học kết hợp Có thể thấy sự phát triển của dạy học kết hợp luôn gắn liền với sự phát triển của công nghệ thông tin và E-learning. Tại Việt Nam, vào những năm đầu thế kỉ XXI, khi mà công nghệ thông tin bước vào giai đoạn được đầu tư và phát triển, đồng thời hình thức dạy học trực tuyến bắt đầu được quan tâm và nghiên cứu nhiều, tạo tiền đề cho hình thức dạy học kết hợp được phổ biến rộng rãi.
Tháng 3/2005, hội thảo khoa học đầu tiên về E-learning được tổ chức tại Việt Nam với sự phối hợp của khoa CNTT (Đại học Bách Khoa) và Viện CNTT (Đại học Quốc gia) mang tên “Nghiên cứu và triển khai E-learning”. Sau đó là khoảng thời gian mà các nghiên cứu về việc ứng dụng công nghệ thông tin, cách thức triển khai E- learning trong giảng dạy được công bố rộng rãi. 9 Tuy nhiên, phải đến chục năm trở lại đây, hình thức dạy học kết hợp mới thực sự phổ biến và được nghiên cứu, phát triển sâu rộng. Chỉ thị số 5444/BGDĐT- GDĐH, ngày 16 tháng 11 năm 2017 của Bộ GD và đào tạo (2017) về áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực CNTT trình độ ĐH, yêu cầu các trường ĐH “tăng cường ứng dụng CNTT trong công tác đào tạo, áp dụng phương thức đào tạo trực tuyến, đào tạo kết hợp (B- learning) và đào tạo thực hành tại doanh nghiệp.
Triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến dùng chung, xây dựng nguồn tài nguyên dùng chung (đặc biệt kho học liệu điện tử dùng chung”. Ban đầu, dạy học kết hợp chỉ được nghiên cứu và triển khai tại các trường đại học tại Việt Nam. Trong bài viết “Tổ chức “Học tập hỗn hợp” biện pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin cho sinh viên trong dạy HS học”, tác giả Nguyễn Văn Hiền [6] chỉ ra sự phát triển của CNTT và Internet đã làm thay đổi hình thức tổ chức dạy học truyền thống. Khi mà phương pháp dạy học giáp mặt và dạy học trực tuyến bộc lộ những ưu, nhược điểm riêng, CNTT trở thành phương tiện hỗ trợ để kết hợp hai hình thức dạy học với nhau.
Trong công bố “Dạy học kết hợp - một hình thức phù hợp với dạy học đại học ở Việt Nam thời đại kỉ nguyên số” [4], các tác giả đã chỉ ra ra sự phù hợp của hình thức đào tạo dạy học kết hợp đối với việc giảng dạy ở bậc đại học nói chung, tại Việt Nam nói riêng. Một số nghiên cứu đã đề xuất cách thức triển khai dạy học kết hợp như “Kinh nghiệm ứng dụng phần mềm trong dạy học tiếng Anh theo mô hình kết hợp (Blended learning) với các lớp bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ trong khuôn khổ Đề án ngoại ngữ quốc gia 2020” của Nguyễn Quang Vinh (2013), “Tổ chức hoạt động dạy học chương Dòng điện trong các môi trường Vật lí 11 nâng cao theo B-learning với sự hỗ trợ của phiếu học tập” của Hồ Thị Trà My (2014) [15], hay bài báo “Chương trình tiếng Anh tăng cường theo phương thức học kết 10 hợp (Blended learning) nhìn từ góc độ người học” của Bảo Khâm và các cộng sự (2016) [10]. Trong bài viết “Tổ chức hoạt động dạy học theo B-learning đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo sau năm 2015” của Trần Huy Hoàng và Nguyễn Kim Đào đã xem dạy học kết hợp như là một hệ thống giáo dục mở và ứng dụng vào từng bài học cụ thể [7]. Ngoài ra, các nghiên cứu của tác giả Trần Thị Huệ, Nguyễn Thị Kim Oanh [9] cũng đã chỉ ra thêm về những thách thức, khó khăn trong việc thiết kế khoá học sao cho phù hợp.
Vũ Thái Giang và Nguyễn Hoài Nam đã phân tích bối cảnh và nghiên cứu hệ thống, chỉ ra sự phù hợp và cần thiết của dạy học kết hợp đối với dạy học đại học ở Việt Nam. Bài viết cũng phân tích rõ những khó khăn và hướng khắc phục để triển khai dạy học kết hợp hiệu quả trong bối cảnh dạy ở Việt Nam nói chung. [4] Bài đăng trên Tạp chí Giáo dục của Nguyễn Hoàng Trang và các cộng sự [23] cung cấp thêm về các mức độ của dạy học kết hợp cũng như những lưu ý khi triển khai tại các trường phổ thông. Thời gian gần đây cũng đã có thêm một số nghiên cứu trong việc sử dụng dạy học kết hợp để bồi dưỡng và phát triển năng lực cho người học.
Có thể thấy các nghiên cứu về dạy học kết hợp ở Việt Nam xuất hiện muộn hơn so với thế giới, tuy nhiên xu hướng phát triển hình thức dạy học này vẫn đã và đang phát triển mạnh mẽ và đặt ra nhiều bài toán cho các nhà giáo dục trong tương lai. Khái niệm dạy học kết hợp Thuật ngữ hình thức dạy học kết hợp được sử dụng vào cuối thế kỷ XX khi xuất hiện nhu cầu kết hợp giữa dạy học giáp mặt (face-to-face) với dạy học trực tuyến thông qua internet. Theo Bersin & Associates (2003), Singh & Reed (2001) [30][36] thì đây là hình thức kết hợp các phương thức giảng dạy (hoặc cung cấp 11 các phương tiện truyền thông).