phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương và 12 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Nhà nước là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học cũng như được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm khảo sát ở rất nhiều góc độ khác nhau, từ lí luận chung đến các vấn đề thực tiễn. Tuy nhiên trong phạm vi của luận án, chúng tôi tiến hành khảo sát những tài liệu có liên quan trực tiếp đến những biến đổi vai trò của nhà nước trước tác động của toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa Toàn cầu hóa là một hiện tượng khách quan đa chiều.
Do đó, khi bàn đến toàn cầu hóa cũng có rất nhều các tài liệu, dưới những góc độ khác nhau đề cập đến hiện tượng này. Tuy nhiên, trong phạm vi luận án, tác giả chỉ phân tích những công trình bàn đến toàn cầu hóa như một hiện thực đang trực tiếp tác động và tạo ra sự biến đổi của các nhà nước. Công trình đầu tiên cần kể đến là hai tác phẩm nổi tiếng của T.Friedman: Chiếc lexus và cây Oliu do Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, năm 2000 và cuốn Thế giới phẳng do Nxb.Trẻ, TPHCM xuất bản năm 2006.
Đây là hai tác phẩm của Friedman bàn trực tiếp đến toàn cầu hóa và những tác động mạnh mẽ của hiện tượng này đến các mặt của xã hội (trong đó có các nhà nước). Cuốn sách thứ nhất hướng đến trả lời câu hỏi: Toàn cầu hóa là gì? Toàn cầu hóa, theo quan điểm của Friedman, không phải là một hiện tượng mang tính khách quan bao gồm cả những mặt tốt và xấu. Theo tác giả, toàn cầu hóa là một hệ thống quan hệ quốc tế , nó bắt nguồn (khởi phát) từ sau thời kì chiến tranh lạnh và là một hệ thống quan hê ̣ quốc tế thay chỗ cho hệ thống chiến tranh lạnh. Hệ thống này có nhiều điểm khác biệt với hệ thống chiến tranh lạnh.
Thông qua việc chỉ ra những khác biệt của hai hệ thống này, ông đã khắc họa những đặc trưng cốt lõi của toàn cầu hóa. Nếu như đặc trưng của hệ thống chiến tranh lạnh là sự chia cắt thì đặc trưng của hệ thống toàn cầu hóa là sự hội nhập và web (hay mạng lưới những kết nối vô hình). Động lực của toàn cầu hóa chính là chủ nghĩa tư bản dựa trên kinh tế thị trường - tức thị trường càng tự do thì nền kinh tế càng hiệu quả và tăng trưởng 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. “Toàn cầu hóa nghĩa là chủ nghĩa tư bản kinh tế thị trường lan toả vào hầu khắp mọi quốc gia trên thế giới.
Do đó, toàn cầu hóa hình thành cho riêng nó một hệ thống luật lệ kinh tế”[31, tr. Đồng thời, quá trình này cũng mang một sắc thái văn hóa riêng, bao trùm và có xu hướng đồng hóa các quốc gia và cá nhân tới một mức độ nhất định. Thước đo của toàn cầu hóa chính là tốc độ kết nối. Đặc trưng quan trọng nhất của toàn cầu hóa chính là cấu trúc quyền lực đã có sự thay đổi: nền tảng trong quan hệ chính trị thời chiến tranh lạnh chính là các nhà nước - dân tộc trong tương quan đối đầu, đối trọng và liên kết, thì nay trong hệ thống toàn cầu hóa được xây dựng quanh ba cán cân: sự đối trọng giữa các nước (chủ yếu là Hoa Kỳ và các nước), thứ hai là giữa các quốc gia và thị trường toàn cầu; thứ ba là sự đối trọng giữa các cá nhân và nhà nước.
Thêm một phần quan trọng nữa của toàn cầu hóa được đề cập tới trong cuốn sách này chính là 6 chiều cạnh của hệ thống toàn cầu: trao đổi thông tin, chính trị, văn hóa, môi trường, thị trường tài chính và an ninh quốc gia. Các khía cạnh này có mối quan hệ chặt chẽ và tương hỗ lẫn nhau. Trong cuốn sách thứ hai – “Thế giới Phẳng” tiếp nối cuốn sách Chiếc Lexus và cây oliu, tác giả đã khái lược lịch sử thế giới thế kỉ XXI, qua đó cho chúng ta thấy được quan niệm, cách nhìn của tác giả về toàn cầu hóa như thế nào. Rõ ràng, toàn cầu hóa là một quá trình liên tục không ngừng nghỉ cho dù ta có ý thức về sự tồn tại của nó hay không thì nó vẫn cứ diễn ra.
Nếu như có nhiều quan niệm cho rằng, toàn cầu hóa chỉ như một trạng huống, một tiến trình thì với Friedman, toàn cầu hóa là sự vận động hay quá trình mang tính hệ thống. Sự tiến triển của toàn cầu hóa tương ứng với sự tiến triển của công nghệ: từ phần cứng đến phần mềm… Do đó, ông đã phân chia toàn cầu hóa thành ba thời kì tương ứng với những bước tiến triển này. Kỉ nguyên thứ nhất kéo dài từ 1492 khi Columbus tìm ra Châu Mĩ cho đến khoảng năm 1800. Đây là thời kì toàn cầu hóa 1.0 đã làm cho thế giới co lại từ kích thước lớn thành kích thước trung bình.0 đề cao các quốc gia và sức mạnh cơ học.
Trong giai đoạn này, tác nhân then chốt thúc đẩy sự hội nhập của toàn cầu hóa là sức mạnh kĩ trị. Các quốc gia và chính phủ đã đi đầu trong việc phá bỏ các bức tường ngăn cách để liên kết với nhau, thúc đẩy sự hội nhập toàn cầu; Kỉ nguyên thứ hai là toàn cầu hóa 2.0 kéo dài từ những năm 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 1800 đến năm 2000, bị gián đoạn bởi hai cuộc đại chiến thế giới và cuộc đại khủng hoảng. Thời kì này làm thế giới co lại từ cỡ trung bình xuống còn cỡ nhỏ. Trong toàn cầu hoá 2.0 động lực của sự hội nhập là các công ty, các tập đoàn kinh tế.
Các công ty đa quốc gia vươn ra toàn cầu để mở rộng thị trường, thu hút sức lao động… Hội nhập toàn cầu được thúc đẩy bởi sự tiết giảm phí giao thông do sự ra đời của động cơ hơi nước, đường sắt và sau đó là của điện tín, điện thoại, vệ tinh, cáp quang… Thời kì này chứng kiến sự trưởng thành của nền kinh tế toàn cầu về giao dịch hàng hóa và thông tin giữa các lục địa đủ lớn để hình thành thị trường toàn cầu. Đây là giai đoạn đột phá về công nghệ phần cứng; Vào khoảng năm 2000, toàn cầu hóa đã bước vào kỉ nguyên thứ ba với sự phát triển của Internet, thương mại điện tử… Thế giới chuyển từ nhỏ xuống siêu nhỏ và đồng thời san phẳng sân chơi toàn cầu. Động lực của toàn cầu hóa trong giai đoạn này chính là các cá nhân, các cá nhân được trao quyền cùng sự hỗ trợ của công nghệ đã vươn ra thế giới một cách dễ dàng trong một hệ thống thế giới phẳng. Hệ thống thế giới phẳng là sự hội tụ giữa máy tính cá nhân, cáp quang và phần mềm xử lí công việc.
Tuy nhiên, điểm mấu chốt cho những phân kì nêu trên dựa trên những bước đột phá về công nghệ là chủ yếu. Do đó, về cơ bản ta nhận ra sự khác nhau trong phân định tiến trình lịch sử của toàn cầu hóa và thời điểm bắt đầu. Tuy nhiên, ở đây không có sự mâu thuẫn khi trong cuốn sách đầu tiên “chiếc Lexus và cây oliu” tác giả xác định thời kì sau chiến tranh lạnh là thời kì toàn cầu hóa đương đại, trong khi xét toàn cầu hóa như một tiến trình thì tiến trình này không phải là một quá trình gián đoạn với quá khứ mà liên tục, không ngừng nghỉ.Stiglitz (2008, Nguyễn Ngọc Toàn dịch), Toàn cầu hóa và những mặt trái của nó, Nxb. Cuốn sách bày tỏ sự đồng thuận của tác giả về toàn cầu hóa, ông coi toàn cầu hóa là quá trình tất yếu.
Tuy nhiên, ông cũng có những chỉ trích nhất định với các thể chế đang điều hành quá trình toàn cầu: IMF, WTO, WB,… Liệu những nền quản trị toàn cầu này có thực sự đưa lại sự bình đẳng trên mọi phương diện hay không? (đặc biệt là bình đẳng trên lĩnh vực kinh tế, tài chính, thương mại) khi nó chưa thực sự có những biện pháp hữu hiệu trong giải quyết các vấn đề đang làm tê liệt các quốc gia phát triển cũng như các chính sách 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của nó làm cho tình hình của Nga và Đông Á trở nên tồi tệ hơn. Nói cách khác, việc thay thế vai trò của các chính phủ bằng các thể chế toàn cầu đang gặp phải những vấn đề nhất định. IMF với quan điểm cho rằng, dòng chảy kinh tế, tài chính của toàn cầu hóa sẽ xóa nhòa khoảng cách giàu nghèo, tạo nên sự bình đẳng giữa các nền kinh tế, song thực tế đã không cho thấy những điều nói trên là đúng… Do đó, cần xem xét lại vai trò cũng như chính sách của các tổ chức toàn cầu này. Steger (2011, Nguyễn Hải Bằng dịch), Toàn cầu hóa, Nxb.Tri Thức, HN.
Cuốn sách này đã cung cấp cho độc giả một góc nhìn tương đ ối toàn diện về toàn cầu hóa như: toàn cầu hóa là gì, lịch sử của toàn cầu hóa và các chiều kích chính của toàn cầu hóa. Trong cuốn sách này, tác giả đã đi đến một định nghĩa chung về toàn cầu hóa đó là: tính toàn cầu để chỉ một tình trạng xã hội được đặc trưng bởi những mối hỗ tương liên kết toàn cầu chặt chẽ về kinh tế, chính trị, văn hóa, môi trường và các luồng lưu chuyển đã khiến nhiều biên giới và ranh giới đang hiện hữu trở nên không còn thích hợp nữa. Do đó, “toàn cầu hóa là một tập hợp những tiến trình xã hội đang chuyển đổi tình trạng xã hội hiện tại với tính quốc gia ngày càng suy yếu thành tính toàn cầu” [101, tr. Đồng thời, tác giả cuốn sách cũng vạch ra bốn đặc điểm của toàn cầu hóa: thứ nhất, tạo nên và gia tăng các hoạt động và mạng lưới xã hội hiện hữu; thứ hai, là sự mở rộng các mối liên hệ phụ thuộc; thứ ba, là sự tăng cường các hoạt động trao đổi xã hội; thứ tư, các tiến trình toàn cầu hóa không chỉ diễn ra trên bình diện khách thể vật chất mà còn bao hàm bình diện chủ thể, ý thức.
Cuốn sách cũng đã cung cấp cho độc giả những phân tích, mô tả về các kích thước khác nhau của toàn cầu hóa. Nó đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng thể về toàn cầu hóa trên những tác động đa diện của toàn cầu hóa như: kinh tế, chính trị, văn hóa, môi sinh, các ý thức hệ… đồng thời, đưa ra những dự báo cho tương lai của toàn cầu hóa.