Đánh giá stress công việc của người bán lẻ thuốc tại Bắc Ninh năm 2023

Tải luận văn nghiên cứu về stress công việc của người bán lẻ thuốc tại Bắc Ninh 2023, phân tích nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng cụ thể.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Dược sĩ Chuyên khoa cấp I

2024

118
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về Stress công việc người bán lẻ thuốc

Stress công việc người bán lẻ thuốc là tình trạng căng thẳng tâm lý phát sinh từ các yêu cầu, áp lực và thách thức trong hoạt động tại quầy thuốc. Theo nghiên cứu của Trường Đại học Dược Hà Nội, stress liên quan đến công việc của người bán lẻ thuốc tại Bắc Ninh được định nghĩa là phản ứng tâm sinh lý khi cá nhân không cân bằng giữa nỗ lực và phần thưởng. Đây là vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe, hiệu suất làm việc và chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Stress công việc có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau trong môi trường quầy thuốc bán lẻ, từ áp lực công việc hàng ngày cho đến các yêu cầu quản lý và tương tác với khách hàng.

1.1. Định nghĩa và đặc trưng của stress

Stress là phản ứng cơ thể trước các tình huống đe dọa hay thách thức. Trong bối cảnh công việc bán lẻ thuốc, stress biểu hiện qua các triệu chứng tâm lý, sinh lý và hành vi. Các nhân tố stress phổ biến bao gồm làm việc dưới áp lực thời gian, xử lý nhiều khách hàng, tuân thủ quy định GPP, và trách nhiệm về kiến thức dược học.

1.2. Tầm quan trọng của việc nghiên cứu stress tại Bắc Ninh

Bắc Ninh là tỉnh phát triển về kinh tế với nhiều quầy thuốc bán lẻ hoạt động. Việc đánh giá sự căng thẳng của người bán lẻ thuốc tại các quầy thuốc giúp hiểu rõ hơn về điều kiện làm việc và đề xuất các biện pháp cải thiện chất lượng cuộc sống lao động.

II. Các nhân tố ảnh hưởng đến stress công việc tại quầy thuốc

Nghiên cứu stress công việc người bán lẻ thuốc tại Bắc Ninh năm 2023 xác định nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sự căng thẳng của nhân viên. Các nhân tố stress chính bao gồm: mất cân bằng nỗ lực-phần thưởng (ERI), áp lực công việc, thiếu sự hỗ trợ từ cấp quản lý, và yêu cầu về kiến thức chuyên môn. Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến hoạt động quầy thuốc, như dung lượng công việc, tương tác với khách hàng khó tính, và tuân thủ tiêu chuẩn GPP cũng là những nhân tố tác động quan trọng. Theo kết quả EFA (Exploratory Factor Analysis), bộ công cụ đo lường xác định các chiều khác nhau của stress trong công việc bán lẻ dược phẩm.

2.1. Áp lực công việc và khối lượng công việc

Áp lực công việc tại quầy thuốc phát sinh từ số lượng khách hàng cao, thời gian làm việc dài, và yêu cầu xử lý nhanh chóng. Khối lượng công việc vượt quá năng lực của người bán lẻ thuốc dẫn đến stress cao. Các nhân tố như thiếu nhân viên, công việc bất ngờ, và deadline gấp gáp làm tăng mức độ căng thẳng.

2.2. Mối quan hệ với quản lý và hỗ trợ tổ chức

Sự hỗ trợ từ người quản lý trực tiếp quầy thuốc (NQLTTQT) có vai trò quan trọng trong giảm stress. Thiếu hỗ trợ, giao tiếp kém, và quản lý không hiệu quả là những nhân tố làm gia tăng căng thẳng trong công việc bán lẻ thuốc. Điều kiện làm việc tích cực từ phía tổ chức giúp giảm stress công việc.

III. Mức độ stress của người bán lẻ thuốc tại Bắc Ninh 2023

Kết quả khảo sát stress công việc người bán lẻ thuốc tại các quầy thuốc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2023 cho thấy mức độ căng thẳng ở mức trung bình đến cao. Các người bán lẻ thuốc gặp phải những nhân tố stress đa dạng trong hoạt động hàng ngày tại quầy thuốc. Đánh giá mức độ stress được thực hiện thông qua bộ công cụ ASSET và HPSI, giúp xác định các chiều kích khác nhau của căng thẳng. Kết quả phân tích thống kê cho thấy mối liên quan giữa đặc điểm nhân tố (tuổi, kinh nghiệm, trình độ) với mức độ stress công việc. Những người bán lẻ thuốc có thâm niên thấp và áp lực từ quản lý có xu hướng chịu stress cao hơn.

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu stress bao gồm người bán lẻ thuốc tại nhiều quầy thuốc khác nhau trên địa bàn Bắc Ninh. Đối tượng nghiên cứu bao gồm các nhân viên có trình độ dược sĩ và nhân viên bán hàng dược phẩm. Đặc điểm như giới tính, tuổi, thâm niên công tác ảnh hưởng đến mức độ căng thẳng trong công việc tại quầy thuốc.

3.2. Kết quả đo lường stress theo từng nhân tố

Phân tích nhân tố trong stress công việc bao gồm: yêu cầu công việc, sự kiểm soát công việc, sự hỗ trợ xã hội, và bản chất công việc. Mỗi nhân tố được đo lường riêng biệt để xác định mức độ stress cụ thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố khác nhau có mức stress không đều nhau.

IV. Kiến nghị cải thiện điều kiện làm việc và giảm stress

Dựa trên kết quả khảo sát stress công việc người bán lẻ thuốc tại Bắc Ninh, cần có những biện pháp cụ thể để cải thiện điều kiện làm việc và giảm mức độ căng thẳng. Các kiến nghị bao gồm: cải thiện môi trường làm việc tại quầy thuốc, tăng cường hỗ trợ từ người quản lý, đào tạo kỹ năng quản lý stress, và xây dựng chính sách nhân sự công bằng. Tổ chức y tế cần thực hiện các chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân viên. Ngoài ra, việc đánh giá định kỳ mức độ stress giúp theo dõi hiệu quả các biện pháp cải thiện và điều chỉnh kịp thời. Cần tạo văn hóa làm việc lành mạnh, nơi người bán lẻ thuốc cảm thấy được đánh giá và hỗ trợ trong công việc tại quầy thuốc.

4.1. Biện pháp tại cấp quầy thuốc và cấp quản lý

Người quản lý trực tiếp quầy thuốc cần tăng cường giao tiếp, nhận lời phản hồi, và hỗ trợ nhân viên bán lẻ thuốc. Cần xây dựng quy trình hoạt động quầy thuốc hợp lý, không quá tải công việc. Tổ chức đào tạo về stress management và kỹ năng mềm giúp người bán lẻ thuốc coping hiệu quả. Cải thiện điều kiện làm việc như không gian, thiết bị, môi trường sạch sẽ.

4.2. Hỗ trợ từ tổ chức y tế và chính sách quốc gia

Tổ chức y tế thế giới (TCYTTG) khuyến cáo các biện pháp bảo vệ sức khỏe nhân viên y tế bao gồm nhân viên bán lẻ dược phẩm. Cần xây dựng chính sách lương thưởng công bằng, giảm mất cân bằng nỗ lực-phần thưởng. Hỗ trợ tâm lý, chương trình bảo hiểm sức khỏe toàn diện cho nhân viên là cần thiết để giảm stress công việc.

18/12/2025
Nguyễn thuỳ dương đánh giá sự căng thẳng stress liên quan đến công việc của người bán lẻ thuốc tại một số quầy thuốc trên địa bàn tỉnh bắc ninh năm 2023

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Theo thống kê tại Việt Nam, khoảng 80% người dân khi gặp vấn đề về sức khỏe có thói quen tìm đến nhà thuốc, quầy thuốc đầu tiên để tìm kiếm sự giúp đỡ và tư vấn. Theo TCYTTG, dược sĩ cộng đồng là các chuyên gia y tế dễ tiếp cận nhất với người dân. Ngoài việc đảm bảo cung cấp chính xác, phù hợp các sản phẩm, dược sĩ cộng đồng còn đảm trách các hoạt động chuyên môn bao gồm: tư vấn cho bệnh nhân theo đơn thuốc và thuốc không kê đơn, thông tin thuốc cho các nhân viên y tế, bệnh nhân và cộng đồng nói chung, và tham gia vào các chương trình tăng cường sức khỏe. Dược sĩ cộng đồng duy trì liên kết với các nhân viên y tế khác trong chăm sóc sức khỏe ban đầu.

Do đó, công việc của dược sĩ cộng đồng đòi hỏi rất cao về kiến thức và kỹ năng nhằm đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và quản lý bệnh của bệnh nhân một cách tối ưu. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao và yêu cầu chăm sóc dược tại quầy thuốc ngày càng gia tăng của người bệnh/khách hàng, áp lực trong công việc với người bán lẻ thuốc là không thể tránh khỏi. Việc xuất hiện các áp lực gây ra mức độ căng thẳng cao có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả và chất lượng công việc của người bán lẻ thuốc (NBT) trong việc chăm sóc và tư vấn cho người bệnh. Sự căng thẳng trong công việc có thể dẫn đến sự mệt mỏi, lo âu, trầm cảm, không thoả mãn với công việc, gia tăng ý định nghỉ việc và gián tiếp làm giảm chất lượng chăm sóc sức khoẻ cho người bệnh.

Có nhiều tài liệu cho rằng các chuyên gia y tế trải qua mức độ căng thẳng trong công việc cao khi nhu cầu công việc vượt quá khả năng đáp ứng của họ. Nhiều nghiên cứu ở phương Tây đã xác định căng thẳng là một yếu tố dẫn đến hiệu quả công việc kém, mức độ hài lòng trong công việc thấp và các vấn đề sức khỏe cá nhân. Chính vì vậy, rất nhiều nghiên cứu về căng thẳng trong công việc của NBT đã được thực hiện tại các quốc gia trên thế giới. Mức độ căng thẳng trong công việc của NBT được nghiên cứu ở các quốc gia trên thế giới là rất khác nhau.

Nghiên cứu thực hiện ở Malaysia cho thấy mức độ căng thẳng của dược sĩ ở mức trung bình với điểm căng thẳng trung bình là 1,86 ± 0,44 trên thang 4 điểm [1]. Tại Northern Ireland điểm căng thẳng trung bình của dược sĩ cộng đồng đạt 94,66/165 điểm, họ cảm thấy căng thẳng nhất khi đối mặt với tình huống bị 1 điện thoại hoặc người khác làm gián đoạn khi đang thực hiện nhiệm vụ công việc (3,98/5,00); khối lượng công việc quá nhiều (3,72/5,00); không đủ nhân sự (3,54/5,00) [2] Nhiều yếu tố căng thẳng liên quan đến công việc của dược sĩ đã được báo cáo, đặc biệt là NBT, bao gồm sự công nhận trong công việc, trách nhiệm tư vấn cho người bệnh, những mâu thuẫn trong công việc và thiếu chắc chắn về chuyên môn. Tại Malaysia căng thẳng công việc bị ảnh hưởng đáng kể bởi tuổi tác, số năm kinh nghiệm và số giờ làm việc/tuần [1] Nghiên cứu về sự căng thẳng trong công việc của nhân viên y tế (NVYT ) tại Việt Nam bắt đầu được quan tâm từ cuối những năm 2000. Luận văn Lưu Thị Liên (2019) Thực trạng và các yếu tố liên quan đến stress, trầm cảm, lo âu của nhân viên y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội, năm 2019, Trường Đại học Quốc Gia, Hà Nội.

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trung Tần (2012), thực hiện trên 136 NVYT tại bệnh viện tâm thần Tiền Giang cho thấy có tới 75,7% các NVYT thỉnh thoảng stress, trong đó 14,7% các NVYT rơi vào tình trạng stress thường xuyên [5]. Tuy nhiên, theo rà soát y văn của chúng tôi cho thấy về trạng thái tâm lý nói chung của người bán lẻ thuốc và mức độ căng thẳng trong công việc của người bán lẻ thuốc nói riêng còn chưa được quan tâm. Trước bối cảnh số lượng cơ sở bán lẻ thuốc tại Bắc Ninh đang ngày càng gia tăng, với việc chuỗi nhà thuốc , quầy thuốc hiện đại đang tăng tốc giành thị phần từ các cơ sở truyền thống, dẫn đến áp lực cạnh tranh giữa các nhà thuốc , quầy thuốc nói chung. Tại Bắc Ninh số lượng quầy thuốc chiếm 74,9 % tổng số cơ sở bán lẻ thuốc .Điều này có thể dẫn đến những sự căng thẳng trong công việc của NBT.

Trước bối cảnh trên, đề tài “Đánh giá sự căng thẳng (stress) liên quan đến công việc của người bán lẻ thuốc tại một số quầy thuốc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” được thực hiện với hai mục tiêu sau: 1. Xác định một số nhân tố ảnh hưởng đến sự căng thẳng của người bán lẻ thuốc với công việc tại một số quầy thuốc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2023. Đo lường mức độ căng thẳng (stress) của người bán lẻ thuốc với công việc tại một số quầy thuốc trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2023. Hoạt động của quầy thuốc và công việc của người bán lẻ thuốc 1.

Một số khái niệm Người bán lẻ thuốc (NBT): là người phụ trách chuyên môn về dược và nhân viên làm việc tại cơ sở bán lẻ thuốc có bằng cấp chuyên môn được đào tạo về dược phù hợp với loại hình và phạm vi hoạt động của cơ sở [6]. Người quản lý trực tiếp quầy thuốc (NQLTTQT): được sử dụng trong nghiên cứu với ý nghĩa là người trực tiếp quản lý và vận hành các hoạt động của quầy thuốc. Theo quy định, người quản lý trực tiếp quầy thuốc là người phụ trách chuyên môn về dược. Tuy nhiên, thực tế người quản lý trực tiếp quầy thuốc có thể là người phụ trách chuyên môn về dược hoặc chủ đầu tư (là người đầu tư kinh doanh và vận hành các hoạt động của quầy thuốc, có vai trò quyết định chính trong việc thực hiện các tiêu chuẩn GPP).

Bán lẻ thuốc là hoạt động chuyên môn của cơ sở bán lẻ thuốc bao gồm việc cung cấp, bán lẻ thuốc trực tiếp đến người sử dụng thuốc kèm theo việc tư vấn và hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn và có hiệu quả cho người sử dụng [6]. Hoạt động tại quầy thuốc theo quy định về nguyên tắc, tiêu chuẩn GPP Quầy thuốc là một cơ sở kinh doanh dược đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn chất lượng và điều kiện kinh doanh theo các nghị định, quy chế, văn bản pháp luật như Luật Dược số 105/2016/QH13 [7], Nghị định số 54/2017/NĐ-CP [8]. Bên cạnh đó, hoạt động của các quầy thuốc cần phải tuân thủ theo thông tư số 02/2018/TT-BYT về các quy định về thực hành tốt cơ sở bán lẻ thuốc do Bộ Y tế ban hành. Theo thông tư số 02/2018/TTBYT yêu cầu về các hoạt động của quầy thuốc như sau [6]: Quầy thuốc được kinh doanh: - Mua và bán lẻ thuốc thuộc Danh Mục thuốc thiết yếu và Danh mục thuốc không kê đơn, trừ vắc xin; - Trường hợp mua, bán thuốc thuộc Danh Mục thuốc phải kiểm soát đặc biệt và Danh Mục thuốc hạn chế bán lẻ thực hiện theo quy định tại Điều 34 Luật Dược 2016.

4 - Đối với quầy thuốc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, hải đảo, vùng có Điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được bán thêm một số loại thuốc khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế. (Khoản 1 Điều 37 Nghị định 54/2017/NĐ-CP) Mua thuốc [6] - Nguồn thuốc được mua tại các cơ sở kinh doanh thuốc hợp pháp. - Có hồ sơ theo dõi, lựa chọn các nhà cung cấp có uy tín, đảm bảo chất lượng thuốc trong quá trình kinh doanh; - Chỉ mua các thuốc được phép lưu hành (thuốc có số đăng ký hoặc thuốc chưa có số đăng ký được phép nhập khẩu). Thuốc mua còn nguyên vẹn và có đầy đủ bao gói của nhà sản xuất, nhãn đúng quy định theo quy chế hiện hành.

Có đủ hóa đơn, chứng từ hợp lệ của thuốc mua về; - Khi nhập thuốc, người bán lẻ kiểm tra hạn dùng, kiểm tra các thông tin trên nhãn thuốc theo quy chế ghi nhãn, kiểm tra chất lượng (bằng cảm quan, nhất là với các thuốc dễ có biến đổi chất lượng) và có kiểm soát trong suốt quá trình bảo quản; * Bán thuốc [6] - Các bước cơ bản trong hoạt động bán thuốc, bao gồm: • Người bán lẻ hỏi người mua những câu hỏi liên quan đến bệnh, đến thuốc mà người mua yêu cầu; Người bán lẻ tư vấn cho người mua về lựa chọn thuốc, cách dùng thuốc, hướng dẫn cách sử dụng thuốc bằng lời nói. Trường hợp không có đơn thuốc kèm theo, Người bán lẻ phải hướng dẫn sử dụng thuốc thêm bằng cách viết tay hoặc đánh máy, in gắn lên đồ bao gói. • Người bán lẻ cung cấp các thuốc phù hợp, kiểm tra, đối chiếu với đơn thuốc các thuốc bán ra về nhãn thuốc, cảm quan về chất lượng, số lượng, chủng loại thuốc. • Thuốc được niêm yết giá thuốc đúng quy định và không bán cao hơn giá niêm yết.

- Các quy định về tư vấn cho người mua, bao gồm: 5 • Người mua thuốc cần nhận được sự tư vấn đúng đắn, đảm bảo hiệu quá điều trị và phù hợp với nhu cầu, nguyện vọng; • Người bán lẻ phải xác định rõ trường hợp nào cần có tư vấn của người có chuyên môn phù hợp với loại thuốc cung cấp để tư vấn cho người mua thông tin về thuốc, giá cả và lựa chọn các thuốc không cần kê đơn; • Đối với người bệnh đòi hỏi phải có chẩn đoán của thầy thuốc mới có thể dùng thuốc, người bán lẻ cần tư vấn để bệnh nhân tới khám thầy thuốc chuyên khoa thích hợp hoặc bác sĩ điều trị; • Đối với những người mua thuốc chưa cần thiết phải dùng thuốc, nhân viên bán thuốc cần giải thích rõ cho họ hiểu và tự chăm sóc, tự theo dõi triệu chứng bệnh; • Không được tiến hành các hoạt động thông tin, quảng cáo thuốc tại nơi bán thuốc trái với quy định về thông tin quảng cáo thuốc; khuyến khích người mua coi thuốc là hàng hóa thông thường và khuyến khích người mua mua thuốc nhiều hơn cần thiết. - Bán thuốc theo đơn, thuốc độc, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần, tiền chất dùng làm thuốc: • Khi bán các thuốc theo đơn phải có sự tham gia trực tiếp người bán lẻ có trình độ chuyên môn phù hợp và tuân thủ theo các quy định, quy chế hiện hành của Bộ Y tế về bán thuốc kê đơn. • Người bán lẻ phải bán theo đúng đơn thuốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ