mở đầu cho thời đại Đại công nghiệp cơ khí, mở rộng sự phân công lao động xã hội, làm xuất hiện nhiều ngành sản xuất mới, xúc tiến sự hình thành các đô thị và các trung tâm công nghiệp. Tiền đề của cuộc Cách mạng công nghiệp là những tiến bộ lớn lao về lĩnh vực khoa học kĩ thuật trong thế kỉ 18 và thắng lợi của cuộc cách mạng xã hội chống phong kiến của giai cấp tư sản ở Anh và Pháp trong các thế kỉ 17-18. CÁCH MẠNG KHOA HỌC-KĨ THUẬT HIỆN ĐẠI : thuật ngữ dùng để chỉ cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật bắt đầu từ giữa thế kỉ 20, phân biệt với cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật đã xảy ra vào giữa thế kỉ 19. Tiền đề của cuộc Cách mạng KHKT hiện đại là những phát minh về KHKT từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20.
Cuộc Cách mạngKHKT hiện đại có 2 giai đoạn: giai đoạn 1 từ năm 1940 đến năm 1970 và giai đoạn 2 từ năm 1970 đến nay. Đặc trưng cơ bản của giai đoạn đầu là: sự phát triển mạnh mẽ các ngành khoa học kĩ thuật,phù hợp với thời kì khôi phục và phát triển nền kinh tế thế giới đã bị kiệt quệ sau chiến tranh, tập trung vào bốn hướng chủ yếu : tăng cưòng khai thác các nguồn năng lượng mới, mở rộng các cơ sở nguyên vật liệu, nâng cao năng suất lao động và đẩy mạnh phạm vi nghiên cứu ra các đại dương và khoảng không vũ trụ. Đặc trưng của giai đoạn hai là tập trung vào các hướng: a) thay thế và giảm bớt việc sử dụng các nguồn năng lượng,nguyên vật liệu truyền thống, b) tăng cường trình độ tự động hoá trong công nghiệp, c) phát triển mạnh các ngành công nghệ sinh học để có được những sản phẩm mới,có năng suất cao,phẩm chất tốt , d) phát triển nhanh và không ngừng hoàn thiện kĩ thuật điện tử và tin học. CÁCH MẠNG TRẮNG : thuật ngữ được dùng ở Ân Độ để chỉ sự thay đổi lớn lao trong ngành chăn nuôi, nhờ đó mà năng suất sữa trâu, bò được tăng vượt bậc.
CÁCH MẠNG XANH : thuật ngữ được dùng để chỉ sự thay đổi lớn lao trong nông nghiệp, tạo ra một quá trình tăng trưởng vượt bậc về sản xuất lương thực trong các nước đang phát triển, sau khi đã đưa vào sản xuất đại trà một số giống lúa mới,có năng suất cao (chủ yếu là lúa mì và lúa nước). Mêhicô và Ân Độ là những nước đã đi đầu trong cuộc Cách mạng xanh và đã thoát khỏi nạn đói trong những năm giữa thế kỉ 20. Hiện nay,ở Philippin đã thành lập Viện Nghiên cứu lúa quốc tế, chuyên nghiên cứu về cách lai tạo ra những giống lúa mới, có năng suất cao. Những giống này đã được phổ biến và trồng ở nhiều nước châu A.
CACTEN : tổ chức kết hợp nhiều xí nghiệp độc lập trong một ngành công nghiệp ( nhiều khi thuộc các nước khác nhau) nhằm bảo vệ giá bán các sản phẩm bằng cách hạn chế việc sản xuất hoặc việc cạnh tranh giữa các xí nghiệp với nhau. CACXTƠ : loại địa hình độc đáo hình thành trong các lớp đá vôi. Trong địa hình cacxtơ thường có những hang động, những cửa biến, cửa hiện của các dòng chảy vv. Thuật ngữ cacxtơ bắt nguồn từ tên một địa phương ở Nam Tư (cũ), nơi có những cao nguyên đá vôi, rất điển hình cho loại địa hình này.
CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT : sự thay đổi có tính chất cách mạng dân chủ,chống phong kiến về chế độ chiếm hữu và sử dụng ruộng đất. Ơ các nước tư bản,cải cách ruộng đất nhằm mục đích thúc đẩy sự phát triển chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp và trong nền kinh tế nóí chung,còn ở các nước tiến hành quá trình cách mạng dân tộc, dân chủ và xã hội chủ nghĩa,cải cách ruộng đất nhằm mục đích xoá bỏ chế độ ruộng đất phong kiến,địa chủ, thực hiện khẩu hiệu"người cày coa ruộng" bằng cách tịch thu hoặc trưng thu ruộng đất của địa chủ,quốc hữu hoá ruộng đất và chia cho nông dân. CẢI TẠO TỰ NHIÊN : tổ hợp các biện pháp nhằm khắc phục những điều kiện tự nhiên không thuận lợi để phục vụ cho những mục đích nhất định như : bảo vệ sản xuất, bảo vệ sức khoẻ cho con người.Việc đào hồ chứa nước, làm các công trình thuỷ lợi, trồng rừng vv.đều là những công trình cải tạo tự nhiên. Tuy nhiên, việc cải tạo tự nhiên phải hợp lí, thuận với các quy luật tự nhiên, nếu không, tự nhiên sẽ "trả thù con người" và gây ra những hậu quả xấu không thể lường hết được.
CAMBRI : ( Cm) kỉ đầu tiên trong đại Cổ sinh, kéo dài trong khoảng 80 triệu năm. Trong kỉ Cambri đã có sự phát triển của một số loài sinh vật đơn giản. CAMPÔT : (Campos) thuật ngữ có gốc từ tiếng Bồ Đào Nha chỉ kiểu xavan có những dải rừng hành lang trên các cao nguyên ở Braxin. CANGURU : thú ăn cỏ ở châu Uc, có hai chân sau rất dài.
Chiều cao khi đứng tới 1,5m. Di chuyển chủ yếu bằng động tác nhảy. Canguru có cái túi ở bụng để đựng và nuôi con mới đẻ trong vòng 6 tháng. CANHÔN : thuật ngữ gốc tiếng Tây Ban Nha chỉ loại thung lũng sông bị cắt xẻ sâu, hẹp, có sườn là vách đá dốc đứng.
Nổi tiếng nhất trên thế giới là các canhôn của sông Côlôrađô ở Hoa Kì (dài trên 3.000km, sâu tới 1. Còn gọi là hẻm sông. CANXIT : khoáng vật màu trắng, vàng hoặc hồng nhạt, có thành phần chủ yếu là cacbônat canxi (CaCO3) nguyên chất hoặc lẫn manhê, sắt, mangan, kẽm vv. CÁN CÂN ẨM : tương quan so sánh giữa lượng nước rơi (mm) và lượng bốc hơi (mm) ở một địa điểm, trong một khoảng thời gian nhất định (năm, tháng, vv.
Cán cân ẩm là dương, nếu lượng bốc hơi nhỏ hơn lượng nước rơi, là âm nếu lượng bốc hơi lớn hơn lượng nước rơi. CÁN CÂN BỨC XẠ : tương quan so sánh giữa lượng bức xạ thu được và mất đi. Có cán cân bức xạ khí quyển và cán cân bức xạ mặt đất. Tham gia vào cán cân bức xạ khí quyển, trong phần thu có lượng bức xạ trực tiếp, lượng bức xạ tán xạ của Mặt Trời, lượng bức xạ của mặt đất.
Trong phần mất đi, có lượng bức xạ của chính bản thân khí quyển hướng về mặt đất và ra khoảng không gian vũ trụ. Tham gia vào cán cân bức xạ mặt đất, trong phần thu có lượng bức xạ trực tiếp và tán xạ của Mặt Trời, của khí quyển. Trong phần mất đi,có lượng bức xạ nhiệt của chính mặt đất. Cán cân bức xạ cũng có dương (nếu phần thu lớn hơn phần mất đi) và âm ( nếu phần thu nhỏ hơn phần mất đi).
Cân bằng nước CÁN CÂN THƯƠNG MẠI : tương quan so sánh về giá trị hàng hoá (hoặc giá trị tiền tệ) giữa việc nhập khẩu và xuất khẩu của một nước. Sự so sánh này thường được biểu hiện dưới dạng một bảng thống kê đối chiếu trong một khoảng thời gian nhất định. Khi giá trị các hàng nhập khẩu tương đương với giá trị các hàng xuất khẩu thì cán cân thăng bằng. Nếu giá trị các hàng nhập khẩu nhỏ hơn thì là xuất siêu, nếu lớn hơn thì là nhập siêu.
CẢNG : khu vực ở bờ biển hoặc ở bến sông có các công trình xây dựng và trang,thiết bị phục vụ cho việc neo, đậu các tàu,thuyền, đổ bộ hành khách,bốc dỡ hàng hoá và thực hiện các dịch vụ sửa chữa kĩ thuật, bảo quản hàng hoá, và quản lí các công việc khác thuộc phạm vi vận tải đường thuỷ. CẢNG QUỐC TẾ : cảng lớn, nằm trên các đường giao thông quốc tế, được trang bị tốt,có trình độ quản lí cao, có khả năng phục vụ cho các tàu nước ngoài ra,vào để bốc dỡ hàng hoá, sửa chữa và tiếp tế nhiên liệu. CẢNG TỰ DO : cảng có chế độ ưu đãi về mặt thuế quan. Cảng tự do có hai hình thức : cảng tự do hoàn toàn và cảng tự do hạn chế.
Các cảng tự do hoàn toàn không chịu sự kiểm soát của các cơ quan hải quan của nước sở tại, hàng hoá ra vào cảng đều được miễn thuế xuất, nhập, còn đối với các cảng tự do hạn chế, thì một số hàng hoá phải nộp thuế nhập khẩu và chịu sự kiểm soát của hải quan, một số khác được miễn và cũng không chịu sự kiểm soát của hải quan. CANHKINA : tên một giống cây thân gỗ to, có nguồn gốc ở Nam Mĩ, được đưa sang trồng ở Inđônêxia để lấy chất Quinin có trong vỏ cây, dùng làm thuốc chữa sốt rét và chế rượu bổ. CẢNH QUAN : ( landshaft ) theo nghĩa rộng có thể hiểu tương tự như thuật ngữ phong cảnh. Ví dụ : cảnh quan miền núi, cảnh quan đồng bằng vv.Đó là cảnh (nhìn thấy được) của một vùng, một khu vực trên bề mặt Trái Đất, có những đặc điểm nhất định về thiên nhiên (địa hình, khí hậu, thuỷ văn, động thực vật vv.) hoặc về những công trình do con người tạo ra như : nhà cửa, đồng ruộng, kênh máng vv.Trong các tài liệu địa lí, người ta thường nói tới các cảnh quan tự nhiên, cảnh quan văn hoá hay nhân sinh vv.Theo nghĩa hẹp, cảnh quan có thể hiểu là một đơn vị cơ bản của sự phân chia các tông hợp thể lãnh thổ trong hệ thống phân vị địa lí tự nhiên.
Đó là một bộ phận của lớp vỏ địa lí,tương đối thuần nhất trong cấu trúc, khác với các bộ phận khác do tính đặc thù của sự kết hợp có tính quy luật của các thành phần,các mối quan hệ bên trong và các mối liên hệ giữa nó với các đơn vị thấp hơn (cảnh khu,cảnh diện vv.) CẢNH QUAN BĂNG TÍCH : cảnh quan của một bộ phận đất đai trên bề mặt Trái Đất, trước đây đã bị băng hà bao phủ ( trong thời kì băng hà). Đặc điểm của loại cảnh quan này là có các sản phẩm do băng hà tạo ra như : các dải đôi thạch, các đồi đôi thạch, các hồ băng hà, các cánh đồng băng tích vv.Cảnh quan băng tích rất phổ biến ở Phần Lan, ở Đông Âu vv. CAOLANH : đất sét trắng, có thành phần chủ yếu là khoáng vật Kaolinit ( Al2OH2Si2O5). Được sử dụng trong công nghiệp hoá chất, công nghiệp giấy, sà phòng và làm đồ sứ.
CAO LƯƠNG : (Sorgho) cây lương thực phụ cho hạt, có nguồn gốc ở châu Phi, Ân Độ và Trung Quốc. Thân cây cao, giống cây ngô, hạt mọc thành chùm ở trên ngọn. CAO NGUYÊN : địa hình thuộc miền núi,có bề mặt tương đối bằng phẳng, hoặc gợn sóng, đôi khi có đồi. Độ cao từ 500m trở lên.
Cao nguyên bao giờ cũng có sườn rất dốc, nhiều khi trở thành vách đứng.