Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Nghĩa biểu trưng của từ chỉ động vật trong truyện cổ tích Việt Nam Chương 4: Nghĩa biểu trưng của từ chỉ động vật trong truyện cổ tích Nhật Bản Chương 5: Đối chiếu nghĩa biểu trưng của từ chỉ động vật trong truyện cổ tích Việt – Nhật 3 CHƢƠNG 1 TỐNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, luận văn trình bày tình hình nghiên cứu về nghĩa biểu trưng, về hình ảnh động vật ở trong và ngoài nước, đồng thời hệ thống hoá một số vấn đề lý thuyết cơ bản và lấy đó làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu, gồm: nghĩa biểu trưng; khái quát truyện cổ tích Việt Nam và Nhật Bản.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài Trên thế giới, ngay từ sớm đã có những công trình nghiên cứu về động vật trong truyện cổ tích. Trong đó có thể kể đến các nghiên cứu: 河合隼雂 (1982): 昔話と日本人の心 (Truyện cổ tích và trái tim người Nhật), 江藤 (2016): グリム童話と日本昔話の比較「動物観の違い」(So sánh truyện cổ Grimm và truyện cổ tích Nhật Bản theo tiêu chí khác biệt về thế giới quan động vật), バリタ・マシリアー (2016): 日本とインドネシアの昔話にお ける動物 (Động vật trong truyện cổ tích Nhật Bản và Indonesia). Các nghiên cứu trên đều phân tích kết cấu, đặc điểm của truyện cổ tích của từng nước, tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt về sự xuất hiện, vai trò của động vật trong truyện cổ tích. Trong nghiên cứu của 江藤 (Etou, 2016) về truyện cổ Grimm và truyện cổ tích Nhật Bản, tác giả cho rằng cách triển khai kể chuyện của cả hai thể loại giống nhau, tuy nhiên có sự khác biệt về hai yếu tố chính: tôn giáo, tín ngưỡng và vị trí địa lý, tự nhiên mà động vật trong truyện cổ tích Grimm và truyện cổ tích Nhật Bản có những vai trò khác biệt.
Trong truyện cổ Grimm, giá trị của động vật được đánh giá là thấp hơn con người, nhưng trong truyện cổ tích Nhật Bản thì động vật được đánh giá có giá trị cao hơn con người. Trong nghiên cứu của バリタ・マシリアー (Balita Masyriah, 2016), tác giả đã mô tả đặc điểm hình dáng và xu hướng hành động của những con vật cụ thể trong truyện cổ tích Nhật Bản và Indonesia. Bằng cách so sánh hành động, đặc tính của động vật trong truyện cổ tích Nhật Bản và Indonesia, tác giả có những kết luận rằng: có những động vật chỉ xuất hiện ở Nhật Bản mà không xuất hiện ở Indonesia và ngược lại, có những động vật chỉ xuất hiện ở Indonesia mà không xuất hiện ở Nhật Bản. Quan điểm về động vật của hai nước cũng có những khác biệt.
Chả hạn, con ốc đối với người Indonesia mang cả đặc tính tốt và đặc tính xấu nhưng trong truyện cổ tích Nhật Bản chỉ cho thấy rằng ốc chỉ mang đặc tính xấu chứ không có đặc tính tốt. 4 Từ những nghiên cứu trước đây có thể thấy đã có nhiều nghiên cứu so sánh về sự xuất hiện, vai trò của động vật, về quan điểm động vật giữa Nhật Bản và những đất nước khác. Tuy nhiên, vẫn còn rất hạn chế những công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến động vật trong truyện cổ tích Nhật Bản và Việt Nam, về tương đồng và khác biệt trong quan điểm về động vật của người Nhật Bản và Việt Nam. Chính vì thế, thông qua việc phân tích nghĩa biểu trưng của từ chỉ động vật trong truyện cổ tích Nhật Bản và Việt Nam, nghiên cứu này là cần thiết để làm rõ những nét tương đồng và khác biệt trong quan điểm về động vật giữa hai đất nước này.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Trong nước, những vấn đề về nghĩa biểu trưng cũng như vấn đề từ vựng liên quan đến động vật từ lâu cũng được quan tâm.
Vấn đề được nghiên cứu nhiều nhất đến thời điểm hiện tại có thể kể đến những nghiên cứu về từ chỉ động vật trong thành ngữ. Ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Việt (So sánh với thành ngữ tiếng Anh) của Nguyễn Thị Bảo (Luận văn Thạc sĩ, 2003), Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ Hàn –Việt có yếu tố chỉ tên gọi động vật (Nhìn từ góc độ ngôn ngữ -văn hóa) của Lê Thị Thương (Luận văn Thạc sĩ, 2009),. Trong nghiên cứu So sánh cấu trúc – ngữ nghĩa các đơn vị thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt với một số ngôn ngữ nhóm Tày –Thái ở Việt Nam (2008), tác giả Bạch Thị Lê đã thống kê được số lượng tương đối đầy đủ các đơn vị thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Tày – Nùng, từ đó miêu tả, so sánh về mặt cấu trúc , ngữ nghĩa giữa các đơn vị thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Tày – Nùng một cách tỉ mỉ và hệ thống, giúp thấy rõ được giá trị ngôn ngữ của dân tộc thiểu số, cũng như giá trị văn hóa của người Kinh. Ngoài ra, có những nghiên cứu mang nét tương đồng Nghĩa biểu trưng văn hóa của các từ chỉ động vật trong tiếng Anh và tiếng Việt của Nguyễn Văn Trào (Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 4(77) -2014), Hình ảnh động vật trong thành ngữ Nhật _Việt của Phan Thị Ngân Hà, Trần Đặng Phúc (2013), Đặc điểm ngôn ngữ của tục ngữ có từ chỉ tên động vật trong tiếng Việt, đối chiếu với tiếng Hán của Phạm Thị Minh Hằng (2013).
Cụ thể, trong nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Văn Trào đã phân tích nghĩa biểu trưng văn hoá hiện diện trong những từ chỉ động vật trong tiếng Việt và tiếng Anh thông qua việc so sánh những hình ảnh động vật và những biểu trưng văn hoá của chúng. Trong nghiên cứu “Hình ảnh động vật trong thành ngữ Nhật _Việt”, hai tác giả Phan Thị Ngân hà và Trần Đình Phúc đã khảo sát ngữ nghĩa của từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Nhật và tiếng Việt, đồng thời so sánh để tìm ra 5 những điểm tương đồng và khác biệt trong cách liên tưởng của từ chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Nhật và tiếng Việt. Tác giả Phạm Thị Minh Hằng lại đi sâu nghiên cứu về tục ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Việt, đối chiếu với tục ngữ có từ chỉ động vật trong tiếng Hán trên các bình diện cú pháp (tìm hiểu cấu trúc cú pháp), ngữ âm (tìm hiểu số lượng âm tiết, vần và nhịp), từ vựng – ngữ nghĩa (nghiên cứu về từ chỉ động vật, ý nghĩa biểu trưng của một số từ chỉ tên động vật, nội dung, phương thức chuyển nghĩa, một vài nét đặc trưng văn hóa – dân tộc). Kết quả của các nghiên cứu trước đây đều cho rằng động vật, hay những từ chỉ động vật của mỗi ngôn ngữ có những biểu trưng văn hóa rất riêng do chịu sự chi phối của các nhân tố như hoàn cảnh địa lý, bối cảnh lịch sử, tôn giáo, phong tục tập quán,… Tóm lại, trong nghiên cứu ở ứng dụng Việt Nam, đã có những nghiên cứu đề cập đến nghĩa biểu trưng của từ chỉ động vật, nhưng vẫn chưa được đặt vào bối cảnh lịch sử cụ thể như trong bổi cảnh truyện cổ tích để thấy được sự tương đồng và khác biệt về nghĩa biểu trưng của từ chỉ động vật trong tiếng Nhật và tiếng Việt.2 Các vấn đề liên quan đến biểu tƣợng 1.1 Một số khái niệm gần nghĩa với biểu tƣợng 1.1 Ẩn dụ Ẩn dụ là phương thức tu từ dựa trên cơ sở đồng nhất hai hiện tượng tương tự, thể hiện cái này qua cái khác mà bản thân cái được nói đến thì được ẩn đi một cách kín đáo.
Ẩn dụ là phương thức chuyển nghĩa theo nguyên tắc tương đồng của hiện tượng, sự vật theo những dấu hiệu khác. Ẩn dụ là lối so sánh dựa trên sự tương đồng của hai hiện tượng về hình dáng, màu sắc, tính chất, phẩm chất hoặc chức năng. Hai hiện tượng này được đồng nhất với nhau trên nguyên tắc cái này được thể hiện qua cái khác mà bản thân cái được nói đến thì ngầm ẩn một cách kín đáo. “Khái niệm ẩn dụ thường được dùng để thể hiện bản chất nội tâm của con người bằng những ý tưởng hoặc hình ảnh lấy từ thiên nhiên.2 Biểu tƣợng Biểu tượng là sự vật mang tính chất thông điệp được dùng để chỉ ra một cái ở bên ngoài nó, theo một quan hệ ước lệ giữa sự vật trong thông điệp và sự vật ở bên ngoài.
Nói cách khác, biểu tượng chính là cái nhìn thấy được mang một kí hiệu dẫn ta đến cái không nhìn thấy được. Biểu tượng là “vật môi giới giúp ta tri giác cái bất khả tri giác” (Đoàn Văn Chúc, “Xã hội học văn hóa”, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 1997).2 Khái niệm “biểu trƣng” Biểu trưng (symbol): Một dấu hiệu (tín hiệu, kí hiệu) mang tính quy ước hàm chỉ một đặc trưng, một phẩm chất, một sáng tạo hay hẹp hơn là: có khả năng gợi ra một đối tượng khác, một sự vật khác ngoài sự thể hiện cụ thể của dấu hiệu đó và được cộng đồng chấp nhận. Có những biểu tượng thuộc về phong tục tập quán, lễ nghi, …thuộc các biểu tượng văn hóa; có những biểu tượng thuộc về nghệ thuật, văn học, ngôn ngữ học… làm thành những biểu tượng trong đời sống của cộng đồng (Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học, Nhà xuất bản Giáo dục, tr. “Biểu trưng là lấy một sự vật.
hiện tượng nào đó để biểu hiện một cách tượng trưng, ước lệ một cái gì đó có tính chất khái quát, trừu tượng” (Tiếng Việt và dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, 1997, tr56). Theo Nguyễn Thị Phương, “biểu trưng” có nguồn gốc từ tiếng Latin có nghĩa là dấu hiệu. Ở Việt Nam, thuật ngữ này được dịch là biểu trưng hoặc biểu tượng. Biểu trưng tồn tại rộng khắp trong các nền văn hóa và đời sống tinh thần của một cộng đồng.
Biểu trưng bao giờ cũng có hai mặt: - Cái biểu trưng: được thể hiện ra bằng hình ảnh, âm thanh, hình khối, màu sắc,. - Cái được biểu trưng: gợi lên một cái gì đó, nội dung ý nghĩa thông qua sự liên tưởng. Mối quan hệ giữa cái biểu trưng và cái được biểu trưng mang tính võ đoán, do quy ước của cộng đồng người. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 1992), biểu trưng có nghĩa là “biểu hiện một cách tượng trưng và tiêu biểu nhất”.
Đó là cách người ta lấy một sự vật cụ thể hoặc một tính chất thích hợp để gợi ra, liên tưởng đến một cái trừu tượng nào đó. Chẳng hạn, chim bồ câu tượng trưng cho hoà bình.