Luận văn thạc sĩ vnu ls các tội xâm phạm sở hữu trong quốc triều hình luật trong sự so sánh với bộ luật hình sự việt nam năm 1999

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnu ls các tội xâm phạm sở hữu trong quốc triều hình luật trong sự so sánh với bộ luật hình sự việt, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2015

75
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ CÁC QUY ĐỊNH TƯƠNG ỨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

1.1. Các quy định về tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

1.2. Bối cảnh ra đời Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

1.3. Khái niệm về tội xâm phạm sở hữu theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

1.4. Đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999

1.5. Các quy định về tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật

1.6. Bối cảnh ra đời Quốc triều hình luật

1.7. Khái niệm về tội xâm phạm sở hữu theo Quốc triều hình luật

1.8. Đặc điểm của các tội xâm phạm sở hữu theo Quốc triều hình luật

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ CÁC QUY ĐỊNH TƯƠNG ỨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

2.1. Chính sách hình sự

2.2. Nguyên tắc dân chủ và nguyên tắc quân chủ chuyên chế

2.3. Nguyên tắc pháp chế

2.4. Nguyên tắc nhân đạo

2.5. So sánh về kỹ thuật lập pháp

2.6. So sánh về nội dung

2.7. Tội phạm trong nhóm tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 1999 và Quốc triều hình luật

2.8. Hình phạt và các biện pháp khác áp dụng đối với tội phạm

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng quan về tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật và Bộ luật hình sự Việt Nam 1999

Tội xâm phạm sở hữu là một trong những nhóm tội phạm phổ biến nhất trong cả Quốc triều hình luật và Bộ luật hình sự Việt Nam 1999. Việc nghiên cứu và so sánh các quy định về tội xâm phạm sở hữu giữa hai bộ luật này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam mà còn góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác phòng chống tội phạm. Quốc triều hình luật, với những quy định cụ thể, đã phản ánh rõ nét các giá trị văn hóa và pháp lý của xã hội phong kiến. Trong khi đó, Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 đã có những cải cách quan trọng nhằm đáp ứng yêu cầu của thời đại mới.

1.1. Khái niệm và đặc điểm tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật

Quốc triều hình luật định nghĩa tội xâm phạm sở hữu là hành vi xâm phạm quyền sở hữu của cá nhân hoặc tổ chức. Đặc điểm nổi bật của các tội này là tính chất nghiêm trọng và ảnh hưởng lớn đến an ninh xã hội. Các quy định trong Quốc triều hình luật thường mang tính chất cứng nhắc và ít linh hoạt, phản ánh quan điểm của xã hội phong kiến về quyền sở hữu.

1.2. Khái niệm và đặc điểm tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam 1999

Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 đã cập nhật và mở rộng khái niệm về tội xâm phạm sở hữu, bao gồm cả các hành vi xâm phạm tài sản của Nhà nước và cá nhân. Đặc điểm của các tội này trong bộ luật mới là tính linh hoạt và khả năng áp dụng cao hơn, phù hợp với thực tiễn xã hội hiện đại.

II. Vấn đề và thách thức trong việc áp dụng quy định về tội xâm phạm sở hữu

Việc áp dụng các quy định về tội xâm phạm sở hữu trong thực tiễn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng các quy định giữa các cơ quan tố tụng. Điều này dẫn đến sự không đồng nhất trong việc xử lý các vụ án xâm phạm sở hữu, gây khó khăn cho công tác phòng chống tội phạm.

2.1. Khó khăn trong việc xác định tội danh và hình phạt

Một trong những khó khăn lớn nhất là việc xác định tội danh và hình phạt phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Sự khác biệt trong quy định giữa Quốc triều hình luật và Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 có thể dẫn đến những tranh cãi trong quá trình xét xử.

2.2. Thách thức trong việc bảo vệ quyền lợi của nạn nhân

Nạn nhân của các tội xâm phạm sở hữu thường gặp khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Việc thiếu các quy định rõ ràng về quyền lợi của nạn nhân trong cả hai bộ luật đã tạo ra những rào cản trong việc khôi phục quyền sở hữu.

III. Phương pháp so sánh quy định về tội xâm phạm sở hữu giữa hai bộ luật

Phương pháp so sánh giữa Quốc triều hình luật và Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 giúp làm rõ những điểm khác biệt và tương đồng trong quy định về tội xâm phạm sở hữu. Việc phân tích này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển của pháp luật mà còn cung cấp những bài học quý giá cho việc hoàn thiện pháp luật hiện hành.

3.1. So sánh về nội dung quy định tội xâm phạm sở hữu

Nội dung quy định về tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật thường mang tính chất cứng nhắc, trong khi Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 đã có những cải cách đáng kể, cho phép linh hoạt hơn trong việc áp dụng.

3.2. So sánh về hình phạt và biện pháp xử lý

Hình phạt trong Quốc triều hình luật thường nghiêm khắc hơn, trong khi Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 đã đưa ra nhiều khung hình phạt khác nhau, phù hợp với tính chất và mức độ nghiêm trọng của từng tội phạm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tội xâm phạm sở hữu

Nghiên cứu về tội xâm phạm sở hữu không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn cần được áp dụng vào thực tiễn. Việc phân tích các vụ án cụ thể sẽ giúp rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá cho công tác phòng chống tội phạm trong tương lai.

4.1. Phân tích các vụ án điển hình về tội xâm phạm sở hữu

Phân tích các vụ án điển hình sẽ giúp làm rõ hơn về cách thức thực hiện tội phạm, cũng như những khó khăn trong việc điều tra và xử lý. Điều này cũng giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về tội xâm phạm sở hữu.

4.2. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm

Để nâng cao hiệu quả phòng chống tội phạm xâm phạm sở hữu, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, cũng như tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho người dân.

V. Kết luận và tương lai của quy định về tội xâm phạm sở hữu

Việc nghiên cứu và so sánh các quy định về tội xâm phạm sở hữu giữa Quốc triều hình luật và Bộ luật hình sự Việt Nam 1999 là cần thiết để hiểu rõ hơn về sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam. Tương lai của quy định này cần được định hướng theo hướng linh hoạt và phù hợp với thực tiễn xã hội.

5.1. Đánh giá tổng quan về sự phát triển của pháp luật hình sự

Sự phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam trong việc quy định về tội xâm phạm sở hữu đã có những bước tiến đáng kể, từ Quốc triều hình luật đến Bộ luật hình sự Việt Nam 1999.

5.2. Định hướng cho việc hoàn thiện quy định trong tương lai

Cần có những nghiên cứu sâu hơn để hoàn thiện các quy định về tội xâm phạm sở hữu, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn và bảo vệ quyền lợi của người dân.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls các tội xâm phạm sở hữu trong quốc triều hình luật trong sự so sánh với bộ luật hình sự việt nam năm 1999

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ CÁC QUY ĐỊNH TƢƠNG ỨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 1. Các quy định về tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 1. Bối cảnh ra đời Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 là bộ luật hình sự đầu tiên của nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam. Trong suốt giai đoạn thi hành thực tế 15 năm (1985-1999), bộ luật đã khẳng định đƣợc vai trò đặc biệt tích cực trong đấu tranh quyết liệt phòng chống tội phạm ở nƣớc ta suốt thời kỳ lịch sử lâu dài xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo con đƣờng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân với hai cuộc kháng chiến lâu dài chống đế quốc xâm lƣợc và đấu tranh chống các lực lƣợng thù địch trong nƣớc, xây dựng cuộc sống mới.

Sự ra đời của BLHS năm 1985 cũng đánh dấu bƣớc phát triển cao của pháp luật hình sự nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung. Từ những văn bản có tính tản mạn, riêng lẻ về từng vấn đề, từng lĩnh vực cụ thể mà tất cả đều là dƣới luật, cao nhất chỉ có 5 pháp lệnh của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành vào những năm 1967-1970 và những năm đầu của thập kỷ 80, BLHS năm 1985 là văn bản pháp luật Việt Nam đầu tiên đƣợc thể hiện dƣới hình thức Bộ luật là hình thức lập pháp cao của thế giới nói chung. Tuy nhiên, do đƣợc xây dựng và ban hành trong bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội trong nƣớc cũng nhƣ tình hình quốc tế có nhiều điểm khác cơ bản so với giai đoạn hiện nay, mặc dù đã qua bốn lần sửa đổi bổ sung, nhiều quy định 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Bộ luật hình sự đã trở nên bất cập, không đáp ứng đƣợc đầy đủ yêu cầu phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới. Đồng thời, kết quả tổng kết thi hành pháp luật hình sự cũng cho thấy, một số quy định của BLHS năm 1985 phản ánh điều kiện, hoàn cảnh lúc bấy giờ đã bộc lộ những bất cập cần phải đƣợc sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới.

Bộ luật hình sự của Nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực ngày 1 tháng 7 năm 2000 đã ra đời nhằm thay thế, khắc phục những hạn chế của BLHS năm 1985. Nhìn chung, so với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã đƣợc sửa đổi một cách toàn diện, thể hiện chính sách hình sự mới của Nhà nƣớc ta đối với tội phạm nói chung và nhóm tội xâm phạm sở hữu nói riêng. So sánh hai bộ luật, có thể rút ra một số điểm mới giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 1985 nhƣ sau: Thứ nhất, BLHS năm 1999 đã nhập hai chƣơng IV và VI của Bộ luật hình sự năm 1985 vào thành một chƣơng (chƣơng XIV) với 13 tội danh. Việc quy định các tội xâm phạm sở hữu XHCN và sở hữu riêng của công dân vào một chƣơng tội phạm với những khung hình phạt giống nhau phù hợp với chính sách bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu của nhà nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.

Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tham nhũng một số tội phạm đƣợc chuyển sang chƣơng khác, đó là Tội tham ô tài sản XHCN (Điều 133 BLHS) và Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 156 BLHS) đƣợc chuyển sang chƣơng XXI (các tội phạm về chức vụ, các Điều 278 và Điều 280 BLHS). Các tội xâm phạm sở hữu còn lại về cơ bản đƣợc quy định giống nhƣ các tội phạm qui định tại chƣơng IV và VI Bộ luật hình sự 1985, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuy nhiên Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 137a, BLHS 1985) đƣợc gộp vào với các Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139, BLHS 1999) và Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142, BLHS 1999). Ngƣợc lại, có một số tội phạm đƣợc tách ra quy định thành hai tội phạm, đó là: Tội cƣớp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 131 và 154 BLHS 1985) đƣợc quy định thành hai tội ở hai điều luật khác nhau, Tội cƣớp giật tài sản (Điều 136, BLHS 1999) và Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137, BLHS 1999). Thứ hai, về hình phạt, điểm khác biệt so với Bộ luật hình sự năm 1985 là việc định lƣợng tài sản bị xâm hại để phân biệt tội phạm với vi phạm, mức tối thiểu đƣợc quy định giá trị tài sản bị thiệt hại là 500.000 đồng (sau này nâng lên 2.000 đồng) sẽ bị truy cứu TNHS.

Ngoài ra có thể truy cứu TNHS đối với ngƣời chiếm đoạt tài sản giá trị dƣới 500.000 đồng trong trƣờng hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt chƣa đƣợc xóa án mà còn vi phạm. Mức tối thiểu tài sản bị thiệt hại này không quy định đối với các Tội cƣớp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội cƣớp giật tài sản, Tội cƣỡng đoạt tài sản vì những tội phạm này ngoài việc xâm hại đến sở hữu còn xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của ngƣời khác. Riêng đối với các tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì thiệt hại từ 50.000 đồng trở lên mới bị truy cứu TNHS. Thứ ba, là đa số các tội xâm phạm sở hữu đƣợc quy định thành bốn khung hình phạt thay vì có ba khung nhƣ trong quy định của BLHS năm 1985 và mức thiệt hại về tài sản là căn cứ để phân chia thành các khung hình phạt.

Thông thƣờng, thiệt hại về tài sản đƣợc chia thành các mức sau đây để quy định khung hình phạt: từ 500.000 đồng đến dƣới 50.000 đồng; từ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.000 đồng đến dƣới 200.000 đồng đến dƣới 500.000 đồng và từ 500.000 đồng trở lên. Thứ tư, đối với hình phạt tử hình chỉ còn đƣợc giữ lại ở hai tội: tội cƣớp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, so với BLHS 1985 đã xóa bỏ loại hình phạt này ở hai tội phạm đó là: tội trộm cắp tài sản và tội cố ý hủy hoại hoặc làm hƣ hỏng tài sản. Hình phạt chung thân còn đƣợc quy định ở hai tội phạm: tội cƣớp giật và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Thứ năm, hình phạt tiền đƣợc quy định đa số với các tội xâm phạm sở hữu, phạt tiền là hình phạt chính đƣợc quy định trong chế tài lựa chọn đối với tội sử dụng trái phép tài sản (điều 142).

Các tội chiếm đoạt, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hƣ hỏng tài sản, phạt tiền đƣợc quy định là hình phạt bổ sung. Mức phạt tiền đƣợc quy định tùy theo tính chất của từng tội phạm cụ thể với mức tối thiểu là 5.000 đồng và cao nhất là 100. Việc quy định của BLHS 1999 về các tội xâm phạm sở hữu thể hiện chính sách hình sự nhất quán của Đảng và Nhà nƣớc ta từ năm 1945 đến nay trong việc trừng trị các hành vi xâm hại tới sở hữu XHCN và sở hữu, bảo vệ nghiêm ngặt tài sản XHCN, tài sản công dân, trừng trị kết hợp với khoan hồng, lấy việc giáo dục cải tạo ngƣời phạm tội là mục đích chính, chủ yếu, lâu dài. Những điểm khác biệt so với BLHS năm 1985 trong chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu phản ánh sự đổi mới, phát triển của xã hội ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay: từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trƣờng, có sự điều tiết của Nhà nƣớc, theo định hƣớng XHCN, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền của công dân, do dân, vì dân và đang trên đà hội nhập khu vực và quốc tế.

Việc quy định tội xâm phạm sở hữu vào một chƣơng trong BLHS đã thể hiện nguyên tắc bình đẳng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữa các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, vai trò chủ đạo của sở hữu XHCN trong cơ chế thị trƣờng vẫn đƣợc đề cao và đƣợc phản ánh trong BLHS bằng việc quy định hành vi xâm hại sở hữu XHCN là tình tiết tăng nặng TNHS tại điều 48. Nguyên tắc nhân đạo XHCN, bản chất ƣu việt của chế độ ta trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm đƣợc thể hiện thông qua việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với một số tội phạm và ngƣời phạm tội. Ngoài việc quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dƣới 36 tháng khi phạm tội hoặc khi xét xử thì có hai tội xâm phạm sở hữu đƣợc loại bỏ hình phạt tử hình (tội trộm cắp tài sản và tội cố ý hoặc làm hƣ hỏng tài sản) [8, tr.

BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã sửa đổi bổ sung một số điều trong nhóm tội xâm phạm sở hữu nhƣ sau: Loại bỏ hình phạt tử hình đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 – cùng với 7 tội danh khác cũng đƣợc loại bỏ án tử hình); Nâng mức định lƣợng về giá trị tiền chiếm đoạt ở 5 trong 13 tội danh đƣợc quy định trong nhóm tội xâm phạm sở hữu. Cụ thể nâng mức định lƣợng từ 500.000 đồng đối với các tội danh: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139); Trộm cắp tài sản (điều 138); Công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 136); Hủy hoại hoặc cố ý làm hƣ hỏng tài sản của ngƣời khác (điều 143); riêng tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140) tăng mức định lƣợng từ 1. Khái niệm về tội xâm phạm sở hữu theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu đƣợc đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học. Nhìn chung, khái niệm của các nhà 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu đƣa ra có thể khác nhau về câu từ nhƣng quan điểm thì tƣơng đối giống nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "So sánh tội xâm phạm sở hữu trong Quốc triều hình luật và Bộ luật hình sự Việt Nam 1999" cung cấp một cái nhìn sâu sắc về sự phát triển và thay đổi trong quy định pháp luật liên quan đến tội xâm phạm sở hữu tại Việt Nam. Tác giả phân tích sự khác biệt giữa hai hệ thống pháp luật, từ đó làm nổi bật những điểm mạnh và điểm yếu của từng quy định. Điều này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về các quy định hiện hành mà còn cung cấp cơ sở để đánh giá hiệu quả của các biện pháp pháp lý trong việc bảo vệ quyền sở hữu.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến luật hình sự, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls khởi tố vụ án hình sự đối với các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ trên cơ sở thực tiễn tại tỉnh hà tĩnh, nơi phân tích các tội xâm phạm trật tự an toàn giao thông. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls tội giao cấu với trẻ em trong luật hình sự việt nam trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn tỉnh thái nguyên cũng sẽ cung cấp cái nhìn về các tội phạm liên quan đến trẻ em trong bối cảnh pháp luật hình sự. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ vnu ls hình phạt tù trong luật hình sự việt nam, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hình phạt trong hệ thống pháp luật hiện hành. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề pháp lý liên quan.