Chương 1 CÁC QUY ĐỊNH VỀ TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 VÀ CÁC QUY ĐỊNH TƢƠNG ỨNG TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT 1. Các quy định về tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 1. Bối cảnh ra đời Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 là bộ luật hình sự đầu tiên của nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam. Trong suốt giai đoạn thi hành thực tế 15 năm (1985-1999), bộ luật đã khẳng định đƣợc vai trò đặc biệt tích cực trong đấu tranh quyết liệt phòng chống tội phạm ở nƣớc ta suốt thời kỳ lịch sử lâu dài xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo con đƣờng xã hội chủ nghĩa, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân với hai cuộc kháng chiến lâu dài chống đế quốc xâm lƣợc và đấu tranh chống các lực lƣợng thù địch trong nƣớc, xây dựng cuộc sống mới.
Sự ra đời của BLHS năm 1985 cũng đánh dấu bƣớc phát triển cao của pháp luật hình sự nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung. Từ những văn bản có tính tản mạn, riêng lẻ về từng vấn đề, từng lĩnh vực cụ thể mà tất cả đều là dƣới luật, cao nhất chỉ có 5 pháp lệnh của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội ban hành vào những năm 1967-1970 và những năm đầu của thập kỷ 80, BLHS năm 1985 là văn bản pháp luật Việt Nam đầu tiên đƣợc thể hiện dƣới hình thức Bộ luật là hình thức lập pháp cao của thế giới nói chung. Tuy nhiên, do đƣợc xây dựng và ban hành trong bối cảnh tình hình kinh tế, xã hội trong nƣớc cũng nhƣ tình hình quốc tế có nhiều điểm khác cơ bản so với giai đoạn hiện nay, mặc dù đã qua bốn lần sửa đổi bổ sung, nhiều quy định 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Bộ luật hình sự đã trở nên bất cập, không đáp ứng đƣợc đầy đủ yêu cầu phòng chống tội phạm trong giai đoạn mới. Đồng thời, kết quả tổng kết thi hành pháp luật hình sự cũng cho thấy, một số quy định của BLHS năm 1985 phản ánh điều kiện, hoàn cảnh lúc bấy giờ đã bộc lộ những bất cập cần phải đƣợc sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới.
Bộ luật hình sự của Nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đƣợc Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực ngày 1 tháng 7 năm 2000 đã ra đời nhằm thay thế, khắc phục những hạn chế của BLHS năm 1985. Nhìn chung, so với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã đƣợc sửa đổi một cách toàn diện, thể hiện chính sách hình sự mới của Nhà nƣớc ta đối với tội phạm nói chung và nhóm tội xâm phạm sở hữu nói riêng. So sánh hai bộ luật, có thể rút ra một số điểm mới giữa BLHS năm 1999 và BLHS năm 1985 nhƣ sau: Thứ nhất, BLHS năm 1999 đã nhập hai chƣơng IV và VI của Bộ luật hình sự năm 1985 vào thành một chƣơng (chƣơng XIV) với 13 tội danh. Việc quy định các tội xâm phạm sở hữu XHCN và sở hữu riêng của công dân vào một chƣơng tội phạm với những khung hình phạt giống nhau phù hợp với chính sách bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu của nhà nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Nhằm đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tham nhũng một số tội phạm đƣợc chuyển sang chƣơng khác, đó là Tội tham ô tài sản XHCN (Điều 133 BLHS) và Tội lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản công dân (Điều 156 BLHS) đƣợc chuyển sang chƣơng XXI (các tội phạm về chức vụ, các Điều 278 và Điều 280 BLHS). Các tội xâm phạm sở hữu còn lại về cơ bản đƣợc quy định giống nhƣ các tội phạm qui định tại chƣơng IV và VI Bộ luật hình sự 1985, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuy nhiên Tội lợi dụng chức vụ quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 137a, BLHS 1985) đƣợc gộp vào với các Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139, BLHS 1999) và Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142, BLHS 1999). Ngƣợc lại, có một số tội phạm đƣợc tách ra quy định thành hai tội phạm, đó là: Tội cƣớp giật hoặc công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 131 và 154 BLHS 1985) đƣợc quy định thành hai tội ở hai điều luật khác nhau, Tội cƣớp giật tài sản (Điều 136, BLHS 1999) và Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137, BLHS 1999). Thứ hai, về hình phạt, điểm khác biệt so với Bộ luật hình sự năm 1985 là việc định lƣợng tài sản bị xâm hại để phân biệt tội phạm với vi phạm, mức tối thiểu đƣợc quy định giá trị tài sản bị thiệt hại là 500.000 đồng (sau này nâng lên 2.000 đồng) sẽ bị truy cứu TNHS.
Ngoài ra có thể truy cứu TNHS đối với ngƣời chiếm đoạt tài sản giá trị dƣới 500.000 đồng trong trƣờng hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc bị xử lý hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt chƣa đƣợc xóa án mà còn vi phạm. Mức tối thiểu tài sản bị thiệt hại này không quy định đối với các Tội cƣớp tài sản, Tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, Tội cƣớp giật tài sản, Tội cƣỡng đoạt tài sản vì những tội phạm này ngoài việc xâm hại đến sở hữu còn xâm hại đến tính mạng, sức khỏe của ngƣời khác. Riêng đối với các tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thì thiệt hại từ 50.000 đồng trở lên mới bị truy cứu TNHS. Thứ ba, là đa số các tội xâm phạm sở hữu đƣợc quy định thành bốn khung hình phạt thay vì có ba khung nhƣ trong quy định của BLHS năm 1985 và mức thiệt hại về tài sản là căn cứ để phân chia thành các khung hình phạt.
Thông thƣờng, thiệt hại về tài sản đƣợc chia thành các mức sau đây để quy định khung hình phạt: từ 500.000 đồng đến dƣới 50.000 đồng; từ 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.000 đồng đến dƣới 200.000 đồng đến dƣới 500.000 đồng và từ 500.000 đồng trở lên. Thứ tư, đối với hình phạt tử hình chỉ còn đƣợc giữ lại ở hai tội: tội cƣớp tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, so với BLHS 1985 đã xóa bỏ loại hình phạt này ở hai tội phạm đó là: tội trộm cắp tài sản và tội cố ý hủy hoại hoặc làm hƣ hỏng tài sản. Hình phạt chung thân còn đƣợc quy định ở hai tội phạm: tội cƣớp giật và tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản. Thứ năm, hình phạt tiền đƣợc quy định đa số với các tội xâm phạm sở hữu, phạt tiền là hình phạt chính đƣợc quy định trong chế tài lựa chọn đối với tội sử dụng trái phép tài sản (điều 142).
Các tội chiếm đoạt, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hƣ hỏng tài sản, phạt tiền đƣợc quy định là hình phạt bổ sung. Mức phạt tiền đƣợc quy định tùy theo tính chất của từng tội phạm cụ thể với mức tối thiểu là 5.000 đồng và cao nhất là 100. Việc quy định của BLHS 1999 về các tội xâm phạm sở hữu thể hiện chính sách hình sự nhất quán của Đảng và Nhà nƣớc ta từ năm 1945 đến nay trong việc trừng trị các hành vi xâm hại tới sở hữu XHCN và sở hữu, bảo vệ nghiêm ngặt tài sản XHCN, tài sản công dân, trừng trị kết hợp với khoan hồng, lấy việc giáo dục cải tạo ngƣời phạm tội là mục đích chính, chủ yếu, lâu dài. Những điểm khác biệt so với BLHS năm 1985 trong chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu phản ánh sự đổi mới, phát triển của xã hội ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay: từ cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trƣờng, có sự điều tiết của Nhà nƣớc, theo định hƣớng XHCN, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền của công dân, do dân, vì dân và đang trên đà hội nhập khu vực và quốc tế.
Việc quy định tội xâm phạm sở hữu vào một chƣơng trong BLHS đã thể hiện nguyên tắc bình đẳng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com giữa các thành phần kinh tế và các hình thức sở hữu trong nền kinh tế hiện nay. Tuy nhiên, vai trò chủ đạo của sở hữu XHCN trong cơ chế thị trƣờng vẫn đƣợc đề cao và đƣợc phản ánh trong BLHS bằng việc quy định hành vi xâm hại sở hữu XHCN là tình tiết tăng nặng TNHS tại điều 48. Nguyên tắc nhân đạo XHCN, bản chất ƣu việt của chế độ ta trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm đƣợc thể hiện thông qua việc thu hẹp phạm vi áp dụng hình phạt tử hình đối với một số tội phạm và ngƣời phạm tội. Ngoài việc quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dƣới 36 tháng khi phạm tội hoặc khi xét xử thì có hai tội xâm phạm sở hữu đƣợc loại bỏ hình phạt tử hình (tội trộm cắp tài sản và tội cố ý hoặc làm hƣ hỏng tài sản) [8, tr.
BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã sửa đổi bổ sung một số điều trong nhóm tội xâm phạm sở hữu nhƣ sau: Loại bỏ hình phạt tử hình đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139 – cùng với 7 tội danh khác cũng đƣợc loại bỏ án tử hình); Nâng mức định lƣợng về giá trị tiền chiếm đoạt ở 5 trong 13 tội danh đƣợc quy định trong nhóm tội xâm phạm sở hữu. Cụ thể nâng mức định lƣợng từ 500.000 đồng đối với các tội danh: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139); Trộm cắp tài sản (điều 138); Công nhiên chiếm đoạt tài sản (điều 136); Hủy hoại hoặc cố ý làm hƣ hỏng tài sản của ngƣời khác (điều 143); riêng tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140) tăng mức định lƣợng từ 1. Khái niệm về tội xâm phạm sở hữu theo Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu đƣợc đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học. Nhìn chung, khái niệm của các nhà 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu đƣa ra có thể khác nhau về câu từ nhƣng quan điểm thì tƣơng đối giống nhau.