Tổng quan nghiên cứu

Vùng biển Tây Nam Bộ thuộc Vịnh Thái Lan sở hữu đới bờ rộng lớn kéo dài từ mũi Cà Mau đến thành phố Hà Tiên (Kiên Giang), nơi tiếp nhận nguồn nước ngọt từ 6 nhánh sông lớn đổ ra biển qua 4 cửa sông huyết mạch: Giang Thành, Cái Lớn - Cái Bé, Sông Đốc và Cửa Lớn - Bảy Háp. Theo thống kê của ngành thủy sản, hai tỉnh Kiên Giang và Cà Mau đóng góp trên 22% tổng sản lượng khai thác cá biển của cả nước, trong đó sản lượng khai thác năm 2018 của Kiên Giang đạt 429,4 nghìn tấn và Cà Mau đạt 167,6 nghìn tấn. Tuy nhiên, cường lực khai thác gia tăng nhanh chóng cùng với hơn 14.760 tàu thuyền hoạt động đã khiến nguồn lợi cá vùng ven bờ suy giảm nghiêm trọng.

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu phân loại, xác định cấu trúc thành phần loài cá, đánh giá mức độ đa dạng sinh học và so sánh tương đồng khu hệ cá giữa 4 vùng cửa sông trọng điểm ven biển Tây Nam Bộ. Nghiên cứu triển khai thu mẫu thực địa qua 3 đợt khảo sát từ tháng 4/2018 đến tháng 11/2018 với tổng số 611 mẫu vật thu thập được. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác quy hoạch, quản lý nguồn lợi hải sản và định hướng mô hình phát triển sinh thái bền vững cho vùng triều ven biển Đồng bằng sông Cửu Long.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu tiếp cận dựa trên lý thuyết cân bằng động lực học cửa sông của Pritchard (1967) và Day (1981), định nghĩa cửa sông là vùng thủy vực ven bờ nửa khép kín có sự hòa trộn liên tục giữa khối nước ngọt lục địa và khối nước mặn biển khơi, hình thành vùng chuyển tiếp sinh thái (ecotone) có tính đa dạng sinh học đặc trưng.

Khung phân loại học cá được xây dựng theo hệ thống phân loại học hiện đại của William N. Eschmeyer (cập nhật năm 2019), kết hợp các tiêu chí phân định sinh thái học vùng triều ven biển nhiệt đới. Trong nghiên cứu này, 3 khái niệm sinh thái cốt lõi được áp dụng gồm:

  • Khu hệ cá cửa sông (Estuarine ichthyofauna): Tập hợp các loài cá phân bố thường xuyên hoặc theo mùa tại vùng giao thoa nước ngọt - nước mặn.
  • Phân nhóm thích nghi sinh thái: Phân loại theo môi trường sống (nước ngọt, nước lợ, nước mặn) và tầng nước sinh sống (tầng mặt - Pelagic, tầng giữa - Benthopelagic, tầng đáy - Demersal).
  • Chỉ số tương đồng sinh học: Đánh giá mức độ liên kết thành phần loài giữa các vùng địa lý sinh vật biệt lập.

Phương pháp nghiên cứu

Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 611 mẫu cá thu thập trực tiếp tại 4 khu vực: cửa sông Giang Thành (233 mẫu), cửa sông Cái Lớn (211 mẫu), cửa sông Ông Đốc (72 mẫu) và cửa sông Cửa Lớn (95 mẫu). Phương pháp chọn mẫu kết hợp thu mẫu ngẫu nhiên khi tham gia đánh bắt thực tế cùng ngư dân địa phương và thu mua tại các bến cá tập kết, đảm bảo ghi nhận tối đa dải kích thước và các dạng hình thái loài. Thời gian khảo sát chia làm 3 mốc: đợt 1 (18/04 - 28/04/2018), đợt 2 (14/07 - 23/07/2018) và đợt 3 (24/10 - 04/11/2018).

Mẫu cá được cố định sơ bộ bằng formalin 10%, sau đó bảo quản trong formalin 8-10% trước khi chuyển về phòng thí nghiệm. Phương pháp định loại hình thái tuân thủ hướng dẫn của Pravdin (1961), khóa phân loại sinh vật biển FAO khu vực Tây Trung Thái Bình Dương (1999-2001), tài liệu định loại cá Nhật Bản của Nakabo (2002) và bộ sách Cá nước ngọt Việt Nam của Nguyễn Văn Hảo.

Mức độ tương đồng giữa các khu hệ cá được lượng hóa qua công thức Sorensen (1948):

$$S = \frac{2C}{A + B}$$

Trong đó $A$ và $B$ là số loài riêng của từng khu hệ, $C$ là số loài xuất hiện chung ở cả hai khu hệ. Chỉ số $S \ge 0,7$ biểu thị mối quan hệ tương đồng rất cao, $0,35 \le S < 0,7$ là mức gần gũi và $S < 0,35$ phản ánh mức độ ít tương đồng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Quy mô đa dạng thành phần loài: Nghiên cứu đã xác định được 176 loài cá thuộc 126 giống, 68 họ và 23 bộ. Trong đó, lớp cá sụn (Chondrichthyes) ghi nhận 7 loài (2 loài cá nhám, 5 loài cá đuối), còn lại 169 loài thuộc lớp cá xương (Osteichthyes).
  2. Cơ cấu phân loại học ưu thế: Bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế tuyệt đối với 28 họ (41,18% tổng số họ), 47 giống (37,30%) và 80 loài (chiếm 45,45% tổng số loài). Đứng thứ hai là bộ cá Bống (Gobiformes) với 19 loài (10,80%), bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) với 11 loài (6,25%) và bộ cá Nheo (Siluriformes) với 10 loài (5,68%).
  3. Mức độ phong phú ở bậc họ và giống: Họ cá Bống trắng (Gobiidae) ghi nhận 10 giống (7,94% tổng số giống), tiếp theo là họ cá Khế (Carangidae) với 8 giống (6,35%) và họ cá Đù (Sciaenidae) với 5 giống (3,97%). Đáng chú ý, có tới 101 giống là giống đơn loài trong vùng nghiên cứu, chiếm tỷ lệ 80,16%.
  4. Giá trị bảo tồn nguồn gen: Nghiên cứu ghi nhận 1 loài Nguy cấp (EN) theo Sách Đỏ IUCN là cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus), 1 loài Sắp nguy cấp (VU) là cá Đuối bồng hoa trắng (Maculabatis gerrardi), và 6 loài Sắp bị đe dọa (NT) gồm cá Nhám tre vằn (Chiloscyllium punctatum), cá Nhám đuôi đốm (Carcharhinus sorrah), cá Đuối (Brevitrygon walga, Hemitrygon akajei), cá Khoai (Harpadon nehereus) và cá Thu vạch (Scomberomorus commerson). Theo Sách Đỏ Việt Nam 2007, có 5 loài thuộc diện Sắp nguy cấp (VU).

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về thành phần loài giữa các cửa sông phản ánh rõ nét đặc trưng thủy văn và độ muối của từng vùng. Cửa sông Giang Thành và Cái Lớn thể hiện tính đa dạng cao nhất về các loài cá nước ngọt và cá nước lợ nhờ lưu vực đón nhận nước ngọt lớn từ sông rạch nội địa. Ngược lại, cửa sông Ông Đốc và Cửa Lớn chịu ảnh hưởng trực tiếp của hoàn lưu triều biển Tây và thảm rừng ngập mặn bao phủ, tạo ưu thế cho các nhóm cá nước mặn, cá đáy (Demersal) và các loài di cư theo triều.

Dữ liệu so sánh qua ma trận Sorensen có thể được trực quan hóa qua biểu đồ hình cây (Dendrogram) để phân nhóm mức độ tương đồng sinh thái. Cửa sông Giang Thành và Cái Lớn hình thành một nhánh tương đồng rõ rệt ($S > 0,55$) do chung cấu trúc nhóm cá thuộc bộ Siluriformes và Cypriniformes. Trong khi đó, nhóm cửa sông Cà Mau thể hiện tính gắn kết thông qua các họ cá thích nghi bùn lầy ven biển như Gobiidae, Eleotridae và Dasyatidae.

So với các kết quả khảo sát tổng thể vùng biển ven bờ Việt Nam của Vũ Trung Tạng (ghi nhận 615 loài cá cửa sông trên toàn quốc), số lượng 176 loài tại 4 cửa sông Tây Nam Bộ chiếm gần 28,6% tổng thành phần loài cá cửa sông cả nước. Điều này khẳng định vùng cửa sông ven biển Tây Nam Bộ là một trong những trung tâm đa dạng sinh học thủy sản trọng yếu của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Thiết lập vùng cấm khai thác có thời hạn: Ban hành quy định cấm đánh bắt bằng mọi hình thức tại 4 vùng cửa sông từ tháng 4 đến tháng 9 hàng năm, bảo vệ các đàn cá bố mẹ di cư sinh sản và cá con bãi triều; mục tiêu giảm 30% tỷ lệ đánh bắt cá con chưa trưởng thành trong giai đoạn 2020-2025 do Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Kiên Giang và Cà Mau chủ trì.
  2. Cắt giảm và tái cơ cấu đội tàu ven bờ: Giảm tỷ lệ tàu khai thác công suất nhỏ dưới 20 CV từ mức 26,65% xuống dưới 15% trước năm 2025, chuyển đổi 20% lao động làm nghề lồng bẫy, te xiệc, lưới kéo đáy ven bờ sang nghề nuôi biển bền vững hoặc dịch vụ du lịch sinh thái.
  3. Cập nhật danh mục bảo tồn Sách Đỏ Việt Nam: Đề xuất cơ quan quản lý chuyên ngành rà soát lại hiện trạng bảo tồn của các loài có biến động sinh học lớn như cá Mòi không răng (Anodontostoma chacunda) hiện có sản lượng khai thác cao, đồng thời tăng cường biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt đối với 7 loài cá sụn và các loài cá nước ngọt bản địa nguy cấp.
  4. Xây dựng trạm quan trắc đa dạng sinh học định kỳ: Thiết lập mạng lưới thu thập số liệu đa dạng sinh học 6 tháng/lần tại các cửa sông chính, ứng dụng mã vạch DNA (eDNA) kết hợp hình thái học do Viện Nghiên cứu Hải sản phối hợp các trường đại học thực hiện từ năm 2021.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành: Các chuyên gia thuộc lĩnh vực Động vật học, Thủy sinh học, Hải dương học cần bộ số liệu chuẩn hóa về khóa phân loại, danh mục loài cá xương, cá sụn vùng Vịnh Thái Lan.
  • Cán bộ quản lý thủy sản địa phương: Lãnh đạo và chuyên viên Chi cục Thủy sản, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long làm căn cứ xây dựng hạn ngạch khai thác và thiết lập phân khu bảo tồn biển.
  • Doanh nghiệp và tổ chức phát triển bền vững: Các đơn vị nuôi trồng thủy sản khai thác nguồn gen bản địa (cá bống tượng, cá mú lai) và các tổ chức bảo tồn thiên nhiên (IUCN, WWF) xây dựng dự án bảo vệ bãi triều.
  • Học viên sau đại học và sinh viên ngành Sinh học - Môi trường: Tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp thu mẫu, xử lý mẫu vật formalin, phân tích chỉ số tương đồng sinh học Sorensen và kỹ thuật đo đếm chỉ tiêu ngư loại học.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận văn ghi nhận bao nhiêu loài cá tại khu vực cửa sông ven biển Tây Nam Bộ?
Nghiên cứu đã thu thập 611 mẫu vật qua 3 đợt khảo sát tại 4 cửa sông chính, xác định tổng cộng 176 loài cá thuộc 126 giống, 68 họ và 23 bộ khác nhau, gồm 7 loài cá sụn và 169 loài cá xương.

2. Bộ cá và họ cá nào chiếm tỷ lệ đa dạng sinh học cao nhất trong khu vực?
Bộ cá Vược (Perciformes) phong phú nhất với 28 họ và 80 loài, chiếm 45,45% tổng số loài. Ở cấp độ họ, họ cá Bống trắng (Gobiidae) đứng đầu với 10 giống và 12 loài, phân bố trải rộng khắp các bãi triều và vùng rừng ngập mặn.

3. Có những loài nguy cấp nào được phát hiện trong nghiên cứu?
Nghiên cứu ghi nhận 1 loài Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ IUCN là cá Tra (Pangasianodon hypophthalmus), 1 loài Sắp nguy cấp (VU) là cá Đuối bồng hoa trắng (Maculabatis gerrardi), 6 loài Sắp bị đe dọa (NT) và 5 loài thuộc diện Sắp nguy cấp (VU) theo Sách Đỏ Việt Nam 2007.

4. Luận văn sử dụng phương pháp nào để so sánh mối quan hệ giữa các cửa sông?
Tác giả áp dụng chỉ số tương đồng sinh học Sorensen (1948) dựa trên số loài chung và số loài riêng của từng cửa sông, giúp lượng hóa chính xác mối quan hệ gần gũi sinh thái giữa các vùng nước Kiên Giang và Cà Mau.

5. Đội tàu khai thác tác động như thế nào đến nguồn lợi cá theo số liệu luận văn?
Khu vực nghiên cứu có 14.760 tàu khai thác, trong đó tàu công suất nhỏ dưới 90 CV chiếm 57%, tập trung đánh bắt bãi triều bằng lưới kéo, lưới rê và te xiệc, gây áp lực khai thác quá mức lên nguồn lợi cá ven bờ.

Kết luận

  • Luận văn xây dựng danh mục chuẩn hóa gồm 176 loài cá thuộc 23 bộ tại 4 cửa sông ven biển Tây Nam Bộ, đóng góp dữ liệu quan trọng cho ngành động vật học Việt Nam.
  • Xác lập cấu trúc ưu thế vượt trội của bộ cá Vược (chiếm 45,45% số loài) và họ cá Bống trắng (chiếm 7,94% số giống) trong hệ sinh thái vùng triều nước lợ.
  • Phát hiện và ghi nhận tình trạng bảo tồn của 8 loài thuộc danh mục Đỏ IUCN và 5 loài trong Sách Đỏ Việt Nam, cảnh báo nguy cơ suy giảm các loài cá sụn.
  • Chứng minh tính phân hóa sinh thái rõ nét giữa nhóm cửa sông Kiên Giang (ảnh hưởng nước ngọt) và Cà Mau (ảnh hưởng nước mặn và rừng ngập mặn).
  • Định hướng giải pháp cấp bách nhằm tái cấu trúc đội tàu dưới 90 CV và thiết lập mùa cấm đánh bắt trong giai đoạn 2020-2025.

Quý độc giả và nhà nghiên cứu có thể trích dẫn tài liệu này làm cơ sở khoa học cho các công trình nghiên cứu ngư loại học và chiến lược quản lý nguồn lợi hải sản ven bờ.