mở đầu và kết luận, luận án gồm có 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương này khảo sát những nghiên cứu của các tác giả đi trước về vấn đề thân phận con người trong sáng tác của hai nhà văn Abe Kobo và Oe Kenzburo, để từ đó thấy được những khoảng trống mà luận án cần đi sâu tìm hiểu, khai thác, khám phá, nhằm bổ sung một cách đầy đủ hơn, sâu sắc hơn vấn đề đặt ra của luận án. Chƣơng 2: Con ngƣời cô đơn và hoang mang trƣớc thực tại phi lý trong xã hội Ở chương này, luận án sẽ đi sâu phân tích những biểu hiện của thân phận con người ở góc độ cô đơn và lo âu, sợ hãi trước thực tại. Trong quá trình phân tích, người viết sẽ chỉ rõ những điểm tương đồng và khác biệt, kế thừa và cách tân trong cách thể hiện vấn đề của hai nhà văn. Chƣơng 3: Con ngƣời tha hóa, mất căn cƣớc bản ngã và sự vƣợt thoát, dấn thân trong bối cảnh khủng hoảng thời hậu chiến Con người tha hóa và mất căn cước là những biểu hiện căn bản của thân phận con người thời hậu chiến Nhật Bản.
Chương 3 của luận án sẽ phân tích - so sánh hai mặt biểu hiện này và rút ra những kết luận quan trọng về sự tương đồng và khác biệt, kế thừa và cách tân giữa hai nhà văn, đồng thời lý giải nguồn gốc của nó. Chƣơng 4: Các thủ pháp nghệ thuật mô tả thân phận con ngƣời Chương 4 của luận án nhằm phân tích bút pháp nghệ thuật thể hiện vấn đề thân phận con người của hai nhà văn, tập trung vào không gian - thời gian và một số thủ pháp nghệ thuật thể hiện sự khác biệt lớn giữa hai nhà văn như bút pháp nghịch dị của Oe hay nghệ thuật sử dụng yếu tố kỳ ảo của Abe. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong phần kết luận, luận án sẽ rút ra những kết luận quan trọng qua việc so sánh vấn đề thân phận con người giữa hai nhà văn, đồng thời khẳng định vai trò và vị trí của họ trong nền văn học hiện đại Nhật Bản, và sự đóng góp của hai ông đối với văn học thế giới. Cuối cùng là thư mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của đề tài và những nghiên cứu về lý thuyết Để triển khai đề tài luận án này, người viết sử dụng lý thuyết của triết học hiện sinh về vấn đề thân phận con người. Đây vốn là phạm trù cơ bản của triết học hiện sinh, và hai nhà văn Abe Kobo và Oe Kenzaburo phản ánh rất rõ những vấn đề cơ bản của thân phận con người trong các tác phẩm mang màu sắc hiện sinh của mình. Một số vấn đề cơ bản về triết học hiện sinh Hai nhà văn Abe Kobo và Oe Kenzaburo trưởng thành trong thời đại mà tư tưởng hiện sinh đang lan khắp toàn cầu.
Bối cảnh nước Nhật trước - trong và sau Chiến tranh thế giới thứ 2 với những khủng hoảng ngày càng nghiêm trọng về tinh thần càng làm cho dòng văn học hiện sinh có điều kiện phát triển ở đất nước này. Có thể tìm thấy dấu ấn hiện sinh trong sáng tác của hàng loạt nhà văn Nhật Bản như Dazai Osamu (1909-1948), Shiina Rinzo (1911-1973), Abe Kobo (1924-1993), Oe Kenzaburo (1935-). Đó chính là cơ sở để luận án tiếp cận vấn đề thân phận con người dưới góc nhìn của chủ nghĩa hiện sinh. Sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh trong văn học vốn xuất phát từ nền tảng của một học thuyết mang tính triết học.
Chủ nghĩa hiện sinh thịnh hành ở châu Âu sau hai cuộc chiến tranh thế giới, nhất là sau Chiến tranh thế giới 2, có ảnh hưởng lớn đến giới trí thức và thanh niên châu Âu. Trên thực tế, những yếu tố hiện sinh đã manh nha xuất hiện trong triết học cổ. Các lãnh tụ tôn giáo từ lâu đã nhấn mạnh sự biến đổi của hiện hữu cá nhân như là mối quan tâm hệ trọng của con người. Triết gia Socrates (470-399 TCN) từng đề cập đến vấn đề con người.
Các nhà tư tưởng Cơ đốc giáo như Augustine và Pascal có ý thức đầy 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com băn khoăn về thân phận con người và nhấn mạnh vai trò cứu vớt của sự biến đổi và cam kết cá nhân. “Thánh Augustin (354-430) đã cho rằng giá trị của con người phụ thuộc vào những giây phút hiện tại hoàn hảo mà con người được trải nghiệm: đó là những giây phút làm được những điều thiện hay khi con người có dịp được gặp Chúa. Cuộc đời chỉ có ý nghĩa ở những thời điểm như vậy mà thôi” [111, tr. Tuy nhiên, triết học cổ truyền từ Platon, Aristote đến Descartes, Kant, Hegel là thứ triết học thuần túy tư biện và xa cách con người.
Trong triết học này, con người không có chỗ đứng riêng, mà con người được coi là một trong hàng vạn vật. Vũ trụ lấn át con người, con người bị bỏ quên. Đến cuối thế kỉ XIX, ở trong lòng xã hội phương Tây nảy sinh những khủng hoảng về đời sống tâm linh con người. Một số nhà triết học bắt đầu có tư tưởng hoài nghi triết học duy lý của R.
Descartes và mọi hệ thống duy lý chủ nghĩa. Họ thiên về khuynh hướng hiện sinh. Hai nhà triết học lừng danh của thế kỉ XIX: Soren Kierkegaad (1813-1855) và Friedrich Nietzsche (1844- 1900) được xem là hai ông tổ chủ nghĩa hiện sinh. Đến cuối những năm 20-30 của thế kỉ XX, chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện ở Đức với các đại diện tiêu biểu như: M.
Jaspers (1883-1969); sau đó được J. Merleau Ponty… đưa vào Pháp. Trong đó, Sartre được tôn xưng là cây đại thụ của chủ nghĩa hiện sinh trong ba thập kỉ 50-70 của thế kỉ XX. Trong và sau chiến tranh thế giới thứ hai, ở các nước phương Tây, dưới gót giày của chủ nghĩa phát xít, con người lo sợ không sao thoát được sự hủy diệt.
Tự do và sinh tồn của cá nhân bị uy hiếp đến mức khiến người ta cảm thấy hoang mang, đau khổ và tuyệt vọng. Con người trở nên mất lòng tin về trật tự và lý tính của chủ nghĩa cổ điển thịnh hành trước kia. Và họ cảm thấy chỉ dùng lý tính để giải thích bí mật vũ trụ về những vấn đề triết học cơ bản là sự thiếu sót. Họ cho rằng cái quan trọng nhất là sự tồn tại chứ không phải là bản chất, thế giới bên ngoài chẳng có ý nghĩa gì, con 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người là hoàn toàn tự do, nó hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự thay đổi của mình.
Triết học hiện sinh đã ra đời trong hoàn cảnh như thế. Từ “Chủ nghĩa hiện sinh” (Existentialism) được nhà triết học người Pháp Grabiel Marcel đề xướng vào giữa năm 1940 và được Sartre sử dụng trong bài thuyết trình của mình vào 29/11/1945 tại Paris. Bài thuyết trình sau đó được xuất bản thành cuốn sách ngắn mang tựa đề "L'existentialisme est un humanisme - Existentialism is a Humanism - Chủ nghĩa hiện sinh là một chủ nghĩa nhân bản". Cuốn sách này khiến tư tưởng hiện sinh trở nên nổi tiếng.
Khi dùng từ hiện sinh, thực chất các triết gia hiện sinh muốn nói tới sự hiện tồn của con người. Luận đề này được thể hiện trong câu nói nổi tiếng của J. Sartre: “Hiện sinh có trước bản chất”. Thực chất, triết học hiện sinh ra đời vừa là sự tiếp tục phát triển, vừa là sự đối lập với triết học cổ đại.
Đó là triết học về ý nghĩa cuộc nhân sinh, tức triết học về con người. Nó chỉ chú trọng đến thân phận con người, tìm hiểu ý nghĩa của cuộc sống và cái chết. Vì vậy, chủ nghĩa hiện sinh là một học thuyết mà đối tượng là sự tồn tại của con người xét trong hiện thực cụ thể của nó, và trong điều kiện cá nhân con người dấn thân vào xã hội. Sartre khẳng định rằng: con người là tương lai của con người, con người là chính những gì mình tự tạo nên.
Lộc Phương Thủy trong bài viết Tiểu thuyết hiện sinh đã nêu lên ba đặc điểm chính của chủ nghĩa hiện sinh, bao gồm: chủ nghĩa hiện sinh chia thành hai nhánh - vô thần và hữu thần; quan tâm đến vấn đề thân phận con người; khẳng định tồn tại có trước bản chất. Tuy nhiên, các nhà hiện sinh chủ nghĩa dù là hữu thần hay vô thần, đều có tư tưởng bi quan sâu sắc đối với con người và cuộc sống. Họ cho rằng, trong thế giới này, mọi giá trị tinh thần đang mất hết ý nghĩa mà không thể bù đắp lại được. Con người đang bị bỏ rơi trong nỗi cô đơn giữa cái hiện hữu thù nghịch, cho nên cuộc đời chỉ là một sự vô nghĩa.
Để khắc phục tình trạng ấy, các nhà hiện sinh chủ nghĩa kêu gọi con người quay về với cá nhân mình, “dựa vào cái mình có để không ngừng nâng mình 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lên” để “tự do sáng tạo ra mình bằng mỗi hành động của mình, tự do mang đến cho sự sinh tồn của mình một ý nghĩa và để trở thành cái mà trước đây mình không phải như thế” [112, tr. Họ luôn nhấn mạnh những khái niệm như “dấn thân”, “nhập cuộc”. Con người, theo họ, phải hành động trước hết chỉ vì cá nhân mình, vì sự tự vượt lên mình. Luận điểm nổi tiếng của Sartre: “hiện sinh có trước bản chất” nói lên rằng, không hề có những bản chất của con người tồn tại trước khi có sự hiện hữu của con người trên mặt đất và tồn tại chẳng qua chỉ là quá trình hình thành liên tục.
Trong một hoàn cảnh, con người có thể chọn một trong nhiều cách. Và sự lựa chọn ấy sẽ tạo ra con người, tức bản chất của anh ta vào hoàn cảnh ấy. Con người buộc phải lựa chọn và sự tự do của con người nằm trong sự lựa chọn ấy. Con người không đứng yên, anh ta phải liên tục lựa chọn và phải chịu trách nhiệm về bản thân mình.
Ở khía cạnh này, triết học hiện sinh đã thể hiện mặt tích cực của nó khi nhấn mạnh đến sự hoạt động tích cực của con người. Từ vấn đề trung tâm là vấn đề con người, hàng loạt các phạm trù khác được phái sinh. Đó là: hữu thể, hư vô, buồn nôn, cô đơn, lo âu, tha hóa, cái chết, trách nhiệm, sự thăng hoa, dự phóng và tự do.