Chương 1 DẤU HIỆU PHÁP LÝ CỦA TỘI RỬA TIỀN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM NĂM 1999 Thuật ngữ “rửa tiền” lần đầu tiên xuất hiện trên báo chí Mỹ vào năm 1973 trong vụ bê bối tài chính Watergate nổi tiếng nƣớc Mỹ, tuy nhiên, phải đợi 5 năm sau, thuật ngữ "rửa tiền" mới chính thức đƣợc sử dụng trong một số văn bản pháp lý của tòa án Mỹ [41]. Sau đó, thuật ngữ này dần trở nên phổ biến trong những thập kỉ gần đây bởi tính phổ biến và mức độ ảnh hƣởng của chúng. Theo Lực lƣợng đặc nhiệm tài chính FATF (Finance Action Task Force) - Tổ chức chuyên nghiên cứu và đƣa ra những chuẩn mực quốc tế về chống rửa tiền và tài trợ cho khủng bố, đƣợc thành lập tại Hội nghị thƣợng đỉnh của nhóm G7 ở Pari vào năm 1989), rửa tiền đƣợc hiểu là: “rửa tiền là toàn bộ các hoạt động được tiến hành một cách cố ý nhằm hợp pháp hóa tiền và tài sản có nguồn gốc từ tội phạm” [41]. Theo quy định tại Luật phòng chống rửa tiền của Việt Nam thì “rửa tiền là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc của tài sản do phạm tội mà có” [32, Điều 4, khoản 1].
Cho đến nay, hầu hết luật hình sự của các nƣớc trên thế giới đều đã qui định về tội rửa tiền. Dƣới đây, tác giả sẽ trình bày dấu hiệu pháp lí của tội rửa tiền theo qui định của BLHS Việt Nam năm 1999. Dấu hiệu pháp lý của tội rửa tiền theo quy định của BLHS Việt Nam năm 1999 1. Khách thể của tội rửa tiền Theo khoa học luật hình sự, “khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại” [38, tr.
Trong BLHS năm 1999, tội rửa tiền đƣợc xếp vào chƣơng XIX “các tội 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng”. Nhƣ vậy theo quy định của BLHS hiện hành thì khách thể loại của tội phạm này là quan hệ xã hội về trật tự, an toàn công cộng. An toàn công cộng, trật tự công cộng là hệ thống các quan hệ xã hội đƣợc hình thành và điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật và các nội quy, quy tắc về trật tự chung, an toàn chung đòi hỏi mọi thành viên của xã hội phải tuân theo những quy định đó nhằm đảm bảo cuộc sống, lao động, sinh hoạt bình thƣờng của mọi ngƣời trong xã hội. Đây là nhóm quan hệ xã hội rộng lớn, ảnh hƣởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nền tảng cho sự phát triển của xã hội.
Theo cách hiểu chung, rửa tiền là hành vi nhằm hợp pháp hóa nguồn gốc bất hợp pháp của các khoản tiền do phạm tội mà có. Từ định nghĩa này có thể thấy, hoạt động rửa tiền ảnh hƣởng tiêu cực đến nhiều mặt của đời sống xã hội nhƣ làm rối loạn hoạt động tài chính - tiền tệ, ảnh hƣởng đến sự lành mạnh của các định chế tài chính, mặt bằng thu nhập, tạo điều kiện cho tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng, làm sai lệch mặt bằng đầu tƣ dẫn đến mất ổn định kinh tế, làm suy yếu việc cải tổ nền kinh tế. Ngoài ra, tội phạm rửa tiền còn gây khó khăn cho công tác điều tra tội phạm, thu hồi tài sản phạm pháp, gây ảnh hƣởng xấu tới uy tín quốc gia, gây mất niềm tin vào công lý, phá vỡ trật tự phát triển kinh tế lành mạnh của quốc gia và quốc tế. Không phải ngẫu nhiên mà trong Công ƣớc của Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hƣớng thần năm 1988 - Công ƣớc đầu tiên đề cập đến việc cần thiết phải hình sự hóa hành vi rửa tiền trong pháp luật mỗi quốc gia, khi nhận định về hoạt động buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hƣớng thần trong vai trò là tội phạm nguồn của tội rửa tiền đã sử dụng những cụm từ nhƣ “ảnh hƣởng bất lợi đối với nền kinh tế, văn hóa, chính trị của xã hội” và “tạo điều kiện cho các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia thâm nhập, làm ô nhiễm và phá hoại cơ cấu bộ máy Chính phủ, hoạt động tài chính và thƣơng mại hợp pháp, phá hoại xã hội ở mọi cấp độ” [17].
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, nhìn nhận một cách chung nhất, tội phạm rửa tiền xâm hại đến trật tự hoạt động bình thƣờng của đời sống kinh tế - xã hội, đảo lộn trật tự chung, gây mất an toàn công cộng, làm rối loạn môi trƣờng xã hội. Qua đó, có thể thấy tính nguy hiểm và cần ngăn chặn tội phạm rửa tiền, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thị trƣờng của nƣớc ta hiện nay. Tuy nhiên, với cách sắp xếp của BLHS hiện hành, tội rửa tiền đang đƣợc xếp vào nhóm tội có khách thể mang tính vĩ mô hơn là vi mô. Bởi nhìn nhận một cách khách quan thì hoạt động rửa tiền trƣớc tiên là xâm hại đến các quan hệ xã hội thuộc nhóm kinh tế, làm mất cân bằng, ổn định và trật tự của nền kinh tế, qua đó mới gián tiếp gây ảnh hƣởng đến ổn định xã hội, an toàn, trật tự công cộng, đến đời sống xã hội nói chung.
Đây cũng là một vấn đề cần lƣu ý để sắp xếp nhóm cho phù hợp hơn để việc xác định các đƣờng lối xử lý, ngăn chặn tội phạm này đƣợc hiệu quả, chính xác hơn. Về khách thể trực tiếp, tội phạm rửa tiền xâm phạm trật tự quản lý nhà nƣớc đối với tài sản do phạm tội mà có. Những tài sản mà tội phạm có đƣợc do phạm tội lẽ ra phải bị phát hiện kịp thời, tịch thu để xử lý theo quy định pháp luật hiện hành nhằm đảm bảo sự chuẩn mực của hoạt động tƣ pháp, sự trong sạch, lành mạnh, ổn định của hoạt động kinh tế, nhằm thiết lập trật tự công cộng chuẩn mực, nhƣng những tài sản này lại bị tội phạm rửa tiền quản lý, sử dụng theo cách riêng của chúng nhằm hợp pháp hoá tài sản. Nhƣ vậy, tài sản đã không nằm trong chu trình vận động bình thƣờng trong xã hội mà đi theo một chu trình mới có sự điều khiển của kẻ phạm tội rửa tiền.
Trật tự quản lý nhà nƣớc đối với tài sản này đã bị phá vỡ hoàn toàn. Xâm hại trật tự này, tội phạm rửa tiền tạo ra những khối tài sản, những dòng tiền có vẻ ngoài hợp pháp, sạch sẽ nhƣng thực chất là tài sản, là tiền bất hợp pháp, tiền bẩn làm đảo lộn, làm mất tính ổn định và cạnh tranh lành mạnh cần thiết của môi trƣờng kinh tế xã hội trong sạch, bình đẳng, dẫn đến những hệ luỵ phức 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạp khó kiểm soát. Số tiền, tài sản do phạm tội mà có này sau khi tẩy rửa lại đem lại lợi ích cho một nhóm ngƣời trong xã hội. Mâu thuẫn này không chỉ nguy hiểm cho trật tự, an toàn công cộng, cho nền kinh tế mà còn thể hiện sự bất lực, yếu kém của Nhà nƣớc trong quản lý xã hội và đấu tranh chống tội phạm.
Về lâu dài, nếu không kiểm soát đƣợc vấn đề này mà để nó phát triển có thể dẫn tới đổ vỡ tài chính, kinh tế gây nên những hậu quả khôn lƣờng về chính trị - xã hội. Nhƣ vậy, tội phạm rửa tiền đã xâm hại đến một quan hệ xã hội quan trọng, có tính thiết yếu trong đời sống công cộng nói chung và đời sống kinh tế nói riêng. Xét ở góc độ khác, có thể nói rằng khách thể trực tiếp của tội phạm rửa tiền là quan hệ sở hữu. Do bản chất sở hữu bất hợp pháp tiền, tài sản do phạm tội mà có nên tội phạm rửa tiền tìm cách biến đổi thành sở hữu hợp pháp của chúng.
Tài sản, tiền thu đƣợc từ hoạt động phạm tội đó thực chất thuộc sở hữu hợp pháp của đối tƣợng khác (nhƣ cá nhân, tổ chức, Nhà nƣớc…) nhƣng đã bị tội phạm nguồn chiếm đoạt rồi tội phạm rửa tiền tìm cách thay đổi, che đậy bản chất sở hữu bất hợp pháp đó bằng hình thức sở hữu hợp pháp thông qua nhiều cách thức tinh vi. Tuy nhiên, dù có thay đổi thì về bản chất, tiền, tài sản này vẫn là bất hợp pháp, không thuộc sở hữu của tội phạm. Xét về đối tƣợng tác động của tội phạm. Đó là tiền, tài sản do phạm tội mà có.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Thông tƣ liên tịch số 09/2011/TTLT- BCA-BQP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC ngày 30/11/2011 của Bộ Công an, Bộ quốc phòng, Ngân hàng nhà nƣớc, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hƣớng dẫn áp dụng quy định của BLHS về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngƣời khác phạm tội mà có và tội rửa tiền (sau đây gọi tắt là Thông tƣ liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-NHNNVN-VKSNDTC- TANDTC) thì tài sản do phạm tội mà có là tài sản do ngƣời phạm tội có đƣợc trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: tài sản chiếm đoạt đƣợc, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tham ô, nhận hối lộ…) hoặc do ngƣời phạm tội có đƣợc từ việc mua bán, đổi chác bằng tài sản có đƣợc trực tiếp từ việc họ thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: xe máy có đƣợc từ việc dùng tiền tham ô để mua) [1]. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật phòng, chống rửa tiền số 07/2012/QH13 ngày 18/6/2012 (sau đây gọi tắt là Luật phòng, chống rửa tiền) thì: Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản theo quy định của Bộ luật dân sự, có thể tồn tại dƣới hình thức vật chất hoặc phi vật chất; động sản hoặc bất động sản; hữu hình hoặc vô hình; các chứng từ hoặc công cụ pháp lý chứng minh quyền sở hữu hoặc lợi ích đối với tài sản đó [32, Điều 4, khoản 2]. Quy định này phù hợp với định nghĩa về tài sản đƣợc quy định tại khoản g Điều 1 Công ƣớc Liên hợp quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hƣớng thần năm 1988 (sau đây gọi tắt là Công ƣớc Viên) “tài sản có nghĩa là tài sản dưới mọi hình thức hữu hình hay vô hình, động sản hay bất động sản, vật chất hay phi vật chất và cả những tài liệu hoặc văn bản pháp lý chứng nhận quyền sở hữu hoặc các quyền lợi trong tài sản đó” [17, Điều 1].