Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam đang trải qua giai đoạn già hóa dân số với tốc độ thuộc nhóm nhanh nhất trên thế giới. Theo số liệu thống kê dân số năm 2019, quy mô dân số nước ta đạt khoảng 97 triệu người, trong đó tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc chiếm 11,0% và tuổi thọ trung bình đạt 72 tuổi ở nam giới, 81 tuổi ở nữ giới. Nếu như năm 1990, tỷ lệ người cao tuổi chỉ chiếm 7,2% dân số thì đến năm 2011 đã chạm ngưỡng 10,0%, chính thức mở đầu giai đoạn già hóa. Dự báo đến năm 2038, tỷ lệ này sẽ chạm mức 20,0%, đồng nghĩa với việc Việt Nam chỉ mất khoảng 24 năm để chuyển đổi từ xã hội già hóa sang xã hội dân số già, đặt ra áp lực cực lớn lên hệ thống an sinh xã hội trong bối cảnh đất nước đối mặt với nguy cơ "già trước khi giàu".

Thực trạng hiện nay cho thấy, trong tổng số hơn 11 triệu người từ 60 tuổi trở lên, chỉ có khoảng 2,3 triệu người hưởng lương hưu và khoảng 1,3 triệu người nhận trợ cấp xã hội, trong khi còn tới gần 7 triệu người già không có nguồn thu nhập ổn định. Nhằm giải quyết căn cơ bài toán bảo đảm an sinh, luận văn tập trung nghiên cứu so sánh đối chiếu hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi giữa Việt Nam với hai quốc gia tiêu biểu trong khu vực châu Á là Nhật Bản và Trung Quốc. Phạm vi nghiên cứu bao quát các quy định pháp luật thực định từ năm 1945 đến năm 2019, tập trung vào Luật Người cao tuổi năm 2009 và Nghị định 136/2013/NĐ-CP của Việt Nam. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện thể chế an sinh, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ bao phủ trợ giúp xã hội lên trên 80% đối tượng người già yếu thế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống lý luận an sinh xã hội hiện đại được chuẩn hóa bởi Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thông qua Công ước số 128 năm 1967 về chế độ mất sức lao động, tuổi già và tử tuất, kết hợp với các khuyến nghị chính sách từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD). Lý thuyết an sinh xã hội đa tầng xác định trợ giúp xã hội là trụ cột lưới đỡ cuối cùng, bảo đảm mức sống tối thiểu bằng nguồn tài chính công cho những người không có tích lũy hoặc không tham gia bảo hiểm xã hội.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tiếp cận vấn đề dưới góc độ quyền con người dựa trên Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 và các Nghị quyết 47/5, 48/98 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về bảo vệ người cao tuổi. Bốn khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa xuyên suốt đề tài bao gồm:

  • Người cao tuổi: Công dân từ đủ 60 tuổi trở lên theo luật định Việt Nam và Trung Quốc, hoặc từ đủ 65 tuổi theo tiêu chuẩn y tế của WHO và pháp luật Nhật Bản.
  • Trợ giúp xã hội: Các chính sách hỗ trợ bằng tiền mặt hoặc dịch vụ công phi đóng góp từ ngân sách nhà nước và cộng đồng.
  • Pháp luật trợ giúp xã hội: Hệ thống quy phạm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong việc bảo đảm điều kiện sinh kế tối thiểu cho nhóm yếu thế.
  • Mức chuẩn nghèo đa chiều: Thước đo xác định đối tượng thụ hưởng với mức thu nhập bình quân từ 700.000 đồng/tháng tại nông thôn đến 1.000.000 đồng/tháng tại thành thị theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016–2020.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ 15 văn bản quy phạm pháp luật chủ chốt của 3 quốc gia cùng hệ thống số liệu thứ cấp đáng tin cậy từ Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Cỡ mẫu nghiên cứu pháp lý bao gồm 3 hệ thống pháp luật đại diện cho 3 mô hình nhân khẩu học và kinh tế: Nhật Bản (quốc gia có dân số siêu già với tỷ lệ phụ thuộc 46,8%), Trung Quốc (quốc gia có thể chế tương đồng với 143,86 triệu người cao tuổi), và Việt Nam (quốc gia đang trong thời kỳ già hóa nhanh).

Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng nhằm lựa chọn các đạo luật cốt lõi gồm Luật Phúc lợi Người cao tuổi năm 1963 của Nhật Bản, Luật Đảm bảo Quyền lợi Người cao tuổi năm 1996 (sửa đổi năm 2015) của Trung Quốc và Luật Người cao tuổi năm 2009 của Việt Nam. Phương pháp so sánh luật học (Comparative Law) kết hợp với phương pháp phân tích quy phạm và tổng hợp thống kê được lựa chọn làm công cụ chủ đạo. Việc kết hợp này giúp tác giả bóc tách từng chế định, đánh giá mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam trên trục thời gian nghiên cứu từ năm 1945 đến năm 2019, từ đó đưa ra các dự báo khoa học sát thực với thực tiễn già hóa dân số.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự khác biệt rõ rệt về độ tuổi xác định người cao tuổi và tiêu chí thụ hưởng trợ giúp xã hội. Nhật Bản quy định mốc tuổi già là từ đủ 65 tuổi để giảm bớt áp lực ngân sách khi tỷ lệ người cao tuổi phụ thuộc lên tới 46,8%. Trong khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đều áp dụng mốc từ đủ 60 tuổi, phù hợp với tuổi thọ bình quân và điều kiện lao động thực tế (tỷ lệ phụ thuộc tại Trung Quốc là 16,5% và Việt Nam là 11,0%).

Thứ hai, điều kiện xét duyệt trợ cấp của Việt Nam còn mang tính cứng nhắc và khép kín hơn so với quốc tế. Tại Việt Nam, công dân từ đủ 80 tuổi trở lên chỉ được hưởng trợ cấp xã hội khi không có bất kỳ khoản lương hưu hay trợ cấp bảo hiểm xã hội nào. Ngược lại, Luật Bảo đảm Cuộc sống năm 1950 của Nhật Bản và Pháp lệnh 649 năm 2014 của Trung Quốc cho phép người cao tuổi dù đã có lương hưu vẫn được nhận trợ cấp bổ sung nếu tổng thu nhập thực tế chưa đạt chuẩn mức sống tối thiểu.

Thứ ba, mức chuẩn trợ cấp xã hội của Việt Nam còn rất thấp so với chi phí sinh hoạt thực tế. Mức chuẩn 270.000 đồng/tháng theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP với hệ số 1,0 chỉ tương đương khoảng 27,0% chuẩn nghèo thành thị (1.000.000 đồng) và 38,5% chuẩn nghèo nông thôn (700.000 đồng). Người cao tuổi từ đủ 60 đến dưới 80 tuổi diện hộ nghèo không có người phụng dưỡng nhận mức trợ cấp hệ số 1,5 (tương đương 405.000 đồng/tháng), chưa bảo đảm đủ dinh dưỡng cơ bản và thuốc men điều trị các bệnh mãn tính.

Thứ tư, nguồn lực tài chính và cơ chế xã hội hóa tại Việt Nam còn phụ thuộc lớn vào bầu sữa ngân sách. Trong khi Nhật Bản phân bổ chi phí dựa trên Luật Bảo hiểm Điều dưỡng năm 2000 kết hợp 50% ngân sách công và 50% đóng góp bảo hiểm, Trung Quốc hỗ trợ kinh phí trực tiếp cho các viện dưỡng lão tư nhân từ nguồn thu xổ số phúc lợi, thì tại Việt Nam, hơn 85% chi phí trợ cấp xã hội phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách nhà nước, dẫn đến tình trạng quá tải nguồn lực cục bộ.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh sự chênh lệch lớn về mức độ phát triển kinh tế và năng lực tài khóa giữa các nước. Nhật Bản mất hơn 56 năm để xây dựng và tinh chỉnh hệ sinh thái an sinh xã hội hoàn chỉnh, trong khi Việt Nam mới chỉ thực sự định hình khung pháp lý trợ cấp toàn diện từ năm 2013 qua Nghị định 136/2013/NĐ-CP. Việc so sánh dữ liệu qua các biểu đồ phân tích cơ cấu dân số và bảng đối chiếu mức chuẩn trợ cấp/thu nhập bình quân đầu người cho thấy rõ khoảng trống an sinh rất lớn tại Việt Nam đối với nhóm người cao tuổi từ 60 đến 79 tuổi không thuộc diện hộ nghèo nhưng không có lương hưu.

Kết quả này hoàn toàn tương thích với các báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 2014 về tình trạng thiếu hụt tầng an sinh phổ quát tại các nước đang phát triển. Việc học hỏi mô hình trợ cấp có điều kiện bù đắp của Trung Quốc và đa dạng hóa nguồn tài chính của Nhật Bản là chìa khóa then chốt để Việt Nam tránh khỏi bẫy khủng hoảng an sinh trong 10–20 năm tới khi quy mô người già vượt mốc 20 triệu người.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Hạ độ tuổi hưởng trợ cấp xã hội cho người cao tuổi không có lương hưu: Đề xuất Quốc hội sửa đổi Luật Người cao tuổi năm 2009, hạ độ tuổi hưởng trợ cấp xã hội không điều kiện thu nhập từ đủ 80 tuổi xuống 75 tuổi trong giai đoạn 2021–2025, và tiếp tục hạ xuống 70 tuổi đến năm 2030. Giải pháp này giúp mở rộng diện bao phủ an sinh cho thêm khoảng 1,5 đến 2,0 triệu người cao tuổi. Chủ thể thực hiện: Quốc hội, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

  • Điều chỉnh tăng mức chuẩn trợ cấp xã hội định kỳ: Nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội từ 270.000 đồng/tháng lên mức tối thiểu bằng 50–70% chuẩn nghèo nông thôn (khoảng 500.000 – 700.000 đồng/tháng) và áp dụng cơ chế tự động điều chỉnh theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) với chu kỳ 3 năm một lần. Chủ thể thực hiện: Chính phủ, Bộ Tài chính.

  • Áp dụng nguyên tắc trợ cấp bù đắp thu nhập tối thiểu: Thay đổi cơ chế xét duyệt trợ cấp từ "loại trừ tuyệt đối" sang "bổ sung phần thiếu hụt", cho phép người già nhận lương hưu thấp hoặc trợ cấp tàn tật dưới mức sống tối thiểu được nhận khoản bù chênh lệch từ ngân sách, học tập quy định của Nhật Bản và Trung Quốc. Chủ thể thực hiện: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

  • Ban hành gói chính sách ưu đãi thúc đẩy xã hội hóa cơ sở chăm sóc: Áp dụng mức thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10% trong 15 năm, miễn tiền thuê đất và hỗ trợ 30% kinh phí xây dựng ban đầu cho các doanh nghiệp, tổ chức xã hội đầu tư trung tâm dưỡng lão, nhà dưỡng lão bán trú tại cộng đồng trước năm 2025. Chủ thể thực hiện: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Y tế, Bộ Tài chính.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan hoạch định chính sách và cơ quan lập pháp: Các chuyên gia thuộc Ủy ban Xã hội của Quốc hội, Vụ Bảo trợ Xã hội (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) sử dụng cơ sở dữ liệu so sánh để phục vụ việc sửa đổi Luật Người cao tuổi và các nghị định hướng dẫn.
  • Giảng viên và nghiên cứu sinh ngành luật, an sinh xã hội: Giảng viên tại các cơ sở đào tạo luật học (Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - ĐHQGHN) sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên sâu cho môn học Luật An sinh xã hội, Luật So sánh và Quản lý công.
  • Cán bộ thực thi chính sách tại các địa phương: Lãnh đạo và chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã tham khảo để nắm vững nguyên tắc, hệ số hưởng và phương pháp xác định đối tượng trợ cấp chính xác.
  • Các tổ chức phi chính phủ và viện nghiên cứu quốc tế: Các tổ chức như HelpAge International, UNFPA, ILO tại Việt Nam khai thác số liệu phân tích để xây dựng các chương trình tài trợ và dự án phát triển cộng đồng người cao tuổi.

Câu hỏi thường gặp

Độ tuổi người cao tuổi được pháp luật Việt Nam quy định là bao nhiêu?
Theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009, người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Mốc 60 tuổi phù hợp với thực tiễn sinh học, tuổi thọ trung bình và hệ thống pháp luật lao động của nước ta, tương tự như quy định của Trung Quốc.

Mức chuẩn trợ cấp xã hội hàng tháng cho người cao tuổi hiện nay là bao nhiêu?
Theo Điều 4 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, mức chuẩn trợ cấp xã hội là 270.000 đồng/tháng. Tùy thuộc vào đối tượng cụ thể (độ tuổi, tình trạng hộ nghèo, mức độ cô đơn), mức hưởng thực tế sẽ bằng mức chuẩn nhân với hệ số từ 1,0 đến 1,5 hoặc cao hơn theo quyết định của từng tỉnh.

Sự khác biệt lớn nhất giữa pháp luật trợ giúp xã hội của Việt Nam và Nhật Bản là gì?
Nhật Bản xác định người cao tuổi từ 65 tuổi và cho phép người có lương hưu thấp vẫn được nhận trợ cấp nếu thu nhập dưới mức sống tối thiểu. Ngược lại, Việt Nam xác định mốc 60 tuổi và quy định loại trừ đối với người từ đủ 80 tuổi nếu họ đã có bất kỳ khoản lương hưu nào.

Người từ đủ 80 tuổi tại Việt Nam cần đáp ứng điều kiện gì để hưởng trợ cấp xã hội?
Theo Khoản 2 Điều 17 Luật Người cao tuổi năm 2009, công dân từ đủ 80 tuổi trở lên không thuộc diện hộ nghèo sẽ được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng (hệ số 1,0) với điều kiện họ không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội hàng tháng.

Việt Nam có thể học tập được kinh nghiệm gì từ mô hình an sinh của Trung Quốc?
Việt Nam có thể tiếp thu mô hình phân cấp ngân sách linh hoạt theo từng địa phương, khuyến khích chính quyền các tỉnh tự cân đối nâng mức chuẩn trợ cấp cho người trên 80 tuổi và cơ chế trợ giúp đột xuất cho gia đình nhận chăm sóc người già tại cộng đồng theo Pháp lệnh 649 năm 2014.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quyền an sinh xã hội và pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi trong điều kiện già hóa dân số nhanh chóng.
  • Phân tích sâu sắc điểm tương đồng và khác biệt trong quy định pháp luật giữa Việt Nam, Nhật Bản và Trung Quốc về đối tượng, chế độ, nguồn tài chính và quản lý nhà nước.
  • Chỉ rõ những điểm nghẽn của pháp luật Việt Nam: mức chuẩn trợ cấp 270.000 đồng còn thấp, độ tuổi hưởng trợ cấp xã hội 80 tuổi còn cao và cơ chế xét duyệt còn mang tính loại trừ.
  • Đề xuất lộ trình 4 bước hoàn thiện chính sách giai đoạn 2021–2030 nhằm hạ độ tuổi thụ hưởng xuống 75 và 70 tuổi, nâng mức trợ cấp tiệm cận chuẩn nghèo và đẩy mạnh xã hội hóa viện dưỡng lão.
  • Tài liệu mang giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp tích cực vào tiến trình đổi mới thể chế an sinh xã hội tại Việt Nam. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý quan tâm có thể tiếp tục khai thác chuyên sâu công trình để ứng dụng vào công tác lập pháp và giảng dạy thực tế.