So sánh pháp luật Việt Nam và châu Á về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi

Luận văn thạc sĩ so sánh pháp luật Việt Nam và một số nước châu Á về trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, phân tích và đánh giá hiệu quả.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2019

95
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI VÀ PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI

1.1. Người cao tuổi và trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.2. Người cao tuổi

1.3. Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.4. Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.4.1. Khái niệm pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.4.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.4.3. Nội dung pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

1.4.4. Vai trò của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

2. CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI CỦA VIỆT NAM VÀ NHẬT BẢN, TRUNG QUỐC DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

2.1. Đối tượng người cao tuổi được trợ giúp xã hội

2.2. Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh

2.3. Việt Nam và Trung Quốc dưới góc nhìn so sánh

2.4. Các chế độ trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

2.4.1. Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh

2.4.2. Việt Nam và Trung Quốc dưới góc nhìn so sánh

2.5. Nguồn tài chính thực hiện trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

2.5.1. Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh

2.5.2. Việt Nam và Trung Quốc dưới góc nhìn so sánh

2.6. Quản lý nhà nước về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

2.6.1. Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh

2.6.2. Việt Nam và Trung Quốc dưới góc nhìn so sánh

2.7. Khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong lĩnh vực trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

2.7.1. Việt Nam và Nhật Bản dưới góc nhìn so sánh

2.7.2. Việt Nam và Trung Quốc dưới góc nhìn so sánh

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ VIỆC SO SÁNH VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI Ở VIỆT NAM

3.1. Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Việt Nam và Nhật Bản, Trung Quốc

3.2. Những ưu điểm trong quy định của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Nhật Bản, Trung Quốc

3.3. Những bất cập trong quy định của pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Việt Nam

3.4. Giải pháp hoàn thiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi tại Việt Nam

Pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi tại Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể trong những năm qua. Từ những quy định trong Hiến pháp năm 1946 đến Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, hệ thống pháp luật này đã dần hoàn thiện nhằm bảo vệ quyền lợi của người cao tuổi. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết để đảm bảo quyền lợi cho nhóm đối tượng này.

1.1. Khái niệm và vai trò của pháp luật trợ giúp xã hội

Pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi không chỉ là một bộ quy định mà còn là công cụ bảo vệ quyền lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi. Điều này bao gồm việc cung cấp các dịch vụ y tế, hỗ trợ tài chính và các chương trình giáo dục.

1.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật trợ giúp xã hội

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật trợ giúp xã hội bao gồm sự công bằng, tính toàn diện và sự tham gia của cộng đồng. Những nguyên tắc này đảm bảo rằng mọi người cao tuổi đều có quyền được hưởng các dịch vụ trợ giúp xã hội.

II. So sánh pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi giữa Việt Nam và Nhật Bản

Nhật Bản là một trong những quốc gia có hệ thống pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi phát triển nhất. So với Việt Nam, Nhật Bản đã có những quy định rõ ràng và cụ thể hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của người cao tuổi. Điều này tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho người cao tuổi tại Nhật Bản.

2.1. Các chế độ trợ giúp xã hội tại Nhật Bản

Nhật Bản có nhiều chế độ trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, bao gồm trợ cấp tài chính, dịch vụ chăm sóc tại nhà và các chương trình hỗ trợ sức khỏe. Những chế độ này được thiết kế để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người cao tuổi.

2.2. Điểm khác biệt trong quy định pháp luật

Một trong những điểm khác biệt lớn giữa Việt Nam và Nhật Bản là cách thức quản lý và thực thi pháp luật. Nhật Bản có hệ thống giám sát và đánh giá hiệu quả cao hơn, giúp đảm bảo quyền lợi cho người cao tuổi.

III. Thách thức trong việc thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội tại Việt Nam

Mặc dù đã có nhiều cải cách, nhưng việc thực hiện pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi tại Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu nguồn lực tài chính, sự thiếu hiểu biết của người dân về quyền lợi của họ, và sự phân bổ không đồng đều các dịch vụ trợ giúp xã hội là những vấn đề cần được giải quyết.

3.1. Thiếu nguồn lực tài chính

Nguồn lực tài chính cho các chương trình trợ giúp xã hội còn hạn chế, dẫn đến việc không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người cao tuổi. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của họ.

3.2. Sự thiếu hiểu biết về quyền lợi

Nhiều người cao tuổi vẫn chưa nắm rõ quyền lợi của mình theo pháp luật, dẫn đến việc họ không thể yêu cầu trợ giúp khi cần thiết. Cần có các chương trình tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho người cao tuổi.

IV. Giải pháp hoàn thiện pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi tại Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả của pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi, Việt Nam cần thực hiện một số giải pháp như tăng cường nguồn lực tài chính, cải thiện hệ thống quản lý và nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền lợi của người cao tuổi.

4.1. Tăng cường nguồn lực tài chính

Cần có các chính sách tài chính hợp lý để đảm bảo đủ nguồn lực cho các chương trình trợ giúp xã hội. Điều này bao gồm việc tăng cường ngân sách nhà nước và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội.

4.2. Cải thiện hệ thống quản lý

Cần xây dựng một hệ thống quản lý hiệu quả hơn để giám sát và đánh giá các chương trình trợ giúp xã hội. Điều này sẽ giúp đảm bảo rằng các dịch vụ được cung cấp đúng đối tượng và đạt chất lượng cao.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi

Pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi tại Việt Nam đang trong quá trình hoàn thiện. Với những nỗ lực cải cách và sự quan tâm của xã hội, hy vọng rằng trong tương lai, người cao tuổi sẽ được hưởng nhiều quyền lợi hơn và có cuộc sống tốt đẹp hơn.

5.1. Tương lai của chính sách trợ giúp xã hội

Chính sách trợ giúp xã hội cho người cao tuổi cần được điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế và nhu cầu của người cao tuổi. Điều này sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhóm đối tượng này.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc hỗ trợ người cao tuổi

Cộng đồng cần đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ người cao tuổi, từ việc cung cấp thông tin đến việc tham gia vào các chương trình trợ giúp xã hội. Sự tham gia của cộng đồng sẽ tạo ra một môi trường sống tốt hơn cho người cao tuổi.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls so sánh pháp luật việt nam và pháp luật một số nước châu á về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi và pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi; Chương 2: Pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi của Việt Nam và Nhật Bản, Trung Quốc dưới góc độ so sánh; Chương 3: Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh và giải pháp hoàn thiện pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI VÀ PHÁP LUẬT TRỢ GIÚP XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI CAO TUỔI 1. Ngƣời cao tuổi và trợ giúp xã hội đối với ngƣời cao tuổi 1. Người cao tuổi 1.

Khái niệm người cao tuổi Hiện nay, có rất nhiều thuật ngữ để chỉ người cao tuổi như: Người cao tuổi (older persons), người già (the aged), người cao niên (the ageing),… trong đó thuật ngữ người cao tuổi (older persons) chính thức được sử dụng trong các Nghị quyết 47/5 và 48/98 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc [26, Tr.172], và trở thành phổ biến trong các văn kiện của các tổ chức quốc tế cũng như các quốc gia. Khái niệm người cao tuổi được nghiên cứu dưới những góc độ sau đây: Dưới góc độ y học, người cao tuổi là người ở giai đoạn gắn liền với sự suy giảm các chức năng của cơ thể. Khi đó, con người xuất hiện các biểu hiện suy giảm các chức năng tâm lý, sinh lý và các chức năng lao động. Quá trình đồng hóa giảm đi, quá trình dị hóa tăng lên theo tuổi tác, quá trình trao đổi chất giảm.

Dựa vào những đặc điểm này, Tổ chức y tế thế giới (WHO) cho rằng người cao tuổi là người từ 65 tuổi trở lên [46]. Dưới góc độ kinh tế - xã hội, người cao tuổi là người về cơ bản đã hết khả năng lao động và cần được nghỉ ngơi. Theo ILO, trong Công ước số 128 về chế độ mất sức lao động, tuổi già và tử tuất (năm 1967), tại Điều 15 quy định độ tuổi được coi là tuổi già hưởng chế độ hưu trí là “độ tuổi không quá 65 tuổi hoặc cao hơn nhưng có thể được ấn định bởi cơ quan có thẩm quyền liên quan đến nhân khẩu học, các tiêu chuẩn về kinh tế và xã hội, sẽ được thể hiện qua thống kê của các quốc gia”. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dưới góc độ pháp lý, người cao tuổi là người trong độ tuổi mà pháp luật về người cao tuổi xác định.

Quy định độ tuổi người cao tuổi phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế - xã hội, tình trạng dân số và tuổi thọ trung bình của các quốc gia, vì thế khái niệm này có thể thay đổi tùy từng thời kỳ và khác nhau ở các quốc gia. Ở các nước có hệ thống y tế chăm sóc sức khoẻ tốt, điều kiện kinh tế - xã hội phát triển thì sức khoẻ người dân tốt hơn, tuổi thọ cao hơn, biểu hiện của sự lão hoá đến muộn hơn nên xác định người cao tuổi ở độ tuổi cao hơn. Ví dụ, các quốc gia như Bỉ, Na Uy, Ai Len,… quy định người cao tuổi là người trên 67 tuổi. Các nước như Đức, Hà Lan, Hoa Kỳ,… quy định người cao tuổi là người từ đủ 65 tuổi trở lên.

Ở các nước đang phát triển như Việt Nam, Trung Quốc,… quy định người cao tuổi là người từ đủ 60 tuổi trở lên,. Ở phạm vi quốc tế, cho đến thời điểm này vẫn chưa có tiêu chuẩn thống nhất về xác định người cao tuổi cho các quốc gia. Tuy nhiên Tổ chức Liên hợp quốc chấp nhận mốc để xác định dân số già là từ 60 tuổi trở lên, trong đó phân ra làm ba nhóm: Sơ lão (từ 60 đến 69 tuổi), trung lão (từ 70 đến 79 tuổi) và đại lão (từ 80 tuổi trở lên) [39, Tr. Ở Việt Nam, trong khoa học pháp lý, khái niệm người cao tuổi được sử dụng và hiểu khác nhau giữa các ngành.

Cụ thể, theo Điều 166 và Điều 187 Bộ luật lao động năm 2012 sử dụng thuật ngữ “người lao động cao tuổi”, theo đó, người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi 60 đối với nam, sau 55 tuổi đối với nữ. Bộ luật Hình sự năm 2015 theo Điều 124, 140, 157, thuật ngữ “người già yếu” được hiểu là người từ 70 tuổi trở lên [30], theo Điều 64 “người quá già yếu” là người từ 70 tuổi trở lên hoặc người 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên đau ốm. Ở phạm vi luật chuyên ngành về người cao tuổi, khái niệm người cao tuổi được quy định trại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009. Theo đó “Người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”.

12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, người cao tuổi Việt Nam là người có quốc tịch theo Luật quốc tịch Việt Nam, không phân biệt thành phần xã hội, dân tộc, giới tính, tôn giáo, nơi sinh sống,… từ đủ 60 tuổi trở lên. Với việc sử dụng thuật ngữ và xác định mốc tuổi này, Luật Người cao tuổi năm 2009 về cơ bản phù hợp với quy định của Tổ chức Liên hợp quốc và đặc điểm sinh học, quá trình lão hoá, tuổi thọ và đời sống của người Việt Nam hiện nay, từ đó tạo cơ sở về mặt lý luận để Đảng và Nhà nước hoạch định các chính sách pháp luật trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi. Đặc điểm của người cao tuổi Người cao tuổi là người từ 60 tuổi trở lên có sức khoẻ về mặt thể chất và tinh thần ngày càng suy giảm. Sự lão hoá của các bộ phận, chức năng trong cơ thể là điều kiện để bệnh tật dễ phát sinh và phát triển nên người cao tuổi có nguy cơ mắc bệnh cao hơn, đặc biệt là các bệnh mãn tính, như: bệnh về tim mạch và huyết áp; bệnh về xương khớp; các bệnh về hô hấp; các bệnh về răng miệng; các bệnh về dinh dưỡng và đường tiêu hóa [27].

Ngoài ra, người cao tuổi có thể mắc nhiều bệnh trong cùng một thời điểm, và khi mắc bệnh, việc điều trị cũng lâu hơn các nhóm tuổi khác. Người cao tuổi là người có tâm lý luôn thay đổi. Theo các nghiên cứu về tâm lý học, người cao tuổi còn có đặc điểm về tâm lý thường thấy là họ có triệu chứng của bệnh trầm cảm, mất trí nhớ, trở thành người trái tính,… Tâm lý của người cao tuổi lúc này sẽ trở nên giống với tâm lý của một đứa trẻ, rất muốn được nhiều người quan tâm tới mình. Người cao tuổi có thu nhập ngày càng thấp do bị suy giảm dần khả năng lao động.

Thể lực và trí lực giảm sút khiến họ khó khăn trong thực hiện các công việc lao động sản xuất kinh doanh. Theo đó, khi tuổi càng tăng, thì thu nhập của người cao tuổi càng thấp hoặc không có thu nhập. Vì thế, người cao tuổi hiện nay thuộc nhóm cư dân nghèo nhất trong các nhóm nghèo và 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đây là vấn đề thách thức rất lớn đối với người cao tuổi [28, tr. Người cao tuổi hạn chế tham gia các hoạt động xã hội do tuổi cao, sức yếu.

Các cơ quan vận động, cơ quan thị giác, thính giác bị lão hoá sâu nên người cao tuổi dần hạn chế khả năng đi lại, giao tiếp và thụ hưởng những thành quả của sự phát triển văn hoá xã hội. Ngoài ra, việc tham gia hoạt động xã hội của người cao tuổi còn tuỳ thuộc vào sự phát triển về đời sống văn hoá xã hội, truyền thống của từng quốc gia và từng vùng/miền/địa phương. Như vậy, do quá trình lão hoá, tâm sinh lý thay đổi nên đa số người cao tuổi đều có sức khoẻ yếu, thường xuyên ốm đau, bệnh tật và không còn tham gia lao động sản xuất kinh doanh hoặc có tham gia nhưng thu nhập thấp. Nếu không có nguồn tích luỹ, không có lương hưu, trợ cấp xã hội thì người cao tuổi sẽ vô cùng khó khăn trong bảo đảm đời sống hàng ngày và chăm sóc sức khoẻ khi bị ốm đau, bệnh tật.

Trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi 1. Khái niệm trợ giúp xã hội đối với người cao tuổi Trợ giúp xã hội là một trong ba trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội, thực hiện chức năng trợ giúp bộ phận dân cư yếu thế tồn tại, vươn lên thoát khó khăn để có thể hòa nhập, tái hòa nhập đời sống xã hội. Tùy từng quốc gia khác nhau và trình độ phát triển kinh tế xã hội khác nhau mà các quốc gia quy định nhóm các đối tượng yếu thế thuộc diện điều chỉnh của hệ thống chính sách trợ giúp xã hội, do vậy mà cũng đưa ra các khái niệm, thuật ngữ khác nhau về trợ giúp xã hội. Theo tổ chức lao động quốc tế (International labour Orgarnisation - ILO), trợ giúp xã hội là những chính sách, các chế độ trợ giúp của nhà nước và do ngân sách nhà nước đảm bảo để duy trì thu nhập của những người không có nguồn thu nhập từ Quỹ bảo hiểm, cũng như nâng mức thu nhập của những người đã có thu nhập từ Quỹ bảo hiểm nhưng tổng thu nhập cá nhân vẫn chưa đạt mức sống tối thiểu đảm bảo nhu cầu cơ bản của con người [47].

14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khái niệm theo Tổ chức lao động quốc tế chỉ đề cập đến một chủ thể Nhà nước trong việc đảm bảo các chính sách trợ giúp xã hội, chưa đề cập đến trợ giúp xã hội phi chính thức hay trợ giúp xã hội truyền thống và sự tham gia của các đối tác xã hội (cộng đồng, cá nhân, các tổ chức chính trị xã hội khác,. Đối tượng thuộc diện trợ giúp xã hội không chỉ là những cá nhân không có nguồn thu nhập ổn định, không thuộc diện điều chỉnh của các quỹ bảo hiểm mà còn đề cập đến các cá nhân có nguồn thu nhập ổn định thuộc diện điều chỉnh của các quỹ bảo hiểm nhưng chưa đạt được mức sống tối thiểu căn cứ cứ xác định mức trợ giúp. Căn cứ xác định mức trợ giúp theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế là mức sống tối thiểu, theo đó, nhà nước sẽ thực hiện các biện pháp trợ giúp xã hội khác nhau căn cứ vào mức thiếu hụt thực tế so với mức sống tối thiểu của các nhóm đối tượng xã hội khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "So sánh pháp luật trợ giúp xã hội cho người cao tuổi giữa Việt Nam và một số nước châu Á" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chính sách và quy định liên quan đến trợ giúp xã hội cho người cao tuổi tại Việt Nam và so sánh với một số quốc gia châu Á. Tài liệu này không chỉ nêu bật những điểm mạnh và điểm yếu trong hệ thống pháp luật hiện tại mà còn chỉ ra những bài học kinh nghiệm từ các nước khác, từ đó giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người cao tuổi tại Việt Nam.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích, chẳng hạn như cách thức mà các chính sách trợ giúp xã hội có thể được cải thiện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người cao tuổi. Để mở rộng thêm kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Pháp luật về trợ giúp xã hội từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, nơi cung cấp cái nhìn thực tiễn về việc áp dụng pháp luật trong một khu vực cụ thể. Ngoài ra, tài liệu Luận văn sự già hóa dân số và các vấn đề chăm sóc người cao tuổi ở đô thị nghiên cứu trường hợp thành phố Hồ Chí Minh sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thách thức và giải pháp trong việc chăm sóc người cao tuổi tại các đô thị lớn. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh lồng ghép giới trong xây dựng và triển khai thực hiện chính sách trợ giúp người cao tuổi ở Việt Nam sẽ mang đến cái nhìn sâu sắc về việc tích hợp giới trong các chính sách trợ giúp xã hội.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp những góc nhìn đa dạng về vấn đề chăm sóc người cao tuổi, giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực này.