Chương 1 : Một số vấn đề lý luận chung về điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ; - Chương 2: Điều khoản hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ của Liên minh Châu Âu và Việt Nam từ cách tiếp cận Luật so sánh. - Chương 3: Định hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về điều khoản thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ từ kết quả nghiên cứu so sánh. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐIỀU KHOẢN HẠN CHẾ CẠNH TRANH TRONG HỢP ĐỒNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ 1.1 Quyền sở hữu trí tuệ và hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ 1.1 Quyền sở hữu trí tuệ và đối tƣợng của quyền sở hữu trí tuệ Theo giải thích của WIPO trong một tài liệu có tên “Quyền sở hữu trí tuệ là gì”, quyền SHTT cũng giống như các quyền với tài sản khác. Nó cho phép người sáng tạo ra, hay người sở hữu sáng chế, nhãn hiệu hay tác phẩm được bảo hộ hưởng lợi ích trên công trình của mình hay việc đầu tư vào quá trình sáng tạo.
Các quyền này đã được nêu ra và ghi nhận tại Điều 27 của Tuyên bố Toàn cầu về Nhân quyền, quy định về quyền hưởng lợi từ việc bảo hộ các quyền nhân thân và quyền tài sản của các tác giả các tác phẩm khoa học, văn học hay nghệ thuật. Tầm quan trọng của SHTT cũng như một số đối tượng của quyền SHTT được ghi nhận lần đầu tiên tại các văn bản có tính toàn cầu là Công ước Paris về quyền sở hữu công nghiệp năm 1883 và Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật năm 1886. Tương tự như vậy, WTO định nghĩa quyền SHTT là các quyền trao cho cá nhân hay tổ chức đối với kết quả của việc sáng tạo trí óc của họ. Quyền SHTT cho phép người sáng tạo quyền độc quyền trong việc sử dụng sản phẩm sáng tạo của mình trong một thời gian nhất định.[26] Điều 1226, Phần IV, Bộ luật dân sự của Cộng hòa Liên bang Nga lại quy định: Quyền SHTT được công nhận trên cơ sở kết quả của hoạt động trí tuệ và sự cá biệt hóa các kết quả của hoạt động đó, bao gồm quyền độc quyền tức 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là quyền sở hữu; và trong các trường hợp được quy định bởi Bộ luật này, cũng là các quyền sử dụng cá nhân và các quyền khác (quyền cho tác giả tác phẩm, quyền tiếp cận và các quyền khác) Pháp luật Việt Nam quy định tại khoản 1, Điều 4 Luật SHTT về Quyền sở hữu trí tuệ như sau: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” Như vậy, mặc dù không hoàn toàn đồng nhất song các quốc gia và các tổ chức trên thế giới đều có quan niệm chung rằng, quyền SHTT (cũng giống như các quyền đối với tài sản khác) là các quyền dành cho người (bao gồm cả tổ chức, cá nhân) đối với các tác phẩm, sự sáng tạo hay sự cá biệt hóa, đặc biệt là quyền độc quyền sử dụng, và thường là trong một thời gian nhất định.
Theo quy định của luật Việt Nam, quyền SHTT là một loại quyền tài sản, điều đó có nghĩa là quyền SHTT cũng là một loại tài sản, có thể định giá được và có thể tham gia vào các giao dịch dân sự. Tương tự với các loại tài sản khác, pháp luật dành cho chủ thể của quyền SHTT quyền sở hữu tối cao và quyền ngăn cấm người khác sử dụng quyền SHTT của mình. Đây cũng là chế độ pháp lý dành cho quyền SHTT mà đa số các nước áp dụng. Chế độ pháp lý này được xây dựng dựa trên nền tảng kinh tế hay bản chất kinh tế của quyền SHTT.
Đó là quyền SHTT có tính công cộng cao. Tính công cộng cao của quyền SHTT được thể hiện ở chỗ, quyền SHTT sau khi được công bố có thể được sử dụng với chi phí rất thấp và dễ dàng, ví dụ như việc sao chép một kiểu dáng công nghiệp, một phần mềm máy tính.Vì lý do đó, chỉ có việc bảo vệ và trao quyền độc quyền sử dụng cho chủ thể của quyền SHTT mới có thể thúc đẩy được sự phát triển của sáng tạo và khoa học – công nghệ. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt phân loại, quyền SHTT thường được phân chia thành quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Như đã đề cập, quyền SHTT thường bao gồm 3 loại đối tượng lớn, đó là quyền tác giả và quyền liên quan; quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng.
Cùng với sự phát triển của kinh tế và kỹ thuật, sự phát triển và mở rộng của các đối tượng của quyền SHTT được thể hiện qua thời gian khá dài và được ghi nhận trong các công ước, hiệp ước quốc tế. Công ước Paris là công ước đầu tiên liên quan đến quyền SHTT và đối tượng của quyền SHTT. Công ước Paris ra đời năm 1883 quy định về các quyền sở hữu công nghiệp và đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được Công ước Paris nêu ra bao gồm: sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế hữu ích, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.
Sau này, một đối tượng nữa của quyền sở hữu công nghiệp được bổ sung đó là thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn được quy định và ghi nhận trong Hiệp ước Washington năm 1989 về Sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp Liên quan đến quyền tác giả, năm 1886, Công ước Bern ra đời với mục đích bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật. Đây chính là cơ sở quan trọng để bảo vệ một loại đối tượng quan trọng nữa của quyền SHTT đó chính là quyền tác giả. Cùng với sự phát triển của xã hội, một loại đối tượng nữa của quyền SHTT được ghi nhận đó là quyền liên quan đến quyền tác giả. Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà xuất bản, ghi âm và tổ chức phát sóng là một cơ sở quan trọng để bảo hộ quyền liên quan đến quyền tác giả hiện nay.
Bên cạnh đó cũng phải kể đến Công ước Brussel năm 1974 về bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa, sau này, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin và khoa học máy tính, quyền 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối với phần mềm máy tính, chương trình sưu tập dữ liệu cũng được bổ sung trở thành một đối tượng mới của quyền tác giả; Quyền đối với giống cây trồng được ghi nhận và quy định trong Công ước UPOV năm 1961 về bảo hộ giống cây trồng mới. Trong quá trình hình thành WTO, Hiệp định TRIPs đã ra đời thể hiện sự phát triển của các đối tượng của quyền SHTT dưới góc độ thương mại hóa trong nền kinh tế toàn cầu. Theo ghi nhận của Hiệp định TRIPs, quyền SHTT gồm có: quyền tác giả và quyền liên quan, cũng tại đây, các chương trình máy tính và sưu tập dự liệu được liệt kê vào danh sách những đối tượng thuộc quyền tác giả. Nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, bằng sáng chế, thiết kế bố trí mạch tích hợp, bí mật kinh doanh.
Bên cạnh đó, Hiệp định TRIPs cũng quy định về các phương pháp và biện pháp để thực thi và bảo hộ quyền SHTT. Trên cơ sở các công ước, hiệp ước quốc tế này, các quốc gia đã nội luật hóa các quy định về đối tượng của quyền SHTT tại nước mình. Điều 3, Luật SHTT của Việt Nam quy định các đối tượng của quyền SHTT bao gồm: 1. Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.
Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch. Như vậy, pháp luật Việt Nam đã ghi nhận và bảo hộ đầy đủ các đối tượng của quyền SHTT như đa số các nước trên thế giới. Đây là cơ sở quan 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trọng để bảo hộ quyền của các chủ thể đối với sản phẩm trí tuệ của mình, từ đó góp phần khuyến khích phát triển sáng tạo và khoa học - công nghệ 1.2 Hợp đồng có liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, các đối tượng của quyền SHTT đã trở thành những đối tượng thương mại mang lại lợi nhuận cho những người sở hữu nó bằng cách chuyển giao quyền sử dụng cho người khác.
Từ đó, các loại hợp đồng có liên quan đến quyền SHTT cũng phát triển theo để đáp ứng nhu cầu chuyển giao và nhận chuyển giao này. Luật SHTT của Việt Nam hiện nay quy định hai loại hợp đồng cơ bản có liên quan đến quyền SHTT là Hợp đồng chuyển nhượng quyền SHTT và Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ. Luật chuyển giao công nghệ của Việt Nam lại quy định về hình thức chuyển giao công nghệ như sau: Việc chuyển giao công nghệ được thực hiện thông qua các hình thức sau đây: 1. Hợp đồng chuyển giao công nghệ độc lập; 2.
Phần chuyển giao công nghệ trong dự án hoặc hợp đồng sau đây: a) Dự án đầu tư; b) Hợp đồng nhượng quyền thương mại; c) Hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp; d) Hợp đồng mua bán máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công nghệ; 3. Hình thức chuyển giao công nghệ khác theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Luật thương mại hiện hành của Việt Nam còn quy định về hợp đồng nhượng quyền thương mại.