Chương 1; NHÂN VAT TRONG BOI CẢNH XÃ HỘI CUA TÁC PHẨM. Giới thiệu khái quát : a. Tác giả và tác phẩm : Lỗ Tấn là một nhà vân, nhà wf tưởng, nhà văn hóa vĩ đại của Trung Quốc và Thế giới. Ông có những cống hiển to lớn vào thành tựu của nền văn học hiện đai Trang Quốc.
Lỗ Tấn tên thật là Chu Thụ Nhân sinh ngày 25-9-1881 tại huyện Thiệu Hưng tỉnh Chiết Giang và mất ngày 19-10-1936. Với 56 năm cuộc đời, ông đã để lại một đi sản van hóa lớn, một tấm gương lao động nghề thuật cao quý, một nhân cách đáng khâm phục. Một trong những tác phẩm lớn nhất và trị giá nhất của Lễ Tấn đã khẳng định vị tí và lên tuổi của ông trên văn đàn Trung Quốc và Thế giới là tác phẩm : “AQ Chính Truyện ” viết tháng 12-1921 dang trên tờ ; “ Thén báo” với bút danh là Ba Nhân.Tác phẩm: nổi bật nhất trong rất nhiều truyện ngắn và tạp văn khác của Lỗ Tấn. Đặt vấn để tìm hiểu tác phẩm này tức là ta đã đi vào tìm hiểu những đóng góp to lớn cửa Lỗ Tấn vào nền văn hoc Trung Quốc như lời chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói đến trong tác phẩm “Li luận cách mạng bàn về chủ nghĩa dân chủ mới ”: “Lỗ Tấn là chủ tướng của cách mạng văn hóa Trung Quốc, ông không những là nhà văn vĩ đại mà còn là một nhà tư tường vĩ đại và nhà cách mạng vĩđại.
Lỗ Tấn là người rất cứng cdi ông không có chút nào mềm yếu và chịu làm tôi tớ kè khác. Đó là phẩm chất qui báu của nhà văn các nước thuộc địa, nửa thuộc địa. Trên mặt trận văn hóa Lb Tấn là bậc anh hùng đúng ddn nhất, dũng cảm nhất, kiên quyết nhất, trung thực nhất, nhiệt thành nhất chưa từng có xưa nay, ông đại biểu cho đa số của toàn dân tộc xung phong hãm trận quân địch. Hướng di của lỗ tấn là hướng đi của nền văn hóa mới của dan tộc Trung Hoa "4® (*) Bàn về chú nghĩa dân chủ mới - Mao Trach Đóng tuyển tap (Tap 1Ï) NXB Sư Thật Hà Nội (1959) Nam cao là một nhà văn hiện thực xuất sắc, một cây bút truyện ngắn bậc thầy của nền văn học hiện dai Việt Nam giai đoạn 1930-1945, Ông tên thật là w4n Hữu Tri sinh 29.
10-1915 ở huyện Li Nhân tỉnh Nam Hà. Nam Cao đến với van chương khá sớm, óng bất đầu viểt van từ năm 1936. Thời gian đầu, ông còn làm thơ, soạn kịch nhưng chỉ khi tác phẩm “Chí Ph2o” ra đời (1941) Nam Cao mới khẳng định được tên tuổi của mình và cũng từ đáy hàng loạt truyện ngấn xuất sắc của Nam Cao đã ra đời song không có tác phẩm nào thành công và tiều biểu bằng “Chí Phèo ", tiếc rang Nam Cao đã ngã xuống qúa s8m. Ong đã hy sinh anh ding trên đường di công tác cách mạng khi tuổi đời còn kh trẻ.
khi sức sáng tạo nghệ thuật đang đổi đào va đầy hứa hen. Nam Cao mất tháng [1 - }95] b/ Có hay không sự ảnh hưởng qua lại giữa tư tường sáng tác của Lễ Tấn và Nam Cao ? Dal ra vấn để này làm cơ sở khách quan cho việc nghiền cứu hai tác phẩm tiêu biểu nhất của Lễ Tấn và Nam Cao cũng có cơ sở của nó. That vậy, AQ và Chí Phèo về không gian chỉ cách nhau một đường bién giới giữa hai nước liền kể, nhưng về thời gian họ lại có khoảng cách chào đời đáng kể : 20 năm ở hai thời kì lịch sử khác nhau. Bên cạnh đó, bỏ qua những diéu khập khiểng ta có thể nhân thấy nét tương déng giữa hứng thú sáng tác của Lỗ Tan và Nam Cao : đó là để tài sáng tác vé người trí thức, người phụ nữ mà đặc biệt là niểm say mé khám phá một tip người : người nông dan khốn cùng đến mức tha hóa thành lưu manh mà AQ và Chi Phéo là những điển hình tiều biểu, Khi Gm hiểu hai nhân vat này ta lai thấy có những nét tương đồng rất thú vị vé nguồn gốc, tính cách, bi k ịch cuộc sống wv.
(Tất nhiên nó tổn tại song song với những điểm dị biệt) và vấn để này sẽ được dé cập ở chương sau, Điểm qua những khía cạnh này, ta có thể thấy rằng trong sáng tác nghệ thuật việc ảnh hưởng qua lai về tư tưởng sáng tác là điểu có thể xảy ra nhất là ở những tác phẩm lai có những nét tương đồng về nói dung và nghệ thuật. vấn để đặt ra ở đây là có hay không sư ảnh hưởng qua lại giữa tư tưởng sáng tác của Lễ Tấn và Nam Cao ? Lý giải vấn để này mót cách khách quan phải dưa trên cứ liệu lịch sử. Không thể tách rời nó ra khỏi hoàn cảnh lịch sử và bối cảnh xã hội thực tế. nhân tố con người và thời đai.
Trước hết, ta biết rằng LỖ Tấn được hiết đến è Việt Nam khá muộn. Ong Dang Thai Mai là người đầu tiền ở nước ta giới thiêu thân thế, tư tưởng và sự nghiệp của Lễ Tấn đồng thời dich tác phẩm bất hủ : “AQ chink truyện " đã từng nói : “Lễ Tấn đến Việt Nam tương 6 đối chậm "(` ) Đến khoảng giữa thập kỷ 40 người Việt Nam mới biết một nhà vân vĩ đại ở gắn cạnh mình trong khí đó, LS Tấn đã nổi tiếng ở phương tây từ thập kỷ 20. Nguyên nhần của sự chậm trễ này thì nhiều (cả nguyên nhân khách quan và chủ quan : tình hình chính trị xã hội và cả vé mat văn tự ngôn ngữ). Đến năm 1943 trên tờ “ Thanh Nghị ” Dang Thai Mai đã cho dang bản dich “AQ chính truyện ".
Như vậy, trước những năm 1943 cả những nhà thông kim bác cổ ở Việt Nam cũng không ngờ ở Trung Quốc có một nhà văn vi đại như Lỗ Tấn và nhà văn Nam Cao cũng không nim ngoài quy luật đó. Tác phẩm“ Chí Phèo” được Nam Cao viết (1941) và nhà xuất ban “Đời mới” Cho in cùng năm ấy. Tức là Chí Phèo đã ra đời trước 2 năm khi Nam Cao và độc giả Việt Nam biết đến một Lỗ Tấn vĩ đại với “AQ chính truyện ” và ngược lại ở Trung Quốc thì tên tuổi của Nam Cao cũng chưa hể được biết đến. Vậy nếu cho rằng Nam Cao chịu ảnh hưởng của tư tưởng Lễ Tấn khi viết tác phẩm “Chí Phèo ” thì không có cơ sở và ngược lại Lỗ Tấn chịu anit, Nam Cao là điểu hoàn toàn vô căn cứ (Lễ Tấn mất 1936).
Như vậy, nếu có su tương đồng nào đó về tư tưởng sáng tác, vé mô Up nhân vật có lẽ là do sự gặp gỡ nao đó về dé tài, về hứng thú sáng tạo của hai nhà văn, về nguyên nhân khách quan :“ tình hình xã hội 1930-1945 ở Việt Nam có phần giống với thời Lỗ Tấn"“() ta cũng biết rằng xã hội Trung Quốc và Việt Nam trong hai tác phẩm “AQ chính truyện” và “Chí Phèo ” là hai nhà nước phong kiến nóng nghiệp lạc hau đang bị thực dân - đế quốc cai trị và đàn áp. 2/ Bức tranh nông thôn điển hình Tìm hiểu hai nhân vật van học bất hủ AQ và Chí Phèo, khóng thể tách ra khỏi bối cảnh xã hội mang đậm dấu ấn thời đại. Thật vay, Lỗ Tấn và Nam Cao là những nhà văn hiện thực lớn có niềm hứng thú sáng tác rất giống nhau về để tài người phụ nữ, người trí thức mà đặc biệt và thành công hơn cả là vẻ ‹ người nóng dân khốn cùng đến mức tha hóa thành lưu manh : AQ và Chí Phèo là những minh chứng xác đáng. Viết về để tài người nông dân, di nhién bối cảnh không gian trong tác phẩm chính là xã hội nông thôn.
( ) Lễ Tae - thắn thé và sự nghiệp - Đặng Thai Mai - tác phẩm - NXB Thời dai Hà Nói (1944) € ) Trương Chính - Lễ Tấn - NXB yao hóa Ha No: (1977) Tác phẩm “ AQ chính truyện” va Lỗ Tấn và “Chí Phèo” của Nam Cao với hai nhắn vật chính : AQ và Chí Phèo được xem như là những điển hình văn học và đã khẳng định sự thành cóng to lớn của LS Tấn và Nam Cao. Đạt đến sự thành cong này, xét về phương diện nghề thuật chính là ở khả năng xáy đựng thành cồng nhân vật đạt đến trình độ điển hình hóa. AQ và Chí Phèo là hình ảnh của người nồng dân khốn cùng của xã hội , thưc dan - phong kiến. Dé cho nhân vật của mình có một môi trường.
một mảnh đất để tự do phát triển tính cách, để thể hiện những mâu thudn nội tại mang tầm vóc lịch sử - thời dai. Lỗ Tấn và Nam Cao đã xây đựng nên mảnh đất ấy chính là xã hội nông thôn với làng Mùi của AQ và làng Vũ Dai của Chí Phéo. Lang Mùi (có bản dịch là xóm VỊ trang) và làng Vũ Đại cũng chỉ là những địa danh hư cấu trong tác phẩm văn học nhưng qua ngòi bút của LS Tấn và Nam Cao lai trở thành những bức tranh xã hội thu nhỏ đạt đến giá trị điển hình của xã hội nông thén. Để đạt đến giá trị điển hình nó phải chứa đựng những yếu tố : Phản ánh chân thực cuộc sống nồng thôn,những mối quan hệ mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp nông 4#» và bọn dja chủ, quan lại phong kiến.
số phận của người nông dân. Về những đặc điểm này. làng Mùi và làng Vũ Đại có những nét tương đồng và cả khác biệt thế nhưng vẫn mang giá trị của một xã hội nóng thôn điển hình. Đặt vấn để này làm cơ sở khách quan trong việc tìm hiểu, so sánh hai nhân vật AQ và Chi Phèo trong môt chỉnh thể trọn vẹn.
a) Hình anh làng xã : Làng Mùi hiện lên trong tác phẩm “AQ chính truyện ” nói như lời ông Đặng Thai Mai “cũng là một làng có thé thing” bởi làng có đến thờ Thần, có Chùa thờ Phật. Theo như Lỗ Tấn giới thêu thì “làng Mùi không phải là một làng lớn, chỉ di một lúc là hết. Phía ngoài phần nhiều là ruộng Chiêm, mg non xanh mưới ”. Một làng quê nông thôn cũng như làng vạn làng qué khác trên đất nước Trung Quốc.
Lang Vũ Dai trong tác phẩm “Chi Pho” của Nam Cao cũng là làng nhỏ với đân số không qua hai nghìn, cũng có đình chùa. Địa thế “quần ngư tranh thực ” lại ở rất xa phủ tỉnh. Đó là hình ảnh của một làng qué ở Đồng Bằng Bắc Bộ nước ta trước đây.