Chương 1. Những khái niệm cơ bản và những nhân tố ảnh hưởng đến nếp sống đô thị Hà Nội Chương 2. Nếp sống đô thị Hà Nội thời kì đổi mới từ 1986 đến nay Chương 3. Nếp sống đô thị Hà Nội trong sự so sánh với nếp sống đô thị Seoul và sự biến đổi 5 z CHƢƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN, NHÂN TỐ HÌNH THÀNH VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN NẾP SỐNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI 1.
Những khái niệm cơ bản, nhân tố hình thành nếp sống, vai trò của nếp sống đô thị Để tìm hiểu nếp sống đô thị Hà Nội, trước hết chúng ta phải nắm rõ và phân biệt được những khái niệm về lối sống, mức sống, lẽ sống, nếp sống. Những khái niệm này có quan hệ ràng buộc, chi phối lẫn nhau. Tiếp đó chúng ta cũng cần phải biết nếp sống hình thành ra sao, sự ra đời là do tác động của những nhân tố khách quan, chủ quan nào, nếp sống biểu hiện vai trò của nó đối với cuộc sống của con người ra sao.1 Những khái niệm cơ bản - Khái niệm lối sống là gì? Khái niệm lối sống đã được đưa ra rất nhiều quan điểm khác nhau. Cho đến nay, khái niệm này vẫn chưa được thống nhất.
Thực tế vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau của những người theo hệ tư tưởng Xã hội chủ nghĩa và những người theo hệ tư tưởng Tư bản chủ nghĩa. Thứ nhất, nhìn trên quan điểm của Mác và Ăngghen trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” thì quan niệm lối sống được hiểu như sau: “Phương thức sản xuất phải xem xét không đơn thuần, theo khía cạnh nó là sự tái tạo sản xuất ra sự tồn tại thể xác của các cá nhân, mà hơn thế nó đã là một hình thức hoạt động nhất định của sự biểu hiện đời sống của họ. Những cá nhân biểu hiện đời sống của họ như thế nào, điều đó ăn khớp với sản xuất của họ, với cái của họ sản xuất ra cũng như cách họ sản xuất” [4, tr.269] Từ luận điểm này, chúng ta có thể rút ra: lối sống là phương thức, là dạng hoạt động của con người. Lối sống được hình thành trên cơ sở những điều kiện và các mối quan hệ kinh tế- xã hội của một phương thức sản xuất nhất định.
Vấn đề cơ cấu thực chất nội dung của lối sống, các nhà nghiên cứu Nga đã nêu lên một số quan niệm thống nhất.Be-Xtu-gi-ep viết: “Lối sống được kiến giải như một phương thức hoạt động của con người, thì điều này hợp lý là lấy các lĩnh vực hoạt động sống quan trọng nhất làm nền tảng cho cơ cấu của lối sống, các lĩnh vực đó ta đều biết là: lao động, sinh hoạt, hoạt động chính trị - xã hội và văn hóa –xã hội” [13, tr.39] Thứ hai, theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu theo hệ tư tưởng Tư bản chủ nghĩa thì khác với quan điểm của những nhà nghiên cứu theo hệ thống tư tưởng Xã hội chủ nghĩa. Trong các công trình nghiên cứu của mình, họ cho lối sống là cuộc sống riêng, là mức độ sinh hoạt được đảm bảo và sự chú ý của họ hoàn toàn đặt vào lĩnh vực tiêu dùng. Hoặc còn có những khuynh hướng muốn giải thích lối sống như một khái niệm chung nhất, một cái gì ngang hàng với “vật chất xã hội” thay thế cho tất cả những khái niệm khác. Ở Việt Nam, trên cơ sở khoa học của Chủ nghĩa Mác – Lênin và trên cơ sở khoa học của các nghị quyết Đại hội Đảng cho rằng: “Lối sống là một phạm trù xã hội khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong điều kiện của một hình thái kinh tế xã hội nhất định, biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [16, tr.
Một lối sống thường phản ánh thái độ của một cá nhân, giá trị hoặc thế giới quan của cá nhân đó. Không phải tất cả các khía cạnh của một lối sống là được hình thành một cách tự nhiên hoặc qua quá trình tiếp nhận một cách tự nguyện. Quan niệm xã hội và sự nghiêm khắc, hà khắc, kỷ luật có thể hạn chế sự lựa chọn lối sống có sẵn cho cá nhân. Lối sống có thể bao gồm quan điểm về chính trị, tôn giáo, sức khỏe, giới tính, đạo đức, sự thân mật, và nhiều hơn nữa.
Tất cả các khía cạnh này đóng vai trò trong việc hình thành lối sống của một ai đó… Phạm vi của lối sống rộng hơn phạm vi của phương thức sản xuất. Ngoài hoạt động sản xuất, con người còn có nhiều hoạt động phong phú khác như: hoạt động xã hội, hoạt động chính trị, hoạt động tư tưởng và văn hóa, hoạt động bồi dưỡng sức khỏe và hoạt động rèn luyện phẩm chất cá nhân. 7 z Như vậy, từ việc tìm hiểu và so sánh những khái niệm trên, theo quan điểm của bản thân tôi thì nên hiểu một cách đơn giản: Lối sống là cách ứng xử của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, nó được hình thành và phát triển phù hợp trong phạm vi không gian, thời gian nhất định. - Khái niệm lẽ sống là gì? Theo Tiến sĩ Nguyễn Viết Chức: Lẽ sống là sự lựa chọn chủ quan của con người về lối sống.
Hay nói cách khác nó là sự phản ánh tính tất yếu khách quan của lối sống vào đầu óc con người. Lẽ sống chỉ đạo cho lối sống dần dần tạo thành nếp trong sinh hoạt hàng ngày khiến cho lối sống dần dần tạo thành nếp trong sinh hoạt hàng ngày khiến cho lối sống trở thành những hành vi tự giác” [7, tr.24] Lẽ sống chính là hoài bão và sứ mệnh của cuộc đời, là giá trị nền tảng, tiêu chuẩn hành xử của chính mình. Xác định lẽ sống chính là trả lời câu hỏi “mình là ai, mình sống để làm gì, mình sẽ dùng cuộc đời của mình vào việc gì và việc đó có đáng để dùng hay không?” Xác định lẽ sống cũng chính là việc chọn cho mình lý do để sống (rốt cuộc ý nghĩa của cuộc đời mình nằm ở đâu) – được coi là “đích đến”, “bánh lái”, hay sẽ là “ma đưa lối, quỷ đưa đường” trong cuộc đời chúng ta. Đây là lựa chọn quan trọng bậc nhất, ảnh hưởng tới tất cả những lựa chọn còn lại.
Không phải ai cũng chọn được đúng “đích đến” và “bánh lái” cho mình và hậu quả là cuộc đời của họ nhiều khi sẽ rất uổng phí hoặc vô cùng bi kịch. Con người sinh ra vốn dĩ là lương thiện, nhưng chọn lẽ sống khác nhau thì sẽ có những con người khác nhau, cuộc đời khác nhau và số phận khác nhau … Như vậy, từ những cách hiểu của các tác giả trên chúng ta có thể hiểu lẽ sống chính là mặt ý thức của lối sống. Lẽ sống là mục đích sống, ý nghĩa lý tưởng của cuộc sống, là ý chí khát vọng của con người. lẽ sống phản ánh tính tất yếu khách quan của lối sống, định hướng cho lối sống.
- Khái niệm mức sống là gì? Khi nói đến chất lượng cuộc sống của con người, chúng ta thường nhắc đến khái niệm mức sống. Vậy mức sống là gì, nó có liên quan gì với lối sống? 8 z Hiểu một cách đơn giản thì mức sống là điều kiện quan trọng cho hoạt động sống của con người. Mức sống có tác dụng quy định con người có thể phát triển, áp dụng năng lực, thỏa mãn nhu cầu của mình ở mức độ nào. Người có mức sống cao thường là những người có khả năng đáp ứng nhu cầu của bản thân về các phương tiện thiết yếu ở mức độ hiện đại, đời sống vật chất tinh thần được thỏa mãn ở cấp độ hiện đại, văn minh nhất.
Người có mức sống thấp là người có thu nhập thấp, thậm chí không thỏa mãn nhu cầu về tinh thần. Mức sống là một khái niệm, liên quan đến sự phát triển và thỏa mãn nhu cầu của xã hội nói chung và nhu cầu của con người nói riêng. Hiện nay tồn tại rất nhiều định nghĩa về mức sống. Nhìn chung, giữa các nhà nghiên cứu có hai cách tiếp cận đối với khái niệm này.
Cách thứ nhất lấy mức thỏa mãn nhu cầu của con người làm cơ sở xem xét. Cách thứ hai chọn tập hợp các điều kiện sống làm đối tượng nghiên cứu, trong đó bao gồm điều kiện xã hội, chính trị, mức sản xuất chung, môi trường. Mức sống là vấn đề được các nhà nghiên cứu chú trọng, đặc biệt là các nhà kinh tế học. Các viện nghiên cứu kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới đều có chuyên ngành về mức sống của dân chúng.
Nhiệm vụ của ngành này là hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu, xác định các chỉ số hàng năm về mức sống, nhằm kịp thời phản ánh tình hình kinh tế xã hội của quốc gia và các địa phương, dùng làm cơ sở quản lý và điều phối vĩ mô, qua đó định hướng phát triển xã hội toàn diện. Mức sống và lối sống có quan hệ mật thiết với nhau. Mức sống biến đổi sẽ ảnh hưởng đến lối sống. tuy nhiên, không phải mức sống biến đổi thì lối sống cũng biến đổi theo.
Trong khuôn khổ của một lối sống, không thể xem mức sống là cái gì đó bên ngoài lối sống mà nó là cơ sở vật chất của lối sống. Thực tiễn cho thấy những người có mức sống ngang nhau, nhưng ở họ lại có sự khác biệt về lối sống. Chẳng hạn như người có mức sống cao lại có lối sống văn minh, lịch sự thì được người đời tôn trọng. Ngược lại có những người mức sống cao nhưng có hành vi ứng xử thô lỗ, mất lịch sự, ích kỉ… thì người đời coi khinh.
Từ sự phân tích này chúng ta thấy rõ ràng mức sống có quan hệ với lối sống nhưng chúng không đồng nhất với nhau. 9 z Theo kết luận của tác giả Võ Văn Thắng đã thể hiện rõ được bản chất của mức sống đó là: “Mức sống là thuật ngữ kinh tế- xã hội dùng để đánh giá các nhu cầu vật chất và tinh thần đã được thỏa mãn [32, tr.39] - Khái niệm nếp sống là gì? Từ việc tìm hiểu những khái niệm trên, chúng ta cũng có cơ sở để hiểu khái niệm nếp sống. Theo GS Vũ Khiêu: “Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hàng ngày, những thói quen đã trở thành nếp sống trong sản xuất, chiến đấu, trong mối quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi người.