Chương 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Những vấn đề chung về từ 1. Quan niệm về từ tiếng Việt Đơn vị cơ bản, đơn vị nòng cốt của một ngôn ngữ là từ. Chính vì vậy, từ trở thành đối tượng được các nhà ngôn ngữ học quan tâm, nghiên cứu.
Tuy nhiên, do xuất phát từ các góc nhìn khác nhau nên cho tới thời điểm này vẫn chưa có quan niệm thống nhất về từ giữa các nhà ngôn ngữ. Tác giả Nguyễn Tài Cẩn quan niệm: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập trong câu” [8, tr. Trong công trình Nghiên cứu ngữ nghĩa tiếng Việt, tác giả Nguyễn Kim Thản đưa ra quan điểm: “Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, có thể tách khỏi các đơn vị khác của lời nói để vận dụng một cách độc lập và là một khối hoàn chỉnh về ngữ âm, ý nghĩa (từ vựng hoặc ngữ pháp) và chức năng ngữ pháp” [49, tr. So với quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp đã lưu ý về đặc điểm của từ ở các phương diện “ngữ âm, ý nghĩa, chức năng ngữ pháp”.
Trong công trình Từ vựng học Tiếng Việt, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã đưa ra định nghĩa: “Từ của tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để cấu tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền” [22, tr. Quan niệm này có điểm gặp gỡ với quan niệm của Nguyễn Kim Thản ở chỗ cho rằng “từ là đơn vị nhỏ nhất và có nghĩa”. Trong luận văn này, chúng tôi không tham gia bàn luận về định nghĩa của từ mà chỉ chọn một quan niệm để làm cơ sở cho việc triển khai đề tài. Và quan niệm của Đỗ Hữu Châu về từ trong tiếng Việt là quan niệm chúng tôi lựa chọn.
Ông định nghĩa như sau: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong 14 những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [14, tr. Các kiểu cấu tạo từ tiếng Việt Trong quá trình phân tích ngữ liệu, chúng tôi chọn quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu để làm cơ sở khảo sát, thống kê các từ chỉ phương tiện nghề cá ở Kiên Giang. Ở công trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt [14], Đỗ Hữu Châu đã căn cứ vào số lượng hình vị mà chia từ tiếng Việt thành: từ đơn, từ láy, từ ghép. Cụ thể: (1) Từ đơn là “những từ một hình vị.
Về mặt ngữ nghĩa chúng không lập thành những hệ thống có một kiểu ngữ nghĩa chung. Chúng ta lĩnh hội và ghi nhớ nghĩa của từng từ một riêng rẽ. Kiểu cấu tạo không đóng vai trò gì đáng kể trong việc lĩnh hội ý nghĩa của từ” [14, tr. Tác giả nhận định: đại bộ phận các từ đơn thuần Việt hay đã Việt hóa là từ đơn một âm tiết.
Các từ đơn một âm tiết tuy không có số lượng lớn lắm song mang những đặc trưng ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng tiếng Việt. Ví dụ: tôi, bác, nhà, cây, đi, chạy, … Bên cạnh đó tiếng Việt còn có một số ít từ đơn đa âm thuần Việt như: bù nhìn, ễnh ương, mồ hôi, bồ hóng, cà phê, mô tô,… (2) Từ láy là “những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [14, tr. Dựa vào số lần tác động của phương thức láy mà ta có: từ láy hai âm tiết (láy đôi), từ láy ba âm tiết, từ láy bốn âm tiết. Trong đó, từ láy đôi căn cứ vào tiêu chí cái được giữ lại trong âm tiết của hình vị cơ sở tiếp tục chia thành: từ láy toàn bộ (nếu toàn bộ âm tiết được giữ nguyên); từ láy bộ phận (nếu bộ phận âm tiết được giữ lại).
Nhìn chung sắc thái hóa là tác dụng điển hình của phương thức láy. 15 (3) Từ ghép là “từ được sản sinh do sự kết hợp hai hoặc một số hình vị (hay đơn vị cấu tạo) tách biệt, riêng rẽ, độc lập đối với nhau” [14, tr. Tác giả Đỗ Hữu Châu đã căn cứ vào tính chất hình vị để phân loại từ ghép thành từ ghép hư và từ ghép thực. Từ ghép hư là những từ ghép do hai hình vị hư kết hợp với nhau theo phương thức ghép mà có.
Đó là các từ như: mặc dầu, nếu mà, cho nên, tại sao, …Từ ghép thực là những từ được phân chia theo kiểu ngữ nghĩa của từng loại, gồm có: từ ghép phân nghĩa và từ ghép hợp nghĩa. Qua thực tế khảo sát, thống kê, phân loại thì các từ chỉ phương tiện nghề cá ở Kiên Giang không có từ có cấu tạo từ ghép hư. Vì vậy, chúng tôi sẽ dùng khái niệm từ ghép để chỉ từ ghép thực. Việc phân chia các kiểu từ như trên chỉ mang ý nghĩa tương đối không phải là tuyệt đối.
Bởi hiện thực bao giờ cũng phong phú và không có sự rạch ròi hoàn toàn. Mô hình cấu tạo từ tiếng Việt Vấn đề mô hình cấu tạo từ tiếng Việt được hai nhà nghiên cứu ngôn ngữ Hồ Lê và Lê Quang Thiêm định nghĩa như sau: Hồ Lê trong công trình Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại cho rằng: “Mẫu (hay mô hình) là cái khuôn cấu tạo của một loạt sự vật hay hiện tượng đồng dạng. Cái khuôn cấu tạo ấy phản ánh những nét chung bản chất nhất về mặt cấu tạo của loạt sự vật hay hiện tượng ấy. Sự cấu tạo cụ thể của từng cái một trong loạt sự vật hay hiện tượng này không thể hoàn toàn giống nhau, nhưng mẫu cấu tạo của chúng lại là một” [38, tr.
Theo tác giả từ được cấu tạo bởi nguyên vị (Nguyễn Kim Thản gọi là từ tố, Nguyễn Tài Cẩn gọi là tiếng, Đỗ Hữu Châu gọi là hình vị), và chúng là cơ sở để phân biệt các mô hình cấu tạo từ tiếng Việt. Lê Quang Thiêm trong công trình Lịch sử từ vựng tiếng Việt thời kì 1858- 1945 lại cho rằng: “Mô hình cấu tạo là cái khuôn đúc mà có thể đưa vào những 16 loại chất liệu, từ đó để tạo ra hàng loạt các đơn vị khác nhau” [53, tr. Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi sử dụng quan niệm của Lê Quang Thiêm để làm định hướng nghiên cứu. Lấy tiêu chí độc lập hay không độc lập, có nghĩa hay không có nghĩa của các yếu tố tham gia cấu tạo từ (hình vị) làm căn cứ, chúng ta có ba kiểu mô hình cấu tạo từ trong tiếng Việt sau: Kiểu mô hình 1: Thành tố độc lập (A) + Thành tố độc lập (A) Kiểu mô hình 2: Thành tố không độc lập (B) + Thành tố không độc lập (B) Kiểu mô hình 3: Thành tố độc lập (A) + Thành tố không độc lập (B) hoặc: Thành tố không độc lập (B) + Thành tố độc lập (A) Khi phân tích mô hình cấu tạo từ chỉ phương tiện nghề cá ở Kiên Giang, chúng tôi đã dựa vào tiêu chí độc lập hay không độc lập của các thành tố tham gia cấu tạo từ để phân tích mô hình.
Những vấn đề chung về từ nghề nghiệp 1. Khái niệm từ nghề nghiệp Từ nghề nghiệp là một bộ phận không thể thiếu của ngôn ngữ dân tộc. Nó được hình thành trên cơ sở xã hội. Vì nhu cầu tồn tại, phát triển và mưu sinh con người phải lao động, tìm nghề, chọn nghề và học nghề.
Quá trình ấy tạo ra một lớp từ ngữ của những người làm nghề riêng biệt phục vụ cho quá trình giao tiếp và tư duy. Lớp từ này cũng góp phần tạo nên dấu ấn nghề nghiệp – từ ngữ nghề nghiệp. Thế nhưng, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm bao quát, thống nhất nói lên bản chất của lớp từ nghề nghiệp. Quan niệm của tác giả nước ngoài về từ nghề nghiệp Tác giả L.Akapanadze đã nói lên đặc điểm “tính hình ảnh, hình tượng” của từ nghề nghiệp khi bàn về khái niệm “thuật ngữ” và “hệ thống thuật ngữ”: “Từ nghề nghiệp thường vốn mang một số tính hình ảnh, hình tượng “so sánh” [Dẫn theo 34, tr.Superanskaja khi bàn về thuật ngữ và danh pháp lại 17 phát biểu như sau: Khi định danh một sự vật nào đó, nếu thuật ngữ quá dài dòng, khi đi vào sử dụng theo thời gian sẽ được rút gọn đi, vì chúng “vốn sinh ra từ phạm vi của sự biểu đạt trong khoa học, đã biến thành yếu tố của lời nói thông thường hoặc ngôn từ nghề nghiệp” [Dẫn theo 57, tr.
Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước về từ nghề nghiệp Tác giả Nguyễn Như Ý trong công trình Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học [63] đã giành một góc khiêm tốn cho từ nghề nghiệp. Theo tác giả: Từ nghề nghiệp là “Các từ, ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực nào đó.” Ngoài cuốn từ điển trên, ta không tìm thấy mục từ nghề nghiệp trong các cuốn từ điển khác. Tại sao lại như vậy? Trong khi cùng thuộc về các lớp từ hạn chế về phạm vi sử dụng thì tiếng lóng, thuật ngữ, biệt ngữ hay từ địa phương đều ít nhiều xuất hiện trong các cuốn Từ điển tiếng Việt [45] hay Đại từ điển tiếng Việt [64]. Sở dĩ có điều này có thể do tính chất xã hội, nghề nghiệp của lớp từ này và sự hạn chế về tri thức văn hóa nghề nghiệp của con người nói chung.
Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt cho rằng: “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, ngành văn thư v. Như vậy, tác giả cho rằng từ nghề nghiệp ra đời nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất và hành nghề của một nghề cụ thể. Chúng được những người trong nghề lĩnh hội một cách dễ dàng còn những người ngoài nghề khó có thể hiểu được. Trong quá trình hoạt động, từ nghề nghiệp chịu sự chi phối và tác động của một nghề nhất định.
18 Nguyễn Thiện Giáp quan niệm: “Từ ngữ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội.