Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 1986 - 2018 ghi nhận công cuộc Đổi mới toàn diện của đất nước, thúc đẩy sự chuyển dịch sâu sắc về kinh tế và xã hội tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trên địa bàn huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh, cộng đồng người Sán Chỉ đạt 4.084 nhân khẩu với 913 hộ gia đình cư trú tại 12 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn, chiếm khoảng 8,1% dân số toàn huyện. Mặc dù chỉ chiếm 1,41% cơ cấu dân số toàn tỉnh Quảng Ninh, nhóm người Sán Chỉ lại chiếm trên 80% tổng số dân thuộc thành phần dân tộc Sán Chay trên địa bàn tỉnh, tập trung mật độ cao nhất tại xã Đại Dực với tỷ lệ lên đến 95% dân số toàn xã.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ quá trình chuyển biến từ nền kinh tế tự cung tự cấp, canh tác nương rẫy truyền thống sang sản xuất hàng hóa nông - lâm nghiệp gắn liền với thị trường và bảo tồn văn hóa tộc người. Mục tiêu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa điều kiện tự nhiên, dân cư và lịch sử di cư; phân tích thực trạng đời sống kinh tế qua các ngành trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủ công nghiệp; đồng thời đánh giá sự biến đổi trong phong tục tập quán, tín ngưỡng và văn hóa dân gian.

Phạm vi nghiên cứu không gian tập trung tại huyện Tiên Yên, với trọng tâm là các xã Đại Dực, Đại Thành, Đông Hải, Phong Dụ trong khung thời gian 32 năm (1986 - 2018). Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật, hỗ trợ địa phương xây dựng chính sách nâng cao thu nhập bình quân đầu người, duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 60% và phát triển du lịch văn hóa bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết biến đổi văn hóa và lý thuyết tiếp biến văn hóa trong dân tộc học nhằm luận giải phương thức thích ứng của người Sán Chỉ trước làn sóng giao lưu kinh tế thị trường. Bên cạnh đó, khung lý thuyết sinh kế bền vững được tích hợp để phân tích năng lực quản lý nguồn lực đất đai, rừng và lao động gia đình. Bốn khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: tộc người, văn hóa tộc người, kinh tế nương rẫy - thung lũng và chuyển dịch cơ cấu sinh kế. Các mô hình này giúp xác định mối quan hệ tương hỗ giữa bảo tồn di sản tinh thần và phát triển sức sản xuất vật chất.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn tài liệu nghiên cứu bao gồm hai hệ thống chính: nguồn tư liệu thành văn và nguồn tư liệu thực địa. Tư liệu thành văn gồm các văn kiện Đại hội Đảng bộ huyện Tiên Yên qua các thời kỳ, Địa chí Quảng Ninh, báo cáo thống kê định kỳ giai đoạn 1986 - 2018 từ Phòng Dân tộc và Chi cục Thống kê huyện Tiên Yên.

Phương pháp điền dã dân tộc học được triển khai với cỡ mẫu khảo sát trực tiếp 100 hộ gia đình và 25 cuộc phỏng vấn sâu đối với già làng, trưởng bản, nghệ nhân dân gian tại 5 thôn bản tiêu biểu: Khe Léng, Khe Lặc thuộc xã Đại Thành; Khe Lục, Khe Ngàn, Khe Đoàn Kết thuộc xã Đại Dực. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được lựa chọn nhằm đảm bảo bao quát các nhóm tuổi, giới tính và điều kiện kinh tế điển hình.

Luận văn kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic làm trục phân tích cốt lõi, song song với phương pháp so sánh đối chiếu và thống kê mô tả. Việc phối hợp này giúp tái hiện tiến trình biến đổi lịch sử một cách khách quan, lượng hóa các chỉ số kinh tế và làm nổi bật tính liên tục cũng như bước ngoặt trong đời sống văn hóa của tộc người từ năm 1986 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, có sự chuyển biến mạnh mẽ trong phương thức trồng trọt và cơ giới hóa nông nghiệp. Hình thức canh tác nương rẫy truyền thống đã giảm trên 70% diện tích, thay thế bằng ruộng lúa nước 2 vụ đông xuân và hè thu kết hợp gieo cấy giống mới như Khang Dân, lúa lai 203, VN10. Tỷ lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất và thu hoạch đạt trên 80% nhờ áp dụng máy cày cầm tay, máy bơm nước và máy tuốt lúa, giúp năng suất lúa tăng từ mức 25 tạ/ha trước năm 1990 lên trên 45 tạ/ha trong giai đoạn 2015 - 2018.

Thứ hai, ngành chăn nuôi và kinh tế lâm nghiệp chuyển dịch rõ rệt sang hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Mô hình nuôi gà đồi Tiên Yên trở thành mũi nhọn kinh tế, với tổng đàn toàn huyện đạt trên 500.000 con vào năm 2017. Nhiều hộ gia đình người Sán Chỉ tại thôn Khe Lặc, Khe Mươi duy trì quy mô xuất bán 1.000 con gà mỗi năm, đem lại lợi nhuận ròng gần 100 triệu đồng mỗi hộ. Trong lâm nghiệp, phong trào trồng rừng phủ xanh đồi trọc với cây keo, quế Khe Táu phát triển mạnh, nâng diện tích đất lâm nghiệp có rừng lên trên 29.330 ha.

Thứ ba, nghề thủ công truyền thống có sự phân hóa sâu sắc giữa bảo tồn và mai một. Sản phẩm miến dong Tiên Yên chế biến từ 100% tinh bột dong riềng tại xã Đại Dực và Đại Thành đã nâng cấp từ quy trình thủ công sang bán cơ giới hóa, đạt chuẩn thương hiệu OCOP với tỷ lệ thu hồi 1 kg bột khô từ 20 đến 25 kg củ tươi. Ngược lại, nghề dệt vải nhuộm chàm truyền thống suy giảm hơn 90% do người dân chuyển sang tiêu dùng trang phục may sẵn từ các phiên chợ trung tâm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các chuyển biến trên bắt nguồn từ chính sách Đổi mới năm 1986, chương trình xây dựng nông thôn mới và sự đầu tư hoàn thiện của hạ tầng giao thông như Quốc lộ 18, Quốc lộ 18C cùng hệ thống cầu đường liên xã. Khi so sánh với các nghiên cứu trước đây về người Sán Chay ở vùng Đông Bắc của các học giả chuyên ngành, đời sống của người Sán Chỉ tại Tiên Yên thể hiện tính chủ động cao hơn trong việc kết hợp tri thức bản địa với công nghệ hiện đại.

Các dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua bảng ma trận cơ cấu hộ khẩu tại 12 xã, thị trấn và biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng giá trị sản xuất giữa trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp. Kết quả này khẳng định quá trình giao lưu văn hóa không làm mất đi bản sắc tộc người mà tạo ra động lực mới để cộng đồng Sán Chỉ hội nhập kinh tế khu vực miền Đông tỉnh Quảng Ninh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng chuỗi giá trị và thương mại điện tử cho nông sản đặc thù. Ủy ban nhân dân huyện Tiên Yên cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần hỗ trợ 100% các hộ nuôi gà đồi và cơ sở sản xuất miến dong tại Đại Dực, Đại Thành thực hiện gắn mã QR truy xuất nguồn gốc điện tử. Mục tiêu đặt ra là nâng sản lượng miến dong thương phẩm tăng trưởng 15% đến 20% mỗi năm trong giai đoạn 2020 - 2025, kết nối tiêu thụ trực tiếp tại hệ thống siêu thị toàn quốc.

Thứ hai, quy hoạch không gian bảo tồn văn hóa gắn với phát triển du lịch cộng đồng sinh thái. Phòng Văn hóa - Thông tin huyện chủ trì xây dựng đề án khôi phục lễ hội truyền thống, làn điệu Soóng cọ và phục dựng không gian nhà sàn người Sán Chỉ tại xã Đại Dực. Chỉ tiêu cụ thể là thu hút trên 50.000 lượt khách du lịch trải nghiệm văn hóa bản địa mỗi năm, tạo việc làm tại chỗ cho hơn 200 lao động địa phương trước năm 2028.

Thứ ba, đẩy mạnh giao đất giao rừng và phát triển kinh tế lâm nghiệp dưới tán rừng. Hạt Kiểm lâm Tiên Yên phối hợp cùng chính quyền cơ sở hoàn thành cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rừng cho 100% hộ dân Sán Chỉ, đồng thời quy hoạch vùng trồng cây dược liệu bản địa dưới tán rừng keo và rừng quế với diện tích tối thiểu 500 ha trước năm 2025, hướng tới duy trì độ che phủ rừng bền vững trên 65%.

Thứ tư, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và y tế cộng đồng. Phòng Dân tộc và Trung tâm Y tế huyện Tiên Yên cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật canh tác định kỳ cho 100% cán bộ thôn bản, đồng thời tiến hành nghiên cứu, bảo tồn danh mục trên 100 loài cây thuốc nam quý trong tri thức y học cổ truyền người Sán Chỉ nhằm ứng dụng vào chăm sóc sức khỏe ban đầu trước năm 2026.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà nghiên cứu, học giả trong lĩnh vực Lịch sử Việt Nam, Dân tộc học và Văn hóa học. Luận văn cung cấp nguồn tư liệu điền dã thực địa chi tiết về nhóm người Sán Chỉ, giúp bổ sung dữ liệu thực chứng vào hệ thống lý luận về biến đổi tộc người vùng Đông Bắc.

Nhóm thứ hai là cán bộ quản lý nhà nước, chuyên viên hoạch định chính sách dân tộc tại Ủy ban Dân tộc, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn đóng vai trò tài liệu tham chiếu thực tiễn để xây dựng các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào thiểu số và miền núi.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các trường đại học chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn. Công trình là case study chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu liên ngành lịch sử - dân tộc học trong việc đánh giá sự chuyển dịch kinh tế giai đoạn 1986 - 2018.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp, hợp tác xã nông lâm nghiệp và công ty lữ hành. Luận văn mở ra các góc nhìn thực tế về tiềm năng thương mại hóa sản phẩm nông nghiệp đặc sản như gà Tiên Yên, miến dong Đại Dực và cơ hội khai thác tour du lịch văn hóa trải nghiệm bản địa.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn gốc lịch sử và thời điểm di cư của người Sán Chỉ đến Tiên Yên được xác định như thế nào?

Căn cứ vào gia phả của dòng họ Nình tại Đại Dực Động và các nghiên cứu dân tộc học, người Sán Chỉ di cư từ vùng biên giới phía Nam Trung Quốc vào Việt Nam khoảng cuối thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17. Mốc niên đại thành văn sớm nhất được ghi nhận là năm Cảnh Hưng thứ nhất (1743).

Quy mô dân số và địa bàn cư trú chính của người Sán Chỉ ở huyện Tiên Yên hiện nay ra sao?

Tính đến tháng 12 năm 2018, toàn huyện có 4.084 nhân khẩu người Sán Chỉ phân bổ tại 913 hộ gia đình. Người Sán Chỉ sinh sống tập trung đông nhất tại hai xã Đại Dực với 1.449 khẩu (chiếm 95% dân số xã) và xã Đại Thành với 837 khẩu trong hơn 200 nóc nhà.

Đời sống kinh tế của người Sán Chỉ chuyển biến ra sao trong giai đoạn 1986 đến 2018?

Kinh tế người Sán Chỉ chuyển từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa. Nông dân áp dụng cơ giới hóa trên 80% diện tích làm đất, chuyển từ lúa rẫy 1 vụ sang lúa nước 2 vụ đạt năng suất trên 45 tạ/ha, phát triển đàn gà đồi quy mô lớn và hình thành vùng trồng quế, keo hàng hóa.

Vì sao nghề làm miến dong phát triển mạnh trong khi nghề dệt chàm lại đứng trước nguy cơ mai một?

Miến dong phát triển do đáp ứng nhu cầu thị trường về thực phẩm sạch không hóa chất, được cơ giới hóa khâu nghiền bột và xây dựng thương hiệu OCOP. Ngược lại, nghề dệt chàm thủ công đòi hỏi từ 10 đến 15 ngày nhuộm phức tạp nên không cạnh tranh được với hàng may mặc sẵn giá rẻ.

Luận văn đưa ra những phát hiện mới nào về văn hóa nghệ thuật dân gian người Sán Chỉ?

Luận văn hệ thống hóa toàn diện kho tàng văn hóa phi vật thể đặc sắc gồm các điệu múa chim gâu, múa xúc tép, hát giao duyên Soóng cọ và tri thức sử dụng hơn 200 loài thảo dược bản địa, đồng thời chỉ ra nguy cơ mai một để đề xuất giải pháp bảo tồn cấp thiết.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện bức tranh kinh tế - văn hóa của 4.084 nhân khẩu người Sán Chỉ tại huyện Tiên Yên suốt 32 năm Đổi mới (1986 - 2018).
  • Làm sáng tỏ bước chuyển dịch sinh kế căn bản từ độc canh nương rẫy sang mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp đa cây, đa con đạt hiệu quả kinh tế cao.
  • Khẳng định giá trị của các nghề truyền thống mũi nhọn như sản xuất miến dong Đại Dực, đồng thời cảnh báo thực trạng mai một nghề dệt vải nhuộm chàm và tri thức y học dân gian.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho hệ thống cơ quan quản lý nhà nước trong việc hoạch định chính sách dân tộc và phát triển du lịch bền vững.
  • Đề xuất lộ trình hành động cụ thể cho giai đoạn 2020 - 2030 nhằm cân bằng giữa tăng trưởng thu nhập bình quân và giữ gìn bản sắc văn hóa tộc người.

Các nhà nghiên cứu, cán bộ quản lý và độc giả quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu này để làm tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các đề án bảo tồn và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.