Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, chúng tôi đánh giá những nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc có liên quan đến đề tài luận án, đó là: các nghiên cứu về mạch lạc và văn bản hợp đồng kinh tế xét từ góc độ ngôn ngữ học. Phần cơ sở lí luận sẽ tập trung vào lí thuyết chính của luận án, bao gồm: mạch lạc, vai trò của mạch lạc đối với văn bản, các yếu tố tạo mạch lạc trong văn bản, khái niệm về hợp đồng kinh tế và các đặc trƣng của hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt. Thông qua việc tóm tắt các công trình nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản trên thế giới và trong nƣớc, đồng thời tham khảo một số ứng dụng của lý thuyết phân tích diễn ngôn vào nghiên cứu mạch lạc trong văn bản, chúng tôi đề xuất cách áp dụng lí thuyết phân tích diễn ngôn vào trong nghiên cứu các biểu hiện của mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt. Chương 2: Biểu hiện của mạch lạc qua các phép liên kết trong văn bản hợp đồng kinh tế: So sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng này trình bày các biểu hiện của mạch lạc trong hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt qua sáu phép liên kết, gồm: phép lặp, phép quy chiếu, phép nối, phép thế, phép tỉnh lƣợc, phép liên tƣởng.
Từ những phân tích và tổng hợp về các biểu hiện của mạch lạc trong hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt qua các phép liên kết, chúng tôi sẽ so sánh đối chiểu để chỉ ra những tƣơng đồng và dị biệt về mạch lạc qua các phép liên kết trong hai loại văn bản này. Chương 3: Biểu hiện của mạch lạc qua các kiểu quan hệ trong văn bản hợp đồng kinh tế: So sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt Ở chƣơng này, chúng tôi tiếp tục khảo sát những biểu hiện của mạch lạc qua các mối quan hệ trong các hợp đồng kinh tế. Cụ thể là mạch lạc biểu hiện trong các mối quan hệ sau: quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu, quan hệ về chủ đề giữa các câu, quan hệ thời gian, quan hệ nhân quả, quan hệ lập luận, quan hệ điều kiện, quan hệ ngoại chiếu. Dựa vào kết quả khảo sát các trƣờng hợp cụ thể nêu trên, chúng tôi cũng so sánh đối chiếu để tìm ra những tƣơng đồng và dị biệt về biểu hiện của mạch lạc qua các mối quan hệ trong văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Việt.
Chương 4: Ứng dụng vào soạn thảo và biên dịch hợp đồng kinh tế Anh – Việt Từ kết quả nghiên cứu mạch lạc trong hợp đồng kinh tế - so sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt ở chƣơng 2 và chƣơng 3. Chƣơng này đƣa ra những lƣu ý về việc sử dụng các phƣơng tiện ngôn ngữ tạo mạch lạc cho các văn bản hợp đồng kinh tế tiếng Anh và tiếng Việt, cụ thể là: Các phép liên kết tạo mạch lạc, các mối quan hệ tạo mạch lạc, danh hóa tạo mạch lạc, dùng từ ngữ và dấu câu hợp lý tạo mạch lạc - ứng dụng vào công việc soạn thảo và biên dịch các hợp đồng kinh tế Anh – Việt. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu về mạch lạc trong văn bản Trong ngôn ngữ học, thuật ngữ mạch lạc (coherence) xuất hiện trong giai đoạn thứ hai của việc nghiên cứu văn bản, đó là phân tích diễn ngôn (discourse analysis). Cùng với sự phát triển của phân tích diễn ngôn, mạch lạc đƣợc rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Ấn phẩm “Liên kết trong tiếng Anh” (Cohesion in English) của M.
Hassan vào năm 1976 đƣợc coi là nguồn gốc của các nghiên cứu sâu rộng về mạch lạc trong văn bản sau đó cho dù các tác giả không nghiên cứu về mạch lạc một cách trực tiếp. Trong ấn phẩm này, các tác giả đã đƣa ra quan niệm về mạch lạc nhƣ sau: “Mạch lạc là tập hợp những quan hệ có ý nghĩa dùng chung cho mọi văn bản, phân biệt văn bản với phi văn bản” và “Mạch lạc không nêu văn bản thông báo gì mà nêu văn bản đƣợc tổ chức thành chính thể ngữ nghĩa nhƣ thế nào”. Đồng thời các tác giả cũng nhận định rằng một văn bản mạch lạc phải đáp ứng hai điều kiện: một là văn bản phải phù hợp với ngữ cảnh trong đó nó đƣợc tạo ra, hai là văn bản phải có sự liên kết. Tuy nhiên, theo nhận xét của Galperin I.R (1987) thì mặc dù Halliday và R.
Hassan có ý đồ hình thức hóa các phƣơng tiện mạch lạc nhƣng “trong công trình này vẫn có nhiều điều đƣợc đề xuất ở bình diện ngữ pháp chứ không phải bình diện văn bản”. Galpernin khẳng định mạch lạc là phạm trù đặc trƣng của văn bản và định nghĩa: “Mạch lạc là những hình thức liên kết riêng biệt, đảm bảo thể liên tục (về thời gian hoặc không gian), sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo, sự kiện, hành động cụ thể”. Định nghĩa này sau đó đã đƣợc rất nhiều nhà ngôn ngữ học ủng hộ. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong cuốn “Văn bản và Ngữ cảnh” (Text and Context, 1977: 96), Teun A.van Dijk định nghĩa: “Mạch lạc là một thuộc tính ngữ nghĩa của diễn ngôn, dựa trên việc giải thích các câu riêng lẻ trong mối tƣơng quan với các câu khác trong một văn bản”.van Dijk (1977), mỗi diễn ngôn chứa một cấu trúc ngữ nghĩa tổng thể đƣợc gọi là cấu trúc vĩ mô (macro-structure), thể hiện ngữ nghĩa của diễn ngôn; và cấu trúc ngữ nghĩa của một diễn ngôn đƣợc tổ chức phân cấp ở nhiều cấp độ phân tích.
Cấu trúc vĩ mô chung nhất, đôi khi đƣợc gọi là chủ đề (topic) của một diễn ngôn kéo theo các cấu trúc vĩ mô khác, chi phối toàn bộ diễn ngôn. Các cấu trúc vĩ mô quyết định tính mạch lạc tổng thể của một diễn ngôn và “mạch lạc không chỉ đƣợc tạo bởi trật tự câu từ mà còn đƣợc tạo bởi ý nghĩa và quy chiếu của nó”. Tuy tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu các biểu hiện của mạch lạc trong văn bản ở mặt ngữ nghĩa và có liên hệ với ngữ cảnh diễn ngôn nhƣng các vấn đề liên quan đến mạch lạc ở mặt ngữ dụng chỉ đƣợc đề cập đến ở mức độ hạn chế trong công trình nghiên cứu này. Đến năm 1993, trong cuốn “Dẫn nhập Phân tích Diễn ngôn”, David Nunan kết luận: “Văn bản mạch lạc đƣợc phân biệt với các câu ngẫu nhiên bởi sự có mặt của các phƣơng tiện liên kết tạo thành văn bản” [103, tr.59]; và lƣu ý rằng ngoài sự hiểu biết về ngữ pháp và từ vựng của văn bản, chúng ta cần phải biết các câu đƣợc liên kết với nhau nhƣ thế nào.
Việc giải thích một văn bản là mạch lạc hay không phụ thuộc phần lớn vào các phƣơng tiện tạo văn bản (text-forming devices) nhƣ cách sắp xếp trật tự câu và việc sử dụng từ ngữ. Ngoài ra, Nunan nhấn mạnh ngữ cảnh (context) là yếu tố quan trọng trong việc giải thích mạch lạc khi coi diễn ngôn là „giao tiếp trong ngữ cảnh‟ (discourse as „communication in context‟). Mặc dù vậy, D. Nunan lại đƣa ra một quan niệm khá mơ hồ về mạch lạc khi ông cho rằng: “mạch lạc là cái tầm 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rộng mà ở đó diễn ngôn đƣợc tiếp nhận là “mắc vào nhau” chứ không phải là một tập hợp câu hoặc phát ngôn không có liên quan” [74, tr.
Chính vì một số những hạn chế trong các nghiên cứu về mạch lạc nêu trên mà nghiên cứu về tính mạch lạc trong giải thuyết diễn ngôn của Gillian Brown và George Yule trình bày trong ấn phẩm “Phân tích diễn ngôn” xuất bản năm 1983 (Trần Thuần dịch sang tiếng Việt năm 2002), đã đƣợc đông đảo các nhà ngôn ngữ học trên thế giới lựa chọn làm cơ sở lí luận cho các nghiên cứu về mạch lạc trong các phân tích diễn ngôn ứng dụng của mình. Brown & Yule (1983) cho rằng: “giả định về mạch lạc sẽ chỉ đƣa ra một giải thích nhất định trong đó các yếu tố của thông điệp đƣợc xem nhƣ là kết nối với nhau, có hoặc không có các kết nối ngôn ngữ công khai giữa các yếu tố ấy” và “điều quan trọng nhất là nỗ lực của ngƣời đọc (hoặc ngƣời nghe) nhằm lĩnh hội ngụ ý giao tiếp của ngƣời viết hoặc ngƣời nói khi tạo ra một thông điệp ngôn ngữ”. Theo các tác giả thì mạch lạc, nguyên lý loại suy, giải thích cục bộ, các đặc điểm chung của ngữ cảnh, các quy tắc về cấu trúc diễn ngôn, và các đặc điểm thông thƣờng của tổ chức kết cấu thông tin là những bình diện diễn ngôn mà ngƣời đọc có thể dùng khi giải thuyết một diễn ngôn nào đó. Trên cơ sở này, các tác giả đã phân định ra ba bình diện của quá trình giải thuyết ngụ ý của ngƣời nói/ ngƣời viết khi tạo ra diễn ngôn, bao gồm: thuật giải chức năng giao tiếp (tiếp nhận thông điệp nhƣ thế nào), sử dụng kiến thức văn hóa xã hội nói chung (thực tế về thế giới), và xác định phải thực hiện suy luận nào.
Đây chính là các bình diện cần lƣu ý khi khảo sát mạch lạc theo đƣờng hƣớng của phân tích diễn ngôn. Trên thế giới, ngoài những công trình nghiên cứu nổi tiếng về mạch lạc trong văn bản của M. Beaugrande và Dressler (1981), G. Nunan (1993),… mà chúng tôi đề cập đến 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở trên còn có rất nhiều các bài báo, bài nghiên cứu khoa học bàn luận đến vấn đề mạch lạc trong văn bản với nhiều góc nhìn khác nhau.
Chẳng hạn, bài “The classification of coherence relations and their linguistic markers: An exploration of two languages” (Phân loại các quan hệ mạch lạc và các dấu hiệu ngôn ngữ của chúng: Khảo sát hai ngôn ngữ) của Alistair Knott và Ted Sanders khảo sát các mối quan hệ tạo mạch lạc trong văn bản viết dựa trên cứ liệu tiếng Anh và tiếng Hà Lan. Các tác giả đã đƣa ra hai phƣơng pháp độc lập khi nghiên cứu các quan hệ mạch lạc là: dựa vào nhận thức của ngƣời đọc và ngƣời viết theo đƣờng hƣớng của ngôn ngữ học tâm lý, và dựa vào việc nhận diện các mối quan hệ trong ngôn ngữ.