Chương 1: Hình phat tù chung thân theo quy định của luật hình sự một sé quốc gia Chương 2: So sánh quy định về hình phạt tù chung thân trong luật hình sự một số quốc gia và kiến nghị hoàn thiện quy định của luật hình sự Việt Nam CHUONG 1. HINH PHAT TU CHUNG THAN THEO QUY ĐỊNH CUA LUAT HINH SU MOT SO QUOC GIA 1. Hình phat tù chung thân theo quy định của luật hình sự Việt Nam Trước khi ban hành BLHS đầu tiên của Việt Nam, hình phạt tù chung thân đã được quy định trong nhiều văn bản như Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945;? Sắc lệnh số 12/SL ngày 12/3/1948;3 Sắc lệnh số 151/SL ngày 12/4/1953. Có thé khang định, tù chung thân là một trong số ít các hình phạt có quá trình phát triển song song cùng với quá trình phát triển của toàn bộ hệ thống hình phạt.
Đến thời điểm hiện tại, mặc du không có nhiều thay đổi so với những lần pháp điển hóa trước đó, được quy định trong cả Phần chung và Phần Các tội phạm của BLHS năm 2015 (sửa đôi, b6 sung năm 2017), hình phạt tù chung thân luôn giữ một vị trí nhất định, đóng vai trò quan trọng trong hệ thống hình phạt của Việt Nam. Sự ngày càng hoàn thiện quy định hình phạt tù chung thân trong luật hình sự Việt Nam được thể hiện thông qua các phân tích cơ sở pháp lý của hình phạt này trong nội dung dưới đây. Phạm vi ap dung Dựa vào tính chat, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, Điều 9 BLHS năm 2015 quy định tội phạm được phân thành bốn loại, bao gồm tội phạm it nghiêm trong, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trong và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng." Theo đó, căn cứ Điều 39 BLHS năm 2015, hình phạt tù chung thân được giới hạn áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình. Thứ nhất, hình phạt tù chung thân là hình phạt áp dung đổi với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Theo khoản 4 Điều 9 BLHS năm 2015, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, mà mức cao nhất của khung hình phạt do BLHS quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.” Thực tiễn điều tra, truy tô và xét xử các vụ án hình sự cho thấy tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm phụ thuộc vào nhiều yếu tố 2 Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 tạm thời áp dụng các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ miễn là phù hợp với chế độ mới. 3 Sắc lệnh số 12/SL ngày 12/3/1948 quy định phạt tội ăn cắp, lẫy trộm các vật dụng của nhà binh trong thời bình và trong thời kỳ chiến tranh. 4 Sắc lệnh số 151/SL ngày 12/4/1953 quy định việc trừng trị những địa chủ chống pháp luật trong khi và ở những nơi phát động quan chúng thi hành chính sách ruộng dat. 7 khoản 4 Điều 9 BLHS năm 2015.
10 khác nhau, bao gồm cả các yếu tố mang tính chủ quan lẫn khách quan, chang hạn như tính chất của hành vi phạm tội, tính chất và tầm quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại; nhận thức, thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi phạm tội và đối với hậu quả của hành vi đó, tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Việc xác định những yếu tố này vừa thé hiện sự đánh giá về mặt pháp lý đối với hành vi phạm tội, đồng thời tạo tiền đề xác định hình phạt áp dụng một cách phù hợp.Š Trên cơ sở đó, nhà làm luật đã tiến hành hình sự hóa và ghi nhận những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội với tính chất, mức độ nhất định là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; quy định trong khung hình phạt đối với loại tội phạm này, tù chung thân là một chế tài có thé lựa chọn dé áp dụng. Nội dung áp dụng hình phạt tù chung thân đối với từng tội danh được quy định cụ thé, rõ rang trong Phan Các tội phạm của Bộ luật hình sự. Có thể thấy, hình phạt tù chung thân được quy định ở Phần chung là những luận điểm xuất phát cho việc quy định chế tài này một cách công bằng đối với tội phạm cụ thê ở Phần Các tội phạm của BLHS.
BLHS năm 2015 hiện hành có 56/314 điều luật quy định áp dụng hình phạt tù chung thân, chiếm ty lệ 17,8% trên tổng số điều luật. Trong đó, 27 điều luật quy định tù chung thân là hình phạt cao nhất trong khung hình phạt, bao gồm các tội danh như Tội hiếp dâm (Điều 141); Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuôi (Điều 144); Tội mua bán người đưới 16 tuổi (Điều 151); Tội cướp tài sản (Điều 168); Tội bắt cóc nhăm chiếm đoạt tài sản (Điều 169); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 171); Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), Tội chiếm đoạt trái phép chất ma túy (Điều 252). So với BLHS năm 1999, số lượng các điều luật có quy định áp dụng hình phạt tù chung thân giảm 3,7%.'° Nhăm thê chế hóa chủ trương của Đảng về hạn chế áp dụng hình phạt tù,!! đồng thời đáp ứng các yêu cầu đấu tranh phòng chống, ngăn ngừa tội phạm trong điều kiện kinh tế - xã hội ở giai đoạn hiện nay, BLHS năm 2015 đã bãi bỏ 8 Trần Thị Thu Trang (2011), Luận văn thạc sỹ “Dấu hiệu định tội thuộc mặt chủ quan của tội phạm trong luật hình sự Việt Nam”, Đại học Quốc gia Hà Nội, Việt Nam.vn/bitstream/VNU_123/5465/1/00050000484.pdf truy cập ngày 10/10/2023. 10 Nguyễn Dinh Bình Bắc (2022), Luận văn thạc sỹ “Hình phat tù chung thân theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015”, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
‘I Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. 11 hình phạt tù chung thân áp dụng đối với 10 tội danh,!? và quy định mức hình phạt cao nhất thay thế là tù có thời hạn đến 20 năm. Thứ hai, hình phạt tù chung thân là hình phạt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, chưa đến mức bị xử phạt tử hình. Khoản 1 Điều 32 BLHS năm 2015 quy định tù chung thân là hình phạt chính, được tuyên một cách độc lập đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.! Pháp luật cũng vạch ra giới hạn cụ thể khi áp dụng hình phạt này, đó là “chi áp dung hình phạt tù chung thân nếu sau khi xem xét tat cả các tình tiết có liên quan đến vụ án, Tòa án xét thấy bị cáo chưa đến mức bị xử phạt tử hình.
”!* Các tình tiết có liên quan có thé là các tình tiết, sự kiện liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến vụ án, mang tính chủ quan hoặc khách quan. mà Tòa án phải căn cứ vào đó dé ra quyết định áp dụng hay không áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Cụm từ “ca đến mức ” ở đây mang tính chất đo lường, được hiểu một cách tương đối là không đủ căn cứ để áp dụng. Bên cạnh đó, hiện nay, pháp luật chưa có văn bản hướng dẫn áp dụng cũng như chưa có quy định nào giải thích một cách cụ thể, rõ ràng nội dung nảy.
Thực tiễn xét xử cho thấy, mức án chung thân thường được áp dụng trong những trường hợp khi hình phạt tù có thời hạn đến 20 năm vẫn còn nhẹ đối với người phạm tội, nhưng hình phạt tử hình là chưa thực sự cần thiết. Khi đó, người phạm tội được đánh giá là còn khả năng nhận thức, giáo dục và có thé tự cải tạo.!Š Hoặc trường hợp người phạm tội mà trong điều luật về tội phạm do người đó thực hiện, quy định áp dụng tù có thời hạn, nhưng đồng thời ở họ tập trung nhiều tình tiết ting nặng TNHS. Lúc này, tù chung thân có thé được Tòa án xem xét dé áp dụng nhằm đảm bảo quyết định hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội trên thực tế. Ngoài ra, hình phạt tù chung thân cũng có khả năng được áp dụng trong trường hợp một người đã bị kết án tử hình nhưng sau đó được ân giảm xuống chung thân hoặc được khoan hồng đặc biệt trong nhiều trường hợp khác.
'3 khoản 1 Điều 32 BLHS năm 2015 '4 Điều 39 BLHS năm 2015. 15 Trương Thị Thu Hang (2023), Mục đích của hình phạt trong chính sách pháp luật hình sự và pháp luật thi hành án hình sự ở Việt Nam, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Kỳ 2 (Số 379). '6 Điều 258 Bộ luật TTHS năm 2015. 12 Từ tính chất “ng chuyển ” của hình phạt tù chung thân, pháp luật đặt ra giới hạn áp dụng hình phạt này dựa vào mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và trên cơ sở so sánh tính tương xứng của hình phạt với hành vi đó, giữa trường hợp áp dụng tù chung thân với trường hợp áp dụng hai loại hình phạt có tính nghiêm khắc liền ké, là tù có thời hạn đến 20 năm và tử hình.
Có thé hiểu, PLHS Việt Nam ghi nhận hình phạt tù chung thân đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng chỉ được áp dụng trong trường hợp thực sự cần thiết. Điều kiện áp dụng 1. Diéu kiện về đối tượng áp dung Bản chat tù chung thân là hình phạt tù không xác định thời hạn, người bị kết án có khả năng bị giam giữ đến hết phan đời còn lại của mình. Vì vậy, chủ thé của hình phạt tù chung thân chỉ có thé là cá nhân, mà không phải là pháp nhân hay tô chức; có thé là công dân Việt Nam, người nước ngoài hoặc người không có quốc tịch.
Theo khoản 1 Điều 2 BLHS năm 2015, chỉ người thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS mới phải chịu TNHS.!” Tuy nhiên, bên cạnh việc thực hiện một trong SỐ những tội phạm thuộc Phần Các tội phạm của BLHS, TNHS chỉ đặt ra sau khi người phạm tội đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thẻ, lỗi, thời hiệu truy cứu TNHS va cá nhân đó phải không thuộc trường hop được miễn TNHS. Liên quan đến chế định chủ thê của tội phạm, cá nhân thực hiện hành vi phạm tội phải là người đủ tuổi chịu TNHS theo quy định của BLHS và có năng lực TNHS.