ĐẶT VẤN ĐỀ Chi Wedelia thuộc họ Asteraceae bao gồm khoảng 104 loài, thƣờng phân bố nhiều ở những vùng nhiệt đới và nhiệt đới ẩm. Trong đó có khá nhiều loài phổ biến ở nƣớc ta trong đó có Sài đất (Wedelia chinensis (Osbeck.) trong dân gian thƣờng đƣợc dùng nhƣ một loại kháng sinh thực vật để chữa các bệnh ngoài da: mụn nhọt, lở loét, rôm sảy, sƣng khớp, viêm nhiễm. Sự thật ngày nay loài này ngày càng khan hiếm một phần do thuốc tân dƣợc ngày càng phát triển, một phần do tốc độ đô thị hóa nhanh. Gần đây có một loài Sài đất mới du nhập vào nƣớc ta có tên gọi Sài đất ba thùy (Wedelia trilobata (L.
Loài này lần đầu đƣợc ghi nhận ở Bangladesh vào năm 2003 và đƣợc tìm thấy nhiều ở các quốc gia Châu Mỹ. Sau đó, nó dần phát triển mạnh mẽ ở các nƣớc nhiệt đới, thậm chí ở một số quốc gia nó còn đƣợc xem là một loài thực vật xâm lấn [9]. Ở Việt Nam, Sài đất ba thùy rất thích nghi nên đƣợc trồng nhiều ở các vệ cỏ, công viên và cả mọc hoang. Tuy nhiên, Sài đất ba thùy chỉ đƣợc biết đến chủ yếu nhƣ một loại cây cảnh cộng thêm việc mới du nhập vào nƣớc ta nên vẫn chƣa có nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng – công dụng.
Đề tài: “ Khảo sát và so sánh đặc điểm vi học, sơ bộ hoá thành phần hóa học và hoạt tính kháng khuẩn - kháng nấm giữa loài Sài đất ba thùy (Wedelia trilobata (L.) và Sài đất (Wedelia chinensis (Osbeck.) ” đƣợc tiến hành với mục đích tìm kiếm thêm một loài dƣợc liệu mới có hoạt tính kháng sinh và góp phần bổ sung những tiêu chuẩn kiểm nghiệm loài Sài đất ba thùy vào Dƣợc điển Việt Nam V nhằm nâng cao công tác kiểm nghiệm và chất lƣợng dƣợc liệu. Nghiên cứu bao gồm các giai đoạn: - Khảo sát đặc điểm hình thái, vi phẫu, bột dƣợc liệu từ lá và thân Sài đất ba thùy và Sài đất. - Sơ bộ hóa thành phần hóa thực vật từ lá Sài đất ba thùy. - Thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn – kháng nấm từ lá Sài đất ba thùy trên một số chủng vi khuẩn, nấm men.
1 Luan van Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu 1. Tổng quan về thực vật học 1. Bộ Cúc (Asterales) Bộ này phân bổ rộng khắp thế giới và chủ yếu là các loài cây thân thảo, mặc dù có một lƣợng nhỏ là cây thân gỗ (chi Lobelia) và cây bụi 22.
Bộ Asterales có thể đƣợc đặc trƣng ở mức độ phân tử và hình thái học. Các đặc điểm chung bao gồm nhóm các oligosacarid nguồn gốc tự nhiên (các phân tử đƣờng sacaroza liên kết với nhau) nhƣ là nơi lƣu trữ chất dinh dƣỡng và các nhị hoa thông thƣờng đƣợc tập hợp lại dày đặc xung quanh vòi nhụy hoặc thậm chí đƣợc hợp nhất lại thành ống xung quanh nó. Thuộc tính thứ hai có lẽ gắn liền với sự thụ phấn đầu cơ (hay thứ cấp) và điều này rất phổ biến trong các họ của bộ này 22. Bộ Asterales bao gồm khoảng 11 họ, trong đó các họ lớn nhất là họ Cúc (Asteraceae) với khoảng 25.000 loài và họ Hoa chuông (Campanulaceae) với khoảng 2.
Các họ còn lại có tổng cộng không quá 500 loài. Hai họ lớn nhất là phân bổ rộng khắp thế giới với trung tâm nằm ở Bắc bán cầu, còn những họ nhỏ hơn thông thƣờng phân bổ ở Australia và các vùng xung quanh, hoặc đôi khi ở Nam Mỹ 22. Họ Cúc (Asteraceae) Thân: cỏ, sống 1 hay nhiều năm. Thân gỗ, cây bụi hay dây leo hiếm gặp 3.
Rễ: có thể phù lên thành củ, nhƣng chất dự trữ ở cây không phải là tinh bột mà là inulin (Thƣợc dƣợc) 3. Lá: Hình dạng biến thiên, không có lá kèm, thƣờng mọc đối hay tụ thành hình hoa ở gốc, có những loại lá có gai. Thông thƣờng phiến lá nguyên, xẻ sâu; lá kép hình lông chim hay hình chân vịt hiếm gặp 3. Cụm hoa: đầu, có thể mang rất nhiều hoa hay ít hoa.
Đầu có thể đứng riêng lẻ hay tụ thành chùm, gié, xim, nhƣng thông thƣờng nhất là tụ thành ngù. Có thể xem hoa 2 Luan van tự đầu nhƣ một gié thu ngắn, trong đó các hoa đính theo một đƣờng xoắn ốc liên tục, hoa già ở bìa, hoa non ở giữa. Dạng thông thƣờng của hoa tự đầu là hình nón, nhƣng cũng có thể phẳng hoặc có khi lõm hình chén. Đầu mang hai loại lá bắc: Lá bắc ngoài bất thụ, tạo thành một tổng bao.
Các lá bắc này có thể đính trên một hàng (Senecio, Tagetes) hoặc đính trên nhiều hàng kết hợp. Hình dạng và kích thƣớc của lá bắc ngoài rất biến thiên.Lá bắc ngoài có thể nguyên hay có răng, có gai; có những loại có màu nhƣ cánh. Lá bắc thật có mang hoa ở nách. Chúng là những phiến mỏng dẹt, đôi khi có lông.
Lá bắc thật có thể phẳng hay cong xung quanh hoa; chúng có thể không có 3. Hoa: lƣỡng tính, mẫu 5, bầu dƣới, không có lá bắc con. Hoa thức theo kiểu: Các hoa trên một đầu có thể giống nhau, có thể cùng cách cấu tạo, cùng chức năng. Kiểu đầu này gọi là đồng giao với toàn những hoa hình ống hoặc toàn hoa hình lƣỡi nhỏ có 5 răng hoặc đôi khi toàn hoa hình môi.
Hoa tự đầu có thể gồm 2 loại hoa: Hoa đều hình ống ở giữa có nhiệm vụ sinh sản và hoa không đều hình lƣỡi nhỏ có 3 răng ở bìa, đóng vai trò của tràng để thu hút côn trùng. Kiểu đầu này gọi là dị giao 3. Bao hoa: Lá đài thƣờng giảm vì nhiệm vụ bảo vệ đã đƣợc đảm nhiệm bởi các lá bắc của tổng bao. Đài có thể biến mất, đôi khi chỉ còn 1 gờ nhỏ, nguyên hay có thùy, gờ có thể mang những vẩy hoặc một vòng lông tơ.
Sau khi thụ tinh, đài có thể phát triển thành một mào lông, có thể láng hay có gai, có nhiệm vụ trong sự phát tán của quả. Tràng do cánh hoa dính, có thể đều hình ống (trƣờng hợp hoa giữa hoa giữa của các đầu dị giao) hoặc không đều có dạng lƣỡi nhỏ có 3 răng hay 5 răng hoặc hình môi 2/3 hoặc hình ống dài hơi cong 3. Bộ nhị: 5 nhị bằng nhau, đính trên tràng ống và xen kẽ với cánh hoa. Chỉ nhị rời nhau trừ tông Cynareae.
Bao phấn mở dọc, hƣớng trong, dính nhau thành một ống bao quanh vòi. Chung đới thƣờng kéo dài trên bao phấn thành phụ bộ. Ngoài ra, bao 3 Luan van phấn còn mang ở gốc những phụ bộ choãi ra tạo thành những tai thỏ, che chở cho mật hoa ở gốc vòi khỏi bị nƣớc mƣa 3. Bộ nhụy: 2 lá noãn ở vị trí trƣớc sau, tạo thành bầu dƣới 1 ô, đựng 1 noãn, đính đáy.
Đĩa mật ở trên bầu. Ở hoa lƣỡng tính và hoa cái, vòi xuyên qua đĩa mật và chia thành 2 nhánh đầu nhụy (vòi không chia nhánh ở hoa bất thụ). Các nhánh đầu nhụy mang ở mặt dƣới những lông để quét hạt phấn khi vòi mọc xuyên qua ống cấu tạo bởi các bao phấn. Sự thụ phấn nhờ côn trùng 3.
Quả: bế, thƣờng mang một mào lông do đài biến đổi, có khi mào lông đƣợc mang bởi một cuống dài hay ngắn. Đôi khi, quả trần có móc hay có gai. Hạt không có nội nhũ; lá mầm to, nhiều khi chứa đầy dầu (hạt Hƣớng dƣơng) 3. Cơ cấu học: Lông che chở kiểu biến thiên.
Lông tiết có chân ngắn, đầu đa bào, đặt trong chỗ lõm của biểu bì. Phân họ hoa hình ống và hoa tỏa tròn có ống tiết rất nhỏ. Phân họ hoa hình ống còn có tế bào tiết tinh dầu riêng lẻ. Phân họ hoa hình lƣỡi nhỏ có ống nhựa mủ có đốt và hình mạng 3.
Chi Wedelia Các cây họ Cúc (Asteraceae) gồm 104 loài cây thuộc chi Wedelia. Chi đƣợc đặt theo tên của nhà thực vật học và bác sĩ ngƣời Đức tên Georg Wolfgang Wedel (1645-1721) 37. Thân: cỏ sống lâu năm. Thân thẳng đứng hoặc bò lan trên mặt đất, phân cành nhánh 37.
Lá: mọc đối, hiếm khi so le, viền nguyên hoặc răng cƣa 37. Cụm hoa: đầu, ở tận cùng hoặc nách lá, có đƣờng kính lớn hơn 1cm, đơn độc hay 2-4 cụm hợp lại, mỗi cụm hoa có cuống riêng. Cụm hoa đầu, dạng tỏa tròn, trong có 2 loại hoa; ở viền 1 hàng hoa cái; ở giữa là hoa lƣỡng tính, hiếm gặp hoa đực riêng 37. Lá bắc: ở tổng bao 2-3 hàng, xếp lợp thành hình bán cầu hoặc hình chuông 37.
4 Luan van Đế hoa: lồi, có vảy 37. Tràng hoa: ở viền dạng lƣỡi nhỏ, ống tràng rất ngắn, phiến lƣỡi phía đầu có 2-3 răng, màu vàng tƣơi; hoa ở giữa có tràng hình ống, đầu loe dạng chuông có 5 thùy màu vàng sẫm 37. Bao phấn: thƣờng màu nâu, đỉnh nhọn, gốc tù 37. Quả: đóng hình trứng, ít nhiều bị ép, quả đóng của hoa ở viền có 3 góc; còn của hoa ở giữa có 4 góc; đỉnh quả có vảy hoặc 1-2 lông cứng, không mào lông 37.
Loài Sài đất ba thùy ( Wedelia trilobata (L.) Tên Việt nam: Sài đất ba thùy. Tên thƣờng gọi: Sài đất kiểng, Sơn cúc ba thùy, Cúc xuyến chi. Tên khoa học: Wedelia trilobata (L. Tên đồng danh: Sphagneticola trilobata (L., Wedelia carnosa Wedelia paludosa DC.
Vị trí của cây Sài đất ba thùy ( Wedelia trilobata (L.) trong hệ thống phân loại thực vật Ngành Thực vật có hạt ( Spermatophyta) Phân ngành Hạt kín ( Angiospermae) Lớp Hai lá mầm ( Dicotyledonae) Bộ Cúc ( Asterales) Họ Cúc ( Asteraceae) Chi Wedelia Loài Wedelia trilobata (L. Mô tả thực vật Hình 1. Hình thái loài Wedelia trilobata (L. Phác thảo hình thái; B.
Cụm hoa dạng đầu; C. Tổng bao lá bắc; D. Hoa lƣỡng tính; E. Lá bắc nhỏ mọc ở vòng ngoài, b.
Lá bắc nhỏ mọc ở vòng trong Thân: Cây thảo sống lâu năm, dài khoảng 10 – 30cm, có thể mọc thẳng đứng cao đến 45 - 60cm, bò lan đến 1,8m. Cây thƣờng mọc thành từng mảng, dày đặc che kín mặt đất. Thân bò, màu hơi đỏ hoặc xanh, tròn, rễ mọc tại các đốt, dài 10-30cm. Phần mọc hƣớng lên có lông thô, cứng, rậm rạp, đôi khi nhẵn, không lông 41.
Lá: đơn, mọc đối, dày, dài khoảng 4-9cm, rộng 2-5cm, có răng cƣa ở 2 bên thùy lá, có lông cứng và thô ở cả hai mặt lá. Hình thuôn bầu dục, nhọn đầu. Hệ gân lá cong hình cung và lông chim 41. Cụm hoa: hình đầu, mọc từ nách lá, mang hoa không đều ở vòng ngoài 41.
Hoa: đơn, mọc ở nách lá, màu vàng tƣơi, nhiều cánh thành tầng, cuống hoa dài 3- 10cm, tổng bao có dạng chuông hoặc bán cầu, đầu hoa thƣờng có khoảng 8 - 13 hoa tia, cánh dài 6 -15mm, đĩa tràng hoa dài 4 - 5mm.