MỞ ĐẦU Ngày nay cùng với sự phát triển của khoa học, y học, nhiều loại bệnh đã đƣợc phát hiện và nghiên cứu thành công các phƣơng thuốc điều trị. Ðể đáp ứng đƣợc hết nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của nguời bệnh, các nhà duợc liệu đã nghiên cứu, tổng hợp đƣợc nhiều loại thuốc đặc trị với quy mô công nghiệp. Tuy nhiên, sau một thời gian sử dụng thì một số loại thuốc tổng hợp lại có tác dụng phụ không mong muốn. Chính vì vậy con nguời có xu hƣớng trở lại với thiên nhiên, từ cây cỏ phân tích, giải mã các thành phần hoá học cũng nhƣ dƣợc tính của chất trong cây với mong muốn tìm ra các phuong thuốc mới an toàn cho sức khoẻ nguời tiêu dùng.
Mặt khác, nuớc ta là một nuớc nhiệt đới gió mùa, có khí hậu nóng và ẩm nên nguồn thực vật tự nhiên rất phong phú và đa dạng. Vì những lý do này mà việc nghiên cứu thành phần hóa học của cây cỏ ngày càng đƣợc đẩy mạnh. Cây me thuộc chi Tamarindus của họ Đậu (Fabaceae) có giá trị sử dụng cao, các bộ phận của cây me đều đƣợc dùng trong cuộc sống hàng ngày. Trong các bộ phận của cây me, hạt me không chỉ là nguồn dinh dƣỡng giàu protein (13-27%), và chứa một lƣợng lớn các acid amin thiết yếu, nhƣ isoleucine, leucine, lycine, methionine, phenylalanin, valine mà còn là nguồn cung cấp acid béo thiết yếu, khoáng chất đặc biệt là canxi, photpho và kali tƣơng đối cao so với các loại đậu khác.
Các nghiên cứu trong và ngoài nƣớc về thành phần hóa học chỉ tập trung vào polysaccharide của hạt me mà chƣa chú trọng tới các thành phần có hoạt tính sinh học nhƣ các polyphenol. Từ kết quả sàng lọc hoạt tính chống oxy hóa và tyrosinase của 60 loại phụ phẩm Việt Nam (2014-2016) của nhóm tác giả P. Đào và cộng sự[1] đã phát hiện ra cao chiết ethanol từ hạt me có hoạt tính cao tƣơng ứng giá trị IC50 đối với phép thử ức chế gốc tự do DPPH là 6,91 µg/mL, phép thử ức chế H2O2 là 113,8 µg/mL, tổng hàm lƣợng flavonoid là 848,8 CE/100 g mẫu. Đây là một phát hiện quan trọng, và là lý do cần thiết để nghiên cứu sâu hơn về thành phần hóa học của hạt me nhằm góp phần mở rộng khả năng ứng dụng của hạt me Việt Nam trong thực tiễn.
1 do an Với các lý do nêu trên, chúng tôi chọn đề tài " phân lập chất từ phân đoạn TI-D của cao ethyl acetate điều chế từ hạt me (Tamarindus indica L.)" để tiến hành nghiên cứu với mục tiêu: - Phân lập các hợp chất tinh khiết từ hạt me bằng các phƣơng pháp trích ly, sắc ký cột, sắc ký bản mỏng. - Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập đƣợc bằng các phƣơng pháp phổ nghiệm hiện đại nhƣ cộng hƣởng từ hạt nhân một chiều và hai chiều. 2 do an CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Mô tả thực vật 1.1 Phân loại khoa học Me (Tamarindus indica L.) là một loại cây nhiệt đới đƣợc trồng rất nhiều ở các nƣớc châu Á[2], có phân loại khoa học[3] là: - Giới: Plantae - Bộ: Fabales - Họ: Fabaceae - Chi: Tamarindus - Loài: Tamarindus indica L Hình 1.1 Ảnh minh họa cây me Cây me cao 15-30 m, đƣờng kính 60-100 cm, thân thẳng không tròn, hơi vặn xoắn, nhiều cành tán cây rộng, nhiều lá. Lá cây me có dạng kép lông chim chẵn, dài từ 8 đến 10 cm, gồm 10 đến 20 đôi lá chét thuôn không cân xứng, chóp lõm, dài 20 mm, rộng 2 mm.
Hoa trắng nhạt có những vệt đỏ hay trắng, mọc thành chùm đơn ở kẽ lá hay thành chùy tận cùng. Quả dài mọc thõng xuống, hơi dẹt, dài 7-12 cm, rộng 25 mm, dày 10 mm. Vỏ quả ngoài mỏng, cứng, giòn, màu hung đỏ, vỏ quả giữa có xơ, vị chua, sau khi loại hết xơ, thịt thì phần hạt ở giữa có màu nâu nhạt hay vàng nhạt. Quả chứa 3-5 hạt dẹt, nhẵn màu nâu đỏ, bóng.
Mùa quả vào tháng 10-11.[2] 3 do an Hình 1.2 Ảnh minh họa quả me và hạt me 1.2 Phân bố và sinh thái Họ Đậu (Fabaceae) là một họ thực vật lớn với khoảng 500 chi và gần 1.200 loài, phân bố rộng, chủ yếu ở vùng ôn đới. Ở nƣớc ta có khoảng 90 chi và 450 loài. Theo Trung tâm dữ liệu thực vật Việt Nam, họ Đậu rất phong phú về dạng sống: cây gỗ, cây bụi, thân thảo, dây leo, dây leo thân thảo. Cây me là cây bản địa của vùng nhiệt đới châu Phi nhƣng đƣợc phân bố rộng rãi trên toàn thế giới với trên 50 quốc gia.
Diện tích trồng phần lớn tập trung tại các nƣớc châu Á nhƣ Ấn Độ, Thái Lan, Băng La Đét, Srilanka và Indonecia. Cây me là cây ƣa sáng, ƣa nhiều kiểu đất khác nhau. Ở nƣớc ta, cây me đƣợc trồng nhiều ở các vùng nhƣ ở Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phú, Quảng Ninh, Hải Phòng, Bắc Thái, Lai Châu, Sơn La, Hà Tây, Hoà Bình, Nam Hà, Ninh Bình, Thanh Hóa và các tỉnh phía nam, còn đƣợc trồng ở các vƣờn quanh nhà hoặc trồng ở ven đƣờng và trong các vƣờn hoa làm cây cho bóng mát.[2] Gỗ thân cây me cứng, không mịn, có thể đóng đồ đạc bàn ghế thông thƣờng. Đối với quả me, phần thịt me đƣợc sử dụng chủ yếu để phục vụ cho ngành công nghiệp thực phẩm nhƣ kẹo, mứt, nƣớc giải khát,.
Vỏ me, hạt me đƣợc xem nhƣ là phụ phẩm. Phụ phẩm hạt me đƣợc thải bỏ và một phần rất nhỏ đƣợc thu gom làm hạt giống. Hiện nay, nguồn phụ phẩm hạt me đang thải bỏ ra môi trƣờng không chỉ gây tác động ô nhiễm tới môi trƣờng mà còn gây lãng phí một nguồn tài nguyên các hoạt chất sinh học quý báu.3 Thành phần hóa học và dinh dưỡng của T.1 Thành phần dinh dưỡng của me Hạt me không chỉ là nguồn dinh dƣỡng giàu protein (13-27%), và chứa một lƣợng lớn các acid amin thiết yếu, nhƣ isoleucine, leucine, lycine, methionine, phenylalanin, valine mà còn là nguồn cung cấp axit béo thiết yếu, khoáng chất đặc biệt là canxi, photpho và kali tƣơng đối cao so với các loại đậu khác. Trong quả me, thịt quả chiếm 30-50% của quả chín; vỏ và xơ chiếm khoảng 11-30% và hạt khoảng 25- 40% .1) Trong quả me chứa hơn 10% acid hữu cơ (9,4% acid citric, 1,55% acid tactric, 0,45% acid malic), kali bitactrat 3,25%, đƣờng 12,5%, gum 4,70%, pectin 6,25%.
Ngoài ra còn có 34,35% xơ, nƣớc 27,55%. Trong hạt có glucozan, xylan, protein, chất béo, muối vô cơ.1 Thành phần hóa học trong hạt me Protein 13-27% Lipid 4,5-16% Tổng lƣợng đƣờng 11-29% Carbonhydrate 50-57% Albuminoids 14-18% Smidrying oil 4,5-6,5% 1.2 Thành phần hóa học của me Bằng các phƣơng pháp sắc ký, phổ nghiệm, GC-MS các nhà khoa học đã xác định đƣợc các hợp chất từ cao methanol và cao nƣớc của các bộ phận khác nhau (lá, hạt, vỏ hạt) từ cây T.2 Các hợp chất trong cây T. indica STT Bộ phận Hợp chất 1-Metyl-4-propylbenzene (1), limonene (2), geraniol (3), 1 Lá longifolene (4), caryophylene (5), 2,6-di-tert-butyl-4- methylphenol (6), methyl 3,5-di-tert-butyl-4- 5 do an hydroxybenzoate (7), methyl hexadecanoate (8), 6,10,14- trimetylpentadeca-5,9, 13-trien-2-one (9), p-cymene (10), lupanone (11), lupeol (12), methyl 9,12,15- octadecatrienoate (13), phytol (14), methyl 7, 10- octadecadienoate (15), 10-octadecenoic acid (16), Cryptopinone (17), methyl 15-tricosenoate (18) , diphenyl-ether (19), 10-octadecenoic acid (20), hexadecanoic acid (21), 3-eicosine (22), methyl 9,12,15- octadecenotrienoate ester (23), methyl 7, 10- octadecenotrienoate ester (24), malic acid (25), tartaric acid (26), benzene-1,2-dicarboxylic acid (27), nonadecanoic acid (28), luteolin 7-o-glucoside (29), luteolin (30), apigenin (31), iso-orientin (32), orientin (33), vitexin (34), pipecolic acid (35) Phlorotannins (36), succinic acid (37), citric acid (38), tartaric acid (26), formic acid (39), malic acid (40), 2 Quả pectin (41), trans-2-hexanal (42), 2-ethylthiazole (43), 2- methylthiazole (44) Campesterol (45), β-amyrin (46), β-sitosterol (47), palmitic acid (48), oleic acid (49), eicosanoic acid (50), uzarigenin-3-O-β-D-xylopyranosyl (1-2)-α-L rhamnopyranoside (51), 2-hydroxy-3’,4’- 3 Hạt dihydroxyacetophenone(52); methyl 3,4- dihydroxybenzoate (53), 3,4-dihydroxyphenylacetat (54), (+)-epicatechin (55), procyanidin B2 (56), procyanidin trimer (57), procyanidin tetramer (58), procyanidin pentamer (59), procyanidin hexamer (60) n-hexacosane (61), eicosanoic acid (51), β-sinosterol 4 Rễ (47), (+)-pinitol (62), octacosanyl ferulate (63), 21- oxobehenic acid (64), apigenin (31), vitexin (34) 6 do an Limonene (2) geraniol (3) p-cymene (10) caryophylene (5) longifolene (4) lupeol (12) lupanone (11) Campesterol (45) β-sitosterol (47) palmitic acid (48) Hình 1.3 Cấu trúc một số hợp chất steroid, terpen và chất béo từ cây T. Indica 7 do an Procyanidin B2 (56) Procyanidin trimer (57) Apigenin (31) Vitexin (34) (+)-Epicatechin (55) 8 do an (58), (59), (60) n (58) n=1: Procyanidin tetramer (59) n=2: Procyanidin pentamer (60) n=3: Procyanidin hexamer (52) R= COCH2OH: 2-hydroxy-3’,4’-dihydroxyacetophenone (53) R= COOCH3: methyl 3,4-dihydroxybenzoate (54) R= OCOCH3: 3,4-dihydroxyphenylacetate Luteolin 7-o-glucoside (29) 2,6-di-tert-butyl-4-methylphenol (6) 9 do an Iso-orientin (32) Orientin (33) Phlorotannins (36) Hình 1.4 Cấu trúc một số hợp chất polyphenol và flavonoid từ cây T.4 Những nghiên cứu về dược học 1.1 Những kinh nghiệm dân gian[4] Ở Việt Nam, me đƣợc trồng phổ biến từ lâu, từng hàng me xanh mƣớt dọc đƣờng phố, đƣờng làng ngõ xóm, trong các vƣờn cây ăn quả.
Các bộ phận của cây đều dùng làm thuốc. Thanh nhiệt, giải độc, giải rƣợu: Từ lá đến quả me đều chứa một lƣợng acid amin nên có thể nấu thành một món ăn bổ dƣỡng, thanh mát, giải nhiệt và thơm dịu. Chất axit trong quả me có thể giải độc, loại bỏ các cơn đau họng, giúp tiêu hóa, giải rƣợu. Bổ sung dinh dƣỡng: Cùi thịt quả me rất giàu đƣờng, acid acetic, acid tartaric, acid formic, acid citric và các thành phần khác, là gia vị chủ yếu trong ngành công nghiệp thực phẩm nhƣ đồ uống, mứt và các sản phẩm khác.
Ngoài ra, quả rất giàu canxi, phốt pho, sắt và các yếu tố vi lƣợng khác, bao gồm tỷ lệ canxi đứng đầu trong tất cả các loại trái cây. Hỗ trợ tiêu hóa: Trong y học, quả me cũng đƣợc sử dụng rộng rãi để chữa tiêu chảy, nôn mửa, đầy hơi và khó tiêu. Ngƣời ta có thể pha bột me trong nƣớc để uống, 10 do an có tác dụng chữa chứng mất cảm giác ngon miệng và kén ăn. Những ngƣời bị khô miệng, dễ bị kích ứng, dùng me sắc thành nƣớc uống, thêm đƣờng để làm thành món đồ uống ngọt ngào.
Ngƣời bị táo bón có thể nấu me thành nƣớc để uống thay nƣớc. Tăng cƣờng khả năng miễn dịch: quả me giàu vitamin C nên me giúp tăng cƣờng khả năng miễn dịch cho cơ thể, hạn chế các nguy cơ mắc bệnh. Chữa cảm lạnh: Bột và thịt me có thể làm món súp nóng dùng để trị bệnh cảm lạnh theo cách chữa bệnh cổ truyền của ngƣời Ấn Độ. Mặc dù đã có nhiều tác giả đã công bố về các ứng dụng đa dạng của các bộ phận cây me và đƣợc đƣa vào sử dụng trong cuộc sống.