CHƯƠNG 1. Tổng quan về chi Leea 1. Lịch sử nghiên cứu Các loài thuộc chi Leea được trồng tại châu Âu từ rất sớm vào khoảng năm 1767. Tác giả Rheede Tot Draakestein HA Van (1678) là người đầu tiên mô tả các loài thuộc chi Leea và đặt dưới tên gọi Nalugu [46].
Theo hệ thống phân loại của tác giả Engler A (1964), chi Leea được đặt trong bộ Táo (Rhamnales) và rất gần với họ Nho (Vitaceae), do giữa chúng có nhiều điểm tương đồng như: nhị đối diện với cánh hoa và hạt có nội nhũ cuốn. Tuy nhiên vẫn có nhiều điểm khác biệt bao gồm số lượng noãn trên mỗi ngăn (hai ở Vitaceae và một ở Leeaceae), số lượng lá noãn (hai ở Vitaceae và ba ở Leeaceae), và sự vắng mặt hay hiện diện của ống nhị lép (có trong Leeaceae) và đĩa hoa (có trong Vitaceae). Trước đây chi Leea được xếp vào họ Nho (Vitaceae), đến năm 1829 được tách thành một họ riêng (họ Gối hạc - Leeaceae) bởi tác giả Dumorti r BC. Như vậy, qua tham khảo các tài liệu, kể từ năm 1829 đến nay việc tách họ Gối hạc ra khỏi họ Nho là quan điểm chung của nhiều nhà thực vật học trong và ngoài nước như Gagnepain F, Van Welzen PC, Võ Văn Chi, Nguyễn Tiến Bân…[1,2].
Đặc điểm hình thái của chi Leea Cây bụi nhỏ, hiếm khi là cây thảo lớn nhiều năm. Thân nhẵn hoặc có các hàng gai; không có tua cuốn. Lá kép lông chim gấp 1-4 lần lá kép ba hoặc đơn; lá kèm dạng cánh ở mép cuống lá, lá chét nhẵn hoặc có lông tơ với lông đơn, mép lá có khía đến răng cưa, răng có tuyến nhỏ ở đỉnh, mặt dưới thường có lông đa bào, hình sao hoặc dạng tuyến hình cầu chuyên biệt. Cụm hoa hình chùy, thường mọc thành chùm, mọc thẳng hoặc rủ xuống.
Hoa lưỡng tính, 4 hoặc 5 hoa, đài dạng chuông, thùy đài hình tam giác có tuyến ở chóp thùy. Bầu noãn hình cầu, 4-8 ô, mỗi ô có 1 noãn. Cánh hoa xếp van, chóp thường cụp, đỉnh thường có hình bầu dục, phần gốc hợp sinh với mô của nhị lép và phần dưới đĩa mật; đĩa mật dạng ống, nằm trong nhị. Nhị 4 hoặc 5 bằng với số cánh hoa, xếp xen kẽ với thùy đĩa mật.
Noãn có hình quả trám hoặc hình lông chim kéo dài. Quả thường mọng, hình cầu dẹt, màu tía, đen hoặc vàng cam. Hạt có nội nhũ nhăn với 5 rãnh; phôi dạng dải [48]. Cấu tạo hoa của một số loài trong chi Leea được trình bày trong hình 1.
2 Luan van Hình 1. 1: Cấu tạo hoa của các loài Leea Hình 1. 2: Cấu tạo hoa của các loài Leea indica (1-7), Leea amabilis (8-10), Leea crispa (1-3), Leea magnifolia (4-5), Leea setuligera (11-12). Các loài thuộc chi Leea và sự phân bố tại Việt Nam và trên thế giới 1.
Trên thế giới Cho đến nay, theo các nghiên cứu thì chi Leea có khoảng 34 loài, phân bố rộng khắp ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Á, Châu Phi và Châu Úc. Trong đó, châu Phi và Madagasca có 02 loài, ở Trung Quốc có 10 loài (02 loài đặc hữu), Thái Lan có 11 loài. Dựa theo tài liệu Thực vật chí Malesiana, sự phân bố của 34 loài thuộc chi Leea được trình bày ở bảng 1. 3 Luan van Bảng 1.1: Phân bố của các loài thuộc chi Leea [12,30,37,45].
STT Tên loài Phân bố Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Bangladesh, Myanmar, Campuchia, Malaysia, Sumatra, 1 Leea aequata L. Java (Indonesia), Philippines, Đảo Lesser Sunda, Moluccas, Thái Lan, Lào, Việt Nam. Đảo Nicobar, Sumatra, Java (Indonesia), Leea angulata Korth. 2 Bornea, Philippines, Sulawesi, Moluccas, ex Miq.
3 Leea alata Edgeworth Ấn Độ, Bhutan, Nepal Leea aculeata Blume Sumatra, Tây Java, Borneo, Philippines, 4 ex Spreng. Tây New Guinea Leea amabilis Veitch 5 ex Mast. Borneo Leea acuminatissima 6 Philippines Merr. Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Campuchia, Lào, Leea asiatica Việt Nam, Myanmar, Trung Quốc, Nam 7 Ridsdale Phi, Thái Lan Leea compactifolia Trung Quốc, Bangladesh, Bhutan, Ấn Độ, 8 Lào, Myanma, Việt Nam Kurz 9 Leea curtisii King Việt Nam, Malaysia, Thái Lan 10 Leea congesta Elmer Luzon (Philippines) Leea coryphantha 11 New Guinea Lauterb.
Châu Phi, Madagascar, Ấn Độ, Bhutan, Leea guineensis Nepal, Campuchia, Lào, Việt Nam, G.Don 12 Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Trung Quốc. Li Trung Quốc 14 Leea gonioptera Laut. New Guinea Leea grandifolia 15 Đảo Andaman và Nicobar Kurz Ấn Độ, Ceylon, Nepal, Bangladesh, Leea indica (Burm.) Campuchia, Lào, Việt Nam, Myanmar, Thái 16 Merr. Lan, Nam Trung Quốc, Sumatra, Java (Indonesia), Malaysia, New Guinea, 4 Luan van Philippines, Bắc Australia, Tây Thái Bình Dương đến Tonga Leea krukoffiana 17 New Guinea Ridsdale Leea magnifolia 18 Philippin Merr.
Leea macrophylla Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Campuchia, 19 Roxb. Lào, Bangladesh, Myanmar Leea macropus K. 21 Leea longifolia Merr. Trung Quốc Leea philippinensis 22 Luzon (Philippin), Đài Loan Merr.
Leea papuana Merr.Perry 24 Leea quadrifida Merr. Luzon (Philippin) Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Campuchia, Lào, Leea rubra Blume ex Bangladesh, Myanmar, Sumatra, Java 25 Spreng. (Indonesia), Việt Nam, New Guinea, Bắc Australia, Thái Lan 26 Leea saxatilis Ridl. Leea simplicifolia Thái Lan, Malaysia, đảo Sumatra 27 Zoll.
& Moritzi Đông và Tây Java (Indonesia) Leea setuligera 28 Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan Clarke 29 Leea smithii Koorders Celebes 30 Leea thorelii Gagnep. Campuchia, Lào, Việt Nam, Thái Lan Đảo Solomon (Bougainville, 31 Leea tetramera Burtt Choiseul, New Georgia) 32 Leea tinctoria Baker Sao Tome I 33 Leea unifoliata Merr. Philippines 34 Leea zippeliana Miq. New Guinea Như vậy, các loài thuộc chi Leea phân bố chủ yếu tại vùng nhiệt đới như các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Úc và Châu Phi.4 mô tả khu vực phân bố của các loài thuộc chi Leea [15].
5 Luan van Hình 1. 3: Phân bố địa lý của chi Leea [15] Hình 1. 4: Phân bố địa lý của chi Leea theo Thực vật chí Malaysia [12] 1. Tại Việt Nam Khi nghiên cứu về họ Gối hạc (Leeaceae) ở Việt Nam, tác giả Phạm Hoàng Hộ là người đầu tiên mô tả mô tả sơ bộ hình thái của loài thuộc chi Leea trong tài liệu “ Cây cỏ Việt Nam” tập II [3].
Sau đó, trong tài liệu “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” tập II, tác giả Nguyễn Tiến Bân đã liệt kê 10 loài thuộc chi Leea ở Việt Nam [1]. Qua nghiên cứu của các nhà thực vật học cho thấy, ở Việt Nam có hiện có 8 loài thuộc chi Leea bao gồm: Leea rubra Blume ex Spreng., Leea compactiflora Kurz, Leea asiatica Ridsdale, Leea thorelii Gagnep. Don, Leea aequata L., Leea indica (Burm. và Leea curtisii King.
Các loài thuộc chi Leea phân bố rộng khắp, trải dài khắp cả nước. Trong đó, một số loài có phân bố hẹp như Leea thorelii Gagnep. và Leea asiatica Ridsdale chỉ có ở các tỉnh phía Nam. Loài Leea compactiflora Kurz chỉ có ở miền Bắc, một số loài khác như Leea 6 Luan van guineensis G.
Don, Leea rubra Blume ex Spreng. có phân bố khá rộng trải dài từ Bắc vào Nam [6]. Thành phần hóa học Cho đến nay trên thế giới, các nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Leea là tương đối ít. Các kết quả nghiên cứu đã công bố cho biết những nhóm chất chính trong một số loài thuộc chi Leea thông qua định tính bằng phản ứng ống nghiệm và sắc ký lớp mỏng.
Năm 2014, Abdullah Al Faruq và các cộng sự đã nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá các tác dụng chống đái tháo đường của Leea macrophylla trên mô hình động vật cảm ứng streptozotocin. Kết quả nghiên cứu dịch chiết lá của loài Leea macrophylla Roxb. cho thấy trong thành phần có chứa các nhóm chất alcaloid, tanin, steroid, không có flavonoid và saponin [8]. Tác giả Brahman M cũng đã công bố rễ của loài Leea compactiflora Kurz chứa alcaloid, flavonoid.
Năm 2013, từ dịch chiết hạt của loài Leea macrophylla Roxb., tác giả Islam MB đã tiến hành sàng lọc các nhóm chất và xác định thành phần hóa học của mẫu thử có chứa nhóm phenolic, saponin [23]. Cùng thời điểm đó, Chattiranan S và cộng sự cũng đã đưa ra kết quả sàng lọc của lá Gối hạc Leea rubra có chứa alcaloid, flavonoid, saponin, steroid, triterpenoid và tanin [38]. Thông qua việc tra cứu và phân tích các tài liệu đã công bố cho thấy, các hợp chất tinh khiết phân lập được từ các loài thuộc chi Leea chủ yếu thuộc các nhóm triterpenoid, flavonoid, các dẫn chất của acid benzoic và tinh dầu. Năm 2013, Dewanjee S và cộng sự đã sử dụng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) với detector V để phân tích thành phần hóa học trong cao methanol của lá loài Leea macrophylla.
Các triperpenoid được phát hiện trong mẫu thử bao gồm các hợp chất lupeol, β-amyrin, β-amyrin palmitat, acid ursolic và acid oleanolic [16]. Một số hoạt chất thuộc nhóm Flavonoid cũng đã được tìm thấy trong hầu hết các loài thuộc chi Leea. Năm 1959, Bates-Smith EC và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu thành phần hóa học trong lá của loài Leea coccinea Planch. (tên đồng nghĩa Leea guineense G.
Kết quả định tính bằng sắc ký lớp mỏng cho thấy sự tồn tại 5 hợp chất flavonoid bao gồm kaempferol, quercetin, myricetin, delphinidin, cyanidin [10]. Năm 2007, từ lá của loài Leea thorelii Gagnep., dựa theo phương pháp quang phổ, Kaewkrud W và cộng sự cũng đã tiến hành phân lập và xác định 7 Luan van được 5 hợp chất trong đó có một diglycoside megastigmane mới, 2 hợp chất flavonoid là quercitrin và myricitrin cùng với 1 benzyl và citroside A [25]. Ngoài ra, các acid phenolic là dẫn chất của acid benzoic cũng đã được tìm thấy trong một số loài của chi Leea như acid p-hydroxybenzoic, acid protocatechuic, acid gentisic, ethyl gallat, n-butyl gallat … Hợp chất acid gallic được tìm thấy trong nhiều loài thuộc chi Leea như trong lá của loài Leea guineense [31], trong lá và rễ loài Leea indica [43]. Bên cạnh đó, hàm lượng và thành phần các hợp chất có trong tinh dầu của một số loài thuộc chi Leea cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu.
Năm 2000, Op de Beck P và cộng sự đã tiến hành chưng cất lôi cuốn hơi nước và xác định thành phần tinh dầu từ thân và lá của loài Leea guineensis G. Don bằng phương pháp GC-MS. Kết quả có 69 hợp chất tinh dầu đã được xác định [11]. Nghiên cứu chưng cất tinh dầu từ lá loài Leea hirta Roxb.
đã được hai tác giả Gupta KC và Chopra IC thực hiện đã chỉ ra rằng hàm lượng tinh dầu trong lá của loài này chiếm 0,15% [19]. Một số công thức cấu tạo các thành phần thuộc chi Leea đã công bố được trình bày trong bảng 1. Các hợp chất hóa học được phân lập từ các loài thuộc chi Leea [6]. Lupeol Squalen β-amyrin Triterpenoid Acid ursolic Acid oleanolic β-amyrin palmitat 8 Luan van Flavonoid Kaempferol Quercetin Myricetin Cyanidin Quercitrin Delphinidin Các acid phenolic Ethyl gallat Acid protocatechuic Acid gentisic 1.