Đặt vấn đề Hồng môn (Anthurium spp.) là loại hoa được sử dụng làm hoa cắt cành hay trồng trong chậu và là mặt hàng quen thuộc và có giá trị kinh tế cao trên thị trường hoa thế giới. Loại hoa này được sản xuất chủ yếu ở Hà Lan và Hawaii, tuy nhiên hoa Hong môn lai chưa được phổ biến trên thị trường hoa Việt Nam. Chính sự đa dạng về màu sắc, kiểu dáng, thời gian sử dụng lâu dài làm cho nhu cầu về loại hoa này ngày càng tăng cao, việc sản xuất hoa Hồng môn càng được mở rộng nên cần một nguồn cung cấp cây giống lớn. Trong khi đó khả năng nhân giống tự nhiên của Hồng môn rất chậm (1 năm chi cho 1-3 mầm/cây).
Muốn đây mạnh sản xuất Hồng môn ở Việt Nam trước hết cần phải nhân nhanh các giống có giá trị thương mại cao. Lâm Đồng, với lợi thế về khí hậu và đất đai, các loại cây trồng ưa lạnh trong đó có Hồng môn đang được phát triển khá mạnh do có hiệu quả kinh tế cao. Nhu cầu về giống hoa Hồng môn hiện nay tại Lâm Đồng nói riêng và các tỉnh phía Bắc nói chung là rất lớn. Số lượng hoa cắt cành của loại hoa này không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước.
Hồng môn được trồng nhiều ở Lâm Đồng và một số tỉnh phía Bắc. Giống hoa Hồng môn hiện có tại Việt Nam nhập từ các nước với giá thành rất cao và chưa thé chủ động được trong việc sản xuất giống. Mặt khác, việc trồng hoa Hồng môn chưa thé trồng đại trà như các loại hoa khác được do mức dau tư ban đầu cho sản xuất các đối tượng này rat cao bao gồm nhà lưới, vòm che nilon. kế cả cây giống.
Lượng cây giống cần cho sản xuất hàng năm lại lớn (60.000 cây Hồng môn/ha) nên đã phần nào hạn chế sản xuất mặc dù chúng có hiệu quả kinh tẾ cao so với một số loại rau, hoa khác. Chính vì thế, việc khảo nghiệm và nhân nhanh giống Hồng môn với số lượng lớn phục vụ sản xuất là nhu cầu tất yếu phải thực hiện nhằm chủ động nguồn giống sản xuất tại chỗ phục vụ nghiên cứu, sản xuất và hướng đến xuất khẩu giống va hoa cắt cảnh của loại hoa này. Xuất phát từ tình hình thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “So sánh đặc điểm sinh trưởng, phát triển một số giỗng Hong môn (Anthurium spp.) tại Lam Đồng và nhân nhanh bằng phương pháp nuôi cấy mô”.2 Mục tiêu của đề tài Chọn được một số giống hoa Hồng môn, thích hợp với điều kiện sinh thái Lâm Đồng, có giá trị kinh tế, đồng thời xây dựng được quy trình nhân giống in vitro cho cây này. Giới hạn đề tài - Thí nghiệm so sánh giống Hồng môn chỉ thực hiện tại Bảo Lộc, Lâm Đồng.
- Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng của các loại giá thể chỉ đánh giá sự sinh trưởng, phát triển của cây Hồng môn trên các loại giá thể khác nhau, chưa so sánh đánh giá hiệu quả kinh tế giữa các loại giá thé nay. Chương 2 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Giới thiệu về cây Hồng môn Cây hoa Hồng môn được phân loại như sau: Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Liliopsida Bộ: Arales Ho: Araceae Toc: Anthurieae Chi: Anthurium Loài: Anthurium spp. Cây Hồng môn thuộc ho Araceae là một loại cây than cỏ lâu năm có nguồn gốc từ các nước nhiệt đới trung và nam Mỹ. Cây có lá, hoa mọc thành cụm tập trung tại phần thân gần rễ.
Lá phang hình mũi giáo hay hình tim, có một gân chính to và các gân phụ nhỏ hơn xếp dạng lưới. Cuống lá cứng hình trụ, phần cuối cuống lá bao bọc lấy thân cây. Mo do lá biến đổi thành được gọi là hoa, có dang phẳng hình mũi giáo, hình tròn hoặc hình tim với màu sắc rat đa dạng. Ở vị trí gắn với cuống của mo có một hoa mo hình trụ hơi thon lại ở đỉnh (còn được gọi là ngoi), trên đó có gắn các hoa nhỏ li ti theo hình xoắn ốc, ngòi cũng có nhiều màu sắc khác nhau tùy theo từng loài (Van Herk và cs, 1998 ).
Theo Van Herk, ở điều kiện nhiệt đới, cây hoa Hồng môn thích hợp trong những điều kiện sau: + Nhiệt độ: đề cây sinh trưởng phát triển tốt, cho sản lượng hoa tối ưu nên duy trì nhiệt độ trung bình từ 20-24°C, nhiệt độ tối đa không vượt quá 30°C và nhiệt độ thấp nhất không đưới 15°C vì nó sẽ làm chậm sự phát triển và giảm sản lượng hoa. Nhiệt độ ban đêm khoảng 15°C sẽ không gây hại trực tiếp đến cây trồng, nhưng sẽ có ảnh hưởng xấu đến chất lượng và sản lượng hoa sau này. + Am độ: độ âm tương đối quá thấp sẽ làm giảm tốc độ quang hop, ngược lại độ am tương đối quá cao sẽ gia tăng nguy co mắc bệnh nắm mốc. Hồng môn đòi hỏi phải duy trì độ 4m tương đối trong phạm vi 60-80%.
Khi độ 4m thấp hơn 40% thì rất nguy hại đến cây trồng, làm cây phát triển chậm và khô héo. Độ âm không được quá 90%, vì nó sẽ làm cho cây phát triển yếu. + Anh sáng: phạm vi ánh sáng thích hợp cho cây 18000-25000 lux (250-300 watt). Cường độ ánh sáng quá cao sẽ thường dẫn đến kết quả làm cho lá và hoa Hồng môn bị bạt, nếu quá cao sẽ làm cho cây bị cháy lá và hoa.
Nếu thiếu ánh sáng cây sẽ có chất lượng kém va dan ra. Do đó cần phải lam dan che, trồng dưới mái che hoặc đưới bóng cây khác, thông thường độ che bóng là 60%. Cây Hồng môn được trồng đề lấy hoa và tán lá, rất được ưa chuộng vì chúng cho những hoa hoa đẹp, sang trọng, có nhiều màu sắc rực rỡ và khá bền sau khi cắt cành, tán lá rất phù hợp cho việc làm cảnh, trang trí. Cây Hồng môn cho hoa quanh năm, hoa mọc ra từ nách lá, lá và hoa mọc xen kẽ nối tiếp nhau trong suốt đời sông của cây.
Thời gian giữa hai lần ra hoa ngắn hay dài tùy thuộc vào sự thay đổi của môi trường sống. Vào mùa hè cây ra hoa nhiều hơn do nhiều ánh sáng mặt trời và nhiệt độ cao hơn (Aswath va Biswas 2001). Hoa Hồng môn có thể được sử dụng trong nhiều dip như: đám cưới, sinh nhật, ngày tết, lễ hội. hoặc đơn giản dùng để trang trí văn phòng hay trong nhà.
Vì vậy ngành sản xuất Hồng môn nhằm mục đích thương mại đang rất phát triển, đồng thời các nhà nghiên cứu cũng rất chú trọng đến việc lai tạo các giống mới, đặc biệt quan trong là hai loài Anthurium andreanum và Athurium scherzerianum. Ngành san xuất hoa và giống hoa Hồng môn đã dem lại nguồn lợi kinh tế lớn cho nhiều nước trên thế giới như Hà Lan, Nhật, Mỹ.Hiện nay thị trường hoa Hồng môn trên thế giới chỉ đứng sau hoa lan trong nhóm hoa nhiệt đới với 3 thị trường chính là châu Au, Nhật va Mỹ lên đến hàng tỷ USD/năm (Van Herk và cs, 1998). Ha Lan, vùng Caribe và Mauritius là những nước và vùng cung cấp chính cây giống và hoa cho 3 thị trường trên. Các nước Đài Loan, Philippin sản xuất chủ yếu cho thị trường nội địa và một phần nhỏ cho thị trường Nhật.2 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của Hồng môn Sự canh tác Hồng môn đã trở nên rất quan trọng trong việc sản xuất hoa cắt cành trên toàn cầu.
Sự canh tác sạch và có bảo vệ đã phát triển được 20 năm ở những nước nhiệt đới dé cải thiện năng suất và chất lượng hoa và giảm vấn đề vệ sinh thực vật, nhưng những tham số khác nhau ảnh hưởng đến sự hình thành hoa thì còn hiểu biết rất ít. Đặc biệt, sự hiéu biết tốt hơn về cấu trúc và chức năng của cây là cần thiết dé giải thích cho sự cấu thành năng suất (Dufour và Guérin, 2003). Hồng môn là một thành viên của ho Araceae (một lá mầm), gồm hơn 100 giống và khoảng 1500 loài, chủ yếu là ở vùng nhiệt đới (Higaki và cs. Blanc (1977a,b) mô tả tổ chức chồi và mẫu nhánh của một số Araceae.
Họ đã mô tả hai hai kiểu cơ bản của chéi mà nó phát triển là đơn trục và phân nhánh. Giai đoạn đơn trục phù hợp với thời kỳ non đã được mô tả bởi Christensen (1971) trong nhân hạt Anthurium andreanum va Anthurium scherzerianum. Trong giai đoạn phân nhánh, mỗi hoa được tạo ra từ một trục lá. Thực vậy, hoa thương mại hoàn hảo là một kiểu phat hoa, có cuống hoa, có màu lá bắc gọi là mo, và một hoa mo (Higaki và cs.
Theo Dufour và Guérin (2003), những cây nuôi cấy mô còn non có sự phát triển đơn trục trước tiên dé phù hợp với giai đoạn non và giai đoạn sinh dưỡng. Sau đó cây sẽ có giai đoạn phân nhánh, có một hoa cho mỗi lá. Dai và Paull (1990) đã nghiên cứu sự sinh trưởng và phát triển của hoa trước và sau khi nở. Họ đã cho thấy rằng những lá phát triển cạnh tranh với những hoa non về sự phân bố đồng hóa.
Sự phát triển của hoa phụ thuộc vào mối quan hệ source-sink trong cây trồng và có thé tăng cường bang cách giảm nguồn sink hoặc tăng nguồn sources. Ở giai đoạn đầu của sự phát triển, cây ra một lá và một chỗồi nách tại mỗi đốt. Lóng, lá và chỗồi tạo thành mắt (mang chéi) đơn trục. Những đốt kế tiếp, mà chúng tạo thành chồi đơn trục là được tạo ra bởi hoạt động liên tục của mô phân sinh đơn của đỉnh.
Sự sắp xếp lá thành hai dãy. Những lá này có màng ngắn bao quanh thân tại gốc của cuống lá. Những long dài khoảng 2cm. Cuối giai đoạn đơn trục được đánh dấu bằng sự mọc lá mà lá này được gọi là lá vảy.
Trong giai đoạn phân nhánh, sư phát triển của mỗi mắt được kết thúc bằng sự ra hoa, khi mô phân sinh đỉnh phát triển, để tăng sự ra hoa. Nó gắn với kiểu cấu trúc Chamberlain được mô tả bởi Halle’ và Oldeman (1970). Sự phát triển liên tiếp của Hồng môn giống với môt số cây trồng khác thuộc họ Araceae đã được mô tả bởi Blanc (1977a,b). Cây trồng có một giai đoạn non đơn trục không có hoa ở giai đoạn này, sau đó đến giai đoạn sinh sản phân nhánh.
Trong điều kiện nhiệt đới không có sự chết sớm nụ hoa, trái ngược với những quy luật thông thường diễn ra ở vùng khí hậu ôn đới (Klapwijk và Van Der Spek, 1988). Trong giai đoạn đơn trục, khi kích thước lá tăng từ lá thứ nhất đến lá kế tiếp, lá xuất hiện một cách rõ rảng thì giảm. Tốc độ phát triển luôn luôn được kiểm soát bởi sự cân bằng source-sink trong cây.