CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ KHU VỰC KHẢO SÁT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHỔ CẬP GIÁO DỤC 1. Khái quát về dân tộc thiểu số ở tỉnh Lào Cai, Lai Châu của Việt Nam 1. Dân tộc thiểu số ở Việt Nam Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số và 53 dân tộc thiểu số.
Dân số của 53 dân tộc thiểu số là 10.455 người chiếm tỷ lệ 13,8% dân số của cả nước (theo số liệu điều tra dân số năm 1999). Các dân tộc thiểu số có quy mô dân số không đồng đều. Có những dân tộc với dân số trên một triệu người như dân tộc Tày, Thái, Mường, Khơ me; năm dân tộc có trên dưới 1 triệu người là Tày, Thái, Khơ me, Mường và Hoa; ba dân tộc có từ 50 vạn đến gần 1 triệu người như Nùng, Mông, Dao; một số dân tộc có từ 10 vạn đến dưới 50 vạn người là Gia rai, Ê đê, Ba Na, Sán Chay, Chăm, Xơ đăng, Sán Dìu, HRê, Cơ Ho.; năm dân tộc tộc có từ hai trăm người đến dưới 1 ngàn người là Ơ Đu (Nghệ An), Bờ Râu, Rơ Măm (Kon Tum), Pu Péo (Hà Giang), Si La (Lai Châu); còn lại là những dân tộc khác có dưới 10 vạn người như Răglây, MNông, STiêng, Khơ mú, Vân Kiều, Giáy, Gié triêng, Tà Ôi, Mạ, Hà Nhì, Xinh Mun, La Chí, Phù Lá, La Hủ, Chứt. Các dân tộc ở Việt Nam phân bố trải rộng trên 3/4 diện tích cả nước.
Ở vùng như Tây Bắc chủ yếu là các dân tộc Thái, Mông, Mường, vùng Đông Bắc có các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Mông; Bắc Trung bộ có các dân tộc Chứt, Vân Kiều, Pa Cô; duyên hải miền Trung có các dân tộc Ka Tu, Raglai, Chăm; Tây Nguyên có các dân tộc Ê đê, Gia Lai, Ba Na, MNông, Xơ đăng, K'Ho. Cil, Mạ, Chu ru; Đông Nam bộ có các dân tộc Stiêng, Khơ me, Châu ro, Chăm, Mạ; Đồng bằng sông Cửu Long có các dân tộc Khơ me, Chăm, Hoa, Chăm. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các dân tộc thiểu số thường cư trú phân tán nhưng họ lại tập trung theo những buôn làng định cư,ngoài ra còn một bộ phận sống xen kẽ với các dân tộc khác trên cùng địa bàn miền núi, vùng cao, vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa; một số ít đồng bào sinh sống ở đồng bằng, hải đảo và đô thị. Các dân tộc ở Việt Nam cư trú chung nhau, không có dân tộc nào ở vùng lãnh thổ riêng.
Tính chất cư trú đó đã tạo điều kiện thuận lợi để các dân tộc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển. Các dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam từ lâu đời đã sớm có ý thức đoàn kết, gắn bó với nhau trong chinh phục thiên nhiên, chống giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước. Sự đoàn kết này đã trở thành nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Hầu hết các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn rộng lớn, có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng và môi trường sinh thái.
Các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở miền núi, với địa bàn rộng lớn chiếm 3/4 diện tích cả nước, bao gồm 19 tỉnh miền núi, vùng cao và 23 tỉnh có miền núi. Đây là khu vực biên giới, cửa ngõ thông thương với các nước láng giềng, có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng của đất nước. Miền núi Việt Nam có nguồn tài nguyên đa dạng phong phú như: đất, rừng, khoáng sản… là tiềm năng to lớn phát triển kinh tế; là đầu nguồn các dòng sông lớn, giữ vai trò đặc biệt quan trọng về cân bằng sinh thái. Các dân tộc phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có những nguyên nhân do lịch sử để lại; và do điều kiện địa lý, tự nhiên khắc nghiệt ở địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số.Bên cạnh một số dân tộc đã phát triển kinh tế - xã hội tương đối cao, vẫn còn nhiều dân tộc trong tình trạng lạc hậu, chậm phát triển.
Phần lớn các dân tộc thiểu số có mức sống thấp, tỷ lệ đói nghèo cao, chậm phát triển hơn so với dân tộc đa số. Một số dân tộc vẫn còn trong tình trạng tự cung 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tự cấp, du canh du cư. Đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển. Mỗi dân tộc có sự khác nhau về quy mô dân số, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội và đều mang những nét văn hoá truyền thống riêng (ngôn ngữ, phong tục, tập quán, trang phục …) tạo nên bản sắc văn hoá của từng dân tộc, góp phần làm phong phú, đa dạng nền văn hoá Việt Nam thống nhất.
Các dân tộc thiểu số Việt Nam có những nét văn hóa độc đáo khác nhau, từ những bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc tạo nên văn hóa Việt Nam phong phú và đa dạng. Hiện nay, bản sắc văn hoá của các dân tộc đều được chú trọng bảo tồn và phát triển trong quá trình giao lưu, hội nhập chung của cả nước. Tình hình dân tộc thiểu số tỉnh Lai Châu, Lào Cai 1. Khái quát về tỉnh Lai Châu, Lào Cai Tỉnh Lai Châu Lai Châu là một tỉnh nằm ở phía Tây Bắc của Việt Nam; phía Bắc giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), phía Đông giáp với tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La; phía Tây và phía Tây Nam giáp tỉnh Điện Biên;cách thủ đô Hà Nội khoảng 450km về phía Tây, có biên giới giáp Trung Quốc dài 273 km.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 9.112 km2 với 6 huyện, thị xã; 98 xã phường, thị trấn (có 66 xã đặc biệt khó khăn, 21 xã biên giới). Dân số toàn tỉnh là 403,20 nghìn người, mật độ dân số là 37 người/km2, có 20 dân tộc anh em sinh sống. Sau khi chia tách, Lai Châu là tỉnh khó khăn nhất, điều đó được thể hiện trên các mặt: địa hình dốc, phân cắt phức tạp, đất đai rộng nhưng thiếu đất sản xuất; xa các trung tâm kinh tế lớn, giao thông đi lại khó khăn; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội kém phát triển, hạ tầng đô thị thị xã và các thị trấn phải xây dựng mới hoàn toàn; quy mô nền kinh tế còn nhỏ bé, phần lớn là tự cung tự cấp, sản xuất hàng hoá nhỏ bé, phân tán, kém hiệu quả; ngân sách quá nhỏ; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm và 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiếu bền vững; tỷ lệ hộ đói nghèo cao; nguồn nhân lực vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng; đặc biệt là đội ngũ cán bộ ở các cấp chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển; mặt bằng dân trí và chất lượng lao động thấp. Tuy nhiên, tỉnh Lai Châu cũng có những tiềm năng và thế mạnh như: có cửa khẩu quốc gia Ma Lù Thàng, có điều kiện sinh thái và bản sắc văn hóa dân tộc phong phú mở ra cho Lai Châu triển vọng về phát triển du lịch, dịch vụ xuất nhập khẩu; với diện tích lưu vực lớn, lượng mưa hàng năm cao, mạng lưới sông suối khá dầy, độ dốc lớn, Lai Châu có nhiều tiềm năng để phát triển thuỷ điện; có tiềm năng về khoáng sản và phong phú về chủng loại như: đất hiếm, sắt, đồng, chì, vàng…có khả năng khai thác, chế biến phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu; có tiềm năng về đất đai, sinh thái để phát triển nền nông nghiệp phong phú và đa dạng.
Nhìn chung nền kinh tế tỉnh Lai Châu những năm qua đã thu được nhiều kết quả quan trọng, tạo đà mới cho những năm tiếp theo. Tuy nhiên, so với các tỉnh trong vùng và cả nước thì nền kinh tế của tỉnh Lai Châu còn ở mức độ thấp; chuyển dịch cơ cấu kinh tế từng ngành, lĩnh vực còn chậm, chưa vững chắc, cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội còn kém, một số ngành dịch vụ phát triển chậm. Vì vậy, trong những năm tới cần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế; cải thiện rõ rệt hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; phát huy lợi thế cửa khẩu, các tài nguyên khoáng sản, thủy điện, đất đai, khí hậu để phát triển các ngành kinh tế; tập trung xóa đói giảm nghèo, hoàn thành cơ bản công tác định canh, định cư; bảo tồn phát triển bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân; vừa phát triển kinh tế vừa đảm bảo an ninh quốc phòng, ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia. Tỉnh Lào Cai Tỉnh Lào Cai là tỉnh miền núi, vùng cao; phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, phía Nam giáp tỉnh Lai Châu, phía Ðông giáp tỉnh Hà Giang, phía Tây giáp tỉnh Sơn La, Lai Châu; cách thủ đô Hà Nội 340 km.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 8.057,08 km2, chiếm 2,45% tổng diện tích tự nhiên cả nước. Các đường giao 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thông quan trọng như đường quốc lộ Hà Nội - Lào Cai, Lào Cai - Lai Châu và tuyến đường sắt Hà Nội đi Lào Cai, Lào Cai đi Vân Nam (Trung Quốc). Hệ thống sông chính của tỉnh gồm sông Hồng bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc chảy qua tỉnh Lai Châu dài 120 km; sông Chảy bắt nguồn từ vùng núi Tây Côn Lĩnh (Trung Quốc) dài 124 km. Theo kết quả điều tra của “niên giám thống kê tỉnh Lào Cai năm 2012”2, tỉnh Lào Cai có 648.270 người; trong đó lao động xã hội toàn tỉnh là 442.390 người3, chiếm 68.
Được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên đất đai và khí hậu với nền nhiệt tương đối thấp tạo thuận lợi cho tỉnh đẩy mạnh phát triển các loại cây ôn đới, cá biệt có những vùng nhiệt độ quanh năm không lên quá 20oC như Sa Pa, Bắc Hà, Si Ma Cai tạo lợi thế để những vùng này phát triển các loại đặc sản xứ lạnh mà các vùng khác không có được như: rau, hoa, quả, thảo dược, cá hồi, cá tầm nước lạnh,… Nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú với trên 150 mỏ và điểm mỏ, trong đó có những loại khoáng sản quý với trữ lượng lớn, là cơ sở để Lào Cai phát triển ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản - một trong những mũi nhọn kinh tế của tỉnh. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân (tháng 5 năm 2005 - 2010) là 13%.