CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VÙNG BIÊN GIỚI HAI NƯỚC VIỆT – TRUNG 1. Khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dân tộc thiểu số 1. Khái niệm dân tộc thiểu số ở Việt Nam Căn cứ theo quy định nghị quyết của chính phủ ban hành về công tác dân tộc thiểu số của Thủ tướng chính phủ7: 1, “ Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2, “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia. 3, “Dân tộc thiểu số rất ít người” là dân tộc có số dân dưới 10. 4, “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các dân tộc thiểu số cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 5, “Dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt” là những dân tộc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo ba tiêu chí sau: a) Tỷ lệ hộ nghèo trong thôn, bản chiếm trên 50% so với tỷ lệ hộ nghèo của cả nước.
b) Các chỉ số phát triển về giáo dục đào tạo, sức khoẻ cộng đồng và chất lượng dân số đạt dưới 30% so với mức trung bình của cả nước. c) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu chất lượng thấp, mới đáp ứng mức tối thiểu phục vụ đời sống dân cư. Khái niệm dân tộc thiểu số ở Trung Quốc Dân tộc thiểu số là chỉ dân tộc nằm ngoài các dân tộc có dân số đông nhất trong một quốc gia đa dân tộc. Trung Quốc là một quốc gia đa dân tộc, sau khi thành lập nước 7 Điều 4 nghị quyết số 05/ 2011/ NĐ-CP ban hành ngày 14 tháng 1 năm 2011 về công tác dân tộc thiểu số của Chính phủ Việt Nam 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung Quốc mới năm 1949, thông qua xác định và kiểm duyệt của chính phủ Trung Ương, Trung Quốc có tổng cộng 56 dân tộc, ngoài dân tộc Hán ra, 55 dân tộc còn lại đều được coi là “ Dân tộc thiểu số”.
Dân tộc thiểu số dưới sự bảo lãnh của hiến pháp và pháp luật quốc gia, được trao quyền lợi và bảo hộ đặc biệt về các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, chính trị. Như khu dân tộc tự trị, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số, tự do sử dụng và phát triển văn tự ngôn ngữ dân tộc, giúp đỡ các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế văn hóa, tôn trọng phong tục tập quán và tự do tín ngưỡng tôn giáo của các vùng dân tộc thiểu số, v v. Tính đến cuối năm 2008, cả nước đã thành lập tổng cộng 155 khu dân tộc tự trị, bao gồm 5 khu tự trị, 30 châu tự trị, 120 huyện tự trị. Theo điều tra dân số toàn quốc lần thứ 5 năm 2000, trong số 55 dân tộc thiểu số, có tới 44 nơi thành lập khu tự trị, lượng dân số khu vực dân tộc thiểu số thuộc thực thi khu vực tự trị chiếm tới 71% tổng dân số ở các khu vực dân tộc thiểu số, diện tích các khu tự trị này chiếm tới 64% tổng diện tích đất cả nước, ngoài ra, Trung Quốc cũng thành lập hơn 1100 các xã dân tộc8.
Phân biệt vùng dân tộc trọng điểm Việt Nam và Châu tự trị dân tộc Trung Quốc Theo Điều 4 nghị quyết số 05/ 2011/ NĐ-CP ban hành ngày 14 tháng 1 năm 2011 về công tác dân tộc thiểu số của Chính phủ Việt Nam, vùng dân tộc trọng điểm của Việt Nam bao gồm khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên, và Tây Nam Bộ. Trong đó khu vực Tây Bắc Việt Nam bao gồm các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Lào Cai, Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, Cao Bằng, Hà Giang và tỉnh Thanh Hóa và một vài vùng nông thôn ở phía Tây. Châu tự trị ở Trung Quốc là các đơn vị hành chính cấp địa khu (thấp hơn tỉnh, lớn hơn huyện) nơi mà các sắc tộc thiểu số ở Trung Quốc được hưởng những quyền tự trị nhất định. Hiện Trung Quốc có 30 châu tự trị như vậy nằm trong 9 tỉnh và khu tự trị.
Luận văn này sẽ tiến hành nghiên cứu so sánh tỉnh Lào Cai Việt Nam thuộc vùng dân tộc thiểu số trọng điểm khu vực Tây Bắc và châu tự trị dân tộc thiểu số Hồng Hà 8 Theo thông tin từ văn phòng Quốc Vụ Viện Trung Quốc. Các dân tộc cùng các chính sách dân tộc Trung Quốc cùng phát triển phồn vinh [M]. Bắc Kinh: Nhà xuất bản nhân dân, 2009 23- 52 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Phạm vi nghiên cứu Khu vực biên giới quốc gia là bộ phận của lãnh thổ quốc gia tiếp giáp biên giới quốc gia.
Điều 8 Nghị định số 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Biên giới quốc gia nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: - Phạm vi khu vực biên giới trên đất liền tính từ biên giới quốc gia trên đất liền vào hết địa giới hành chính của xã, phường, thị trấn có một phần địa giới hành chính trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền… - Danh sách các xã, phường, thị trấn ở khu vực biên giới trên đất liền, khu vực biên giới trên biển được quy định tại các nghị định của Chính phủ ban hành quy chế khu vực biên giới; trường hợp có sự thay đổi về địa giới hành chính của các xã, phường, thị trấn ở khu vực biên giới thì sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Trung Quốc Việt Nam hai nước núi liên núi, sông liền sông, phong tục tập quán gần gũi có nhiều nét tương đồng, biên giới lục địa dài hơn 1300km. Khu vực tự trị dân tộc Choang Quảng Tây và Vân Nam giáp với 7 tỉnh của Việt Nam : Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang, Điện Biên, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh. Tỉnh Vân Nam giáp với Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang và Điện Biên.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn này sẽ giới hạn trong khu vực biên giới thuộc tỉnh Lào Cai, Việt Nam và khu vực biên giới thuộc châu Hồng Hà, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Mối quan hệ giữa giáo dục và quan hệ quốc tế 1. Khái niệm quan hệ quốc tế Quan hệ quốc tế9 là tổng thể những mối quan hệ về kinh tế, chính trị, tư tưởng, luật pháp, ngoại giao, quân sự giữa những quốc gia và hệ thống quốc gia với nhau, giữa các giai cấp chính, các lực lượng tổ chức xã hội, kinh tế và chính trị chủ yếu hoạt động trên 9 Quan hệ quốc tế (International relations) là một ngành của chính trị học, nghiên cứu về ngoại giao và các vấn đề toàn cầu giữa các nước thông qua những hệ thống quốc tế, bao gồm các quốc gia, tổ chức đa chính phủ (IGO), tổ chức phi chính phủ (NGO), và các công ty đa quốc gia 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trường quốc tế10. Cùng với sự phát triển chính trị quốc tế và lí luận quan hệ quốc tế, thì quan hệ văn hóa quốc tế đã độc lập trở thành “ trụ cột thứ tư” sau mối quan hệ quốc tế chuyển tiếp chính trị, kinh tế, quân sự, chính trị học quốc tế đã trở thành “ lực lượng văn hóa”.
Giáo dục và quan hệ quốc tế Giáo dục và quan hệ quốc tế, nghĩa là chỉ mối quan hệ tương tác, gắn bó mật thiết giữa nền giáo dục của một quốc gia có chủ quyền với sự tồn tại của chính trị, kinh tế và văn hóa. Một mặt, quan hệ quốc tế có ảnh hưởng lâu bền, sâu sắc tới độ rộng và độ sâu của sự phát triển giáo dục quốc tế của nước nhà, một mặt khác, sự phát triển giáo dục quốc tế của một nước là một bộ phận của quan hệ quốc tế, tóm lại là phản ánh và phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích quốc gia của các nước là nhân tố căn bản của quan hệ quốc tế quyết định nền giáo dục, nó là một góc nhìn của sự quan sát và nhận thức quan hệ quốc tế. Do đặc trưng mang tính ổn định, tính quy phạm của giáo dục, mà do đó thông qua sự giao lưu, mở rộng và hợp tác trong giáo dục quốc tế là một phương thức cơ bản để làm cho nền văn hóa của một nước được kéo dài. Luôn luôn trở thành một trong những thành phần chủ chốt của quốc gia trong nhiệm vụ đối ngoại văn hóa, đồng thời cũng vì sự phát triển của đất nước mà quan hệ quốc tế sẽ phát huy một vai trò to lớn.
Quốc tế hóa giáo dục Cùng với sự phát triển kĩ thuật của công nghệ mạng, thường xuyên giao lưu học hỏi lẫn nhau của nên văn hóa đa nguyên, dưới sự phát triển của nền toàn cầu hóa mới, đã khiến cho sự hợp tác và giao lưu giáo dục giữa các quốc gia đã từng bước lớn mạnh. Muốn cho nền giáo dục các nước phát triển nhất thiết phải gia nhập vào hệ thống thế giới để tìm ra bước phát triển nhanh nhất, quốc tế hóa giáo dục đã trở thành lựa chọn tất yếu cho sự phát triển giáo dục các nước. Bất kì một nền giáo dục nào nếu muốn tồn tại trong môi trường toàn cầu hóa thì nhất thiết phải gia nhập vào sự phát triển giáo dục quốc tế thế giới. Chiến lược phát triển toàn 10 Quan hệ quốc tế sau CTTG II.
Nxb CTQG, 1962, tr.26 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bộ thực hành vận động nền giáo dục này trong hệ thống thế giới đã trở thành một phạm vi, mức độ ảnh hưởng tới nền giáo dục một nước ra ngoài thế giới. Cơ cấu của hệ thống thế giới cũng sẽ phát huy tác dụng, sự phát triển hợp tác và giao lưu giữa những nền giáo dục của các quốc gia với nhau cũng sẽ làm xuất hiện khoảng cách chênh lệch lớn và sự không đồng đều trong phát triển, từ đó hình thành nên những mô hình phát triển khác nhau trong công cuộc quốc tế hóa giáo dục. Tính quốc tế của nền giáo dục dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới Việt - Trung 1. Các khu vực liền kề với các nước làng giềng Ở luận văn này, giáo dục dân tộc thiểu số tại khu vực biên giới hai nước Việt - Trung là chỉ nền giáo dục ở các khu vực gần địa phận Châu Hồng Hà, Vân Nam, Trung Quốc và khu vực tỉnh Lào Cai, Việt Nam.