CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI 1. BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU 1. Sự phát triển của các công ty gia đình tại Việt Nam Sở hữu gia đình có vai trò thiết yếu và đóng góp to lớn với nền kinh tế Việt Nam (PwC, 2021; Dinh & Calabro, 2018).
Sự phát triển nhanh chóng và những đóng góp tích cực của các công ty gia đình với nền kinh tế cho thấy các ưu điểm của hình thức sở hữu gia đình, bao gồm tinh thần khởi nghiệp, sự sáng tạo trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và thương hiệu quốc gia (Tien, 2021). Rất nhiều sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng sáng tạo gắn liền với tên tuổi công ty có sở hữu gia đình, ngay trong dữ liệu nghiên cứu của luận án, ví dụ như Bánh mì Kinh đô, Bút bi Thiên Long, Nhà Hòa Bình, Nội thất Hòa Phát, Tôn Hoa Sen, Thủy sản Minh Phú… Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu và phát triển các mô hình quản lý công ty gia đình dựa trên các cơ sở lý thuyết quản trị kinh doanh, quản trị tài chính lâu đời có ý nghĩa rất lớn để nâng cao hiệu quả hoạt động và sự bền vững của các công ty gia đình, từ đó đóng góp cho cả nền kinh tế và xã hội. Bối cảnh nghiên cứu về mặt lý thuyết Lý thuyết khoa học về vai trò của sở hữu gia đình đã được hình thành và phát triển nhanh chóng trên thế giới từ hơn 30 năm qua, và là đề tài được quan tâm hàng đầu trong các nghiên cứu và công bố về quản 2 trị kinh doanh và tài chính trên thế giới (Villalonga & Amit, 2020). Khi các nghiên cứu khoa học về sở hữu gia đình phát triển mạnh, các nhánh nghiên cứu được mở rộng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng.
Về chiều sâu, các nghiên cứu được thực hiện chuyên biệt trong những lĩnh vực quan trọng của khoa học quản trị, tiêu biểu trong số đó là quản trị hiệu quả kinh doanh (Dyer, 2018), cấu trúc vốn (Hansen & Block, 2021), quản trị rủi ro và tài chính (Gottardo & Moisello, 2017). Về chiều rộng, tiếp sau các nghiên cứu ở các nước phát triển, các nền kinh tế đang phát triển và các đặc điểm quốc gia cụ thể cũng được tập trung nghiên cứu trong mười năm gần đây, đặc biệt là các nền kinh tế trong khu vực châu Á với đặc thù văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam (Dinh & Calabro, 2018). Hơn nữa, tại Việt Nam các nghiên cứu về vai trò của sở hữu gia đình đến hoạt động của công ty chỉ mới xuất hiện từ vài năm gần đây và chưa được tập trung nghiên cứu đúng mức (Nguyen & Vo, 2015; Tien, 2021). Các chủ đề nghiên cứu cũng chỉ tập trung vào mối quan hệ giữa sở hữu gia đình với hiệu quả kinh doanh của công ty, và dưới dạng các nghiên cứu lặp lại nghiên cứu đi trước, với bối cảnh dữ liệu của các công ty tại Việt Nam.
Do đó, việc mở rộng nghiên cứu về vai trò của sở hữu gia đình và các đặc thù của gia đình đối với chính sách quản trị tài chính, cụ thể là cấu trúc vốn của công ty, có tiềm năng đóng góp vào hiểu biết khoa học về quản trị công ty gia đình. VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Các lý thuyết cấu trúc vốn đã cho thấy sở hữu gia đình làm cho các công ty có những quyết định tài chính khác biệt dưới tác động của 3 chi phí đại diện (agency cost), chi phí phá sản (bankruptcy cost), và sự bất đối xứng thông tin (Schmid, 2013; Molly & ctg, 2019; Gottardo & Moisello, 2019; Hansen, 2021). Nhiều nghiên cứu trước đã chứng minh có sự tách biệt giữa chủ sở hữu công ty và người đại diện công ty ra quyết định, từ đó tác động đến cấu trúc vốn của các công ty. Tuy nhiên, trong trường hợp chủ sở hữu công ty và người đại diện công ty cùng là một chủ thể, chính là gia đình nắm quyền sở hữu, quản trị và điều hành công ty thì các lý thuyết cấu trúc vốn chưa giải thích cơ chế hình thành quyết định sử dụng đòn bẩy tài chính của các công ty này.
Do đó, cần đi sâu vào tìm hiểu vai trò của sở hữu gia đình, không chỉ là việc sở hữu công ty, mà còn là giá trị của công ty đối với gia đình qua nhiều thế hệ, để bổ sung vào các nghiên cứu trước theo lý thuyết cấu trúc vốn. Bên cạnh đó, các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về cấu trúc vốn hầu như chỉ tập trung xem xét các yếu tố kinh tế tác động đến việc ra quyết định tài trợ công ty, trong khi theo các lý thuyết hành vi công ty, việc ra quyết định chiến lược, bao gồm cả quyết định cấu trúc vốn của của công ty, bị tác động bởi yếu tố tâm lý của người ra quyết định chứ không chỉ bị tác động bởi những yếu tố kinh tế (Michiels & Molly, 2017). Do chưa xem xét tác động của các yếu tố tâm lý - phi kinh tế, nên các nghiên cứu về tác động của sở hữu gia đình theo lý thuyết cấu trúc vốn có kết quả không đồng nhất với nhau. Hơn nữa, các chu kỳ phát triển kinh tế cũng đi kèm với các giai đoạn khó khăn, khủng hoảng ở bối cảnh kinh tế toàn cầu, hoặc một lĩnh vực, một quốc gia cụ thể.
Đại dịch Covid-19 vừa qua tác động mạnh 4 mẽ đến kinh tế thế giới, mỗi công ty đều phải đứng trước những khó khăn về nguồn lực, về đầu ra kinh doanh cũng như sụt giảm doanh thu, thậm chí đứng trước nguy cơ phá sản. Khi đó, các quyết định chiến lược của doanh nghiệp cũng bị tác động mạnh mẽ bởi yếu tố tâm lý, tình cảm của người đại diện doanh nghiệp, trong khi các lý thuyết cấu trúc vốn hiện tại dù đã đưa ra cơ chế nhưng chưa bao quát các yếu tố này (Hansen & Block, 2021; Michiels & Molly, 2017). Do đó, việc nghiên cứu tác động của sở hữu gia đình và tài sản tình cảm xã hội đến cấu trúc vốn của các công ty có thể lấp đầy khoảng trống nghiên cứu nêu trên. Việc khám phá các yếu tố tâm lý và phi kinh tế đến cấu trúc vốn công ty có tiềm năng bổ sung và đóng góp vào lý thuyết cấu trúc vốn cũng như lý thuyết hành vi đại diện.
Vì các lý do này, tác giả chọn đề tài nghiên cứu về “Tác động của sở hữu gia đình và tài sản tình cảm xã hội đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp”. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiên cứu của luận án là bổ sung các yếu tố tâm lý - phi kinh tế của gia đình vào lý thuyết cấu trúc vốn để giải thích cơ chế hình thành cấu trúc vốn của các công ty. Các mục tiêu nghiên cứu cụ thể được trình bày như sau: (i) Phân tích mối quan hệ giữa sở hữu gia đình, CEO thuộc gia đình đối với cấu trúc vốn của các công ty. (ii) Phân tích mối quan hệ giữa thế hệ gia đình, tỷ lệ thành viên gia đình tham gia quản trị và tài sản tình cảm xã hội của gia đình đối với cấu trúc vốn của các công ty.
5 (iii) Phân tích vai trò điều tiết của sở hữu gia đình, CEO thuộc gia đình, thế hệ gia đình, tỷ lệ thành viên gia đình tham gia quản trị, tài sản tình cảm xã hội của gia đình đến mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh dưới kỳ vọng và cấu trúc vốn các công ty. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn về các mối quan hệ giữa (1) sở hữu gia đình và tài sản tình cảm xã hội của gia đình với cấu trúc vốn của công ty, (2) tác động điều tiết của các yếu tố này đến mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh dưới kỳ vọng và cấu trúc vốn của công ty. Trong đó, khái niệm sở hữu gia đình bao gồm trạng thái công ty thuộc sở hữu của một gia đình và mức độ kiểm soát sự sở hữu qua việc cử thành viên gia đình làm CEO; khái niệm tài sản tình cảm xã hội được đo lường qua (1) thế hệ gia đình quản trị công ty, (2) tỷ lệ thành viên gia đình tham gia quản trị, (3) tài sản tình cảm xã hội – là biến đa chiều gồm 3 yếu tố là tỷ lệ sở hữu vốn của gia đình, tỷ lệ thành viên gia đình tham gia quản trị, và tỷ lệ thành viên gia đình tham gia điều hành công ty.
Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu về nội dung là mối quan hệ giữa sở hữu gia đình và tài sản tình cảm xã hội của gia đình đối với cấu trúc vốn. Đối tượng khảo sát là các công ty niêm yết tại Việt Nam và dữ liệu khảo sát trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2020. Ý NGHĨA CỦA NGHIÊN CỨU Đóng góp đầu tiên là bổ sung bằng chứng về mối quan hệ giữa sở hữu gia đình và cấu trúc vốn của các công ty Việt Nam, đóng góp này có ý nghĩa trong bối cảnh có rất ít nghiên cứu về đề tài này với dữ liệu cập nhật kéo dài qua 11 năm từ các công ty Việt Nam. Ý nghĩa tiếp theo là việc cung cấp bằng chứng về tác động trực tiếp của tài sản tình cảm xã hội của gia đình đến cấu trúc vốn của các công ty Việt Nam.
Đây chính là yếu tố tâm lý và hành vi quan trọng nhất của các công ty gia đình khi đối chiếu với các công ty không có sở hữu gia đình. Mối quan hệ này đã được nghiên cứu ở một số quốc gia phát triển, tuy nhiên lý thuyết khoa học đang cần có nhiều bằng chứng hơn, đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển và khu vực châu Á (Molly & ctg. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là việc khám phá vai trò điều tiết của sở hữu gia đình và tài sản tình cảm xã hội đến mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh dưới kỳ vọng và cấu trúc vốn. Theo lý thuyết hành vi đại diện (behavioural agency model), hoạt động kinh doanh dưới kỳ vọng có vai trò quan trọng trong các quyết định chiến lược của công ty, nhất là công ty gia đình (Baixauli-Soler & ctg., 2020), tuy nhiên vai trò này chưa được nghiên cứu đầy đủ trong mối quan hệ với cấu trúc vốn của các công ty gia đình (Hansen & Block, 2021; Moussa & Elgiziry, 2019).
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN 2.