Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu 1. Tìm hiểu về hứng thú học tập 1. Những biểu hiện của hứng thú - Về mặt trí tuệ: + Luôn say mê, tích cực sáng tạo trong tìm hiểu nhận thức sự việc. + Có đầu óc tò mò khoa học, ham hiểu biết, sẵn sàng học hỏi và thường xuyên đặt câu hỏi để hiểu sâu vấn đề hơn.
+ Có nhu cầu vận dụng vào thực tiễn cuộc sống và thích làm những công việc khó. - Về mặt ý chí: + Kiên nhẫn suy nghĩ, không ngại khó – sợ khổ, khắc phục khó khăn tìm hiểu vấn đề cho đến cùng. + Không nản chí khi gặp thất bại, biết rút ra những bài học kinh nghiệm từ những thất bại để đi đến thành công. + Chịu khó tìm hiểu (qua internet, các phương tiện thông tin đại chúng hay qua những người xung quanh,…) để nâng cao hiểu biết của mình về vấn đề quan tâm.
- Về mặt năng lực: Phát triển mạnh mẽ và thể hiện rõ nét những năng lực thuộc lĩnh vực nhận thức như năng lực quan sát, năng lực so sánh, tổng hợp, phân tích, khái quát hóa, trừu tượng hóa,… - Về mặt tình cảm: + Rất phấn khởi trong quá trình tìm hiểu, phát huy sáng kiến hay cải tiến hoạt động, chủ động dành nhiều thời gian cho việc tìm hiểu, nhận thức. + Thích vượt qua những khó khăn và vui sướng, hạnh phúc khi biết thêm một kiến thức mới, vấn đề mới hay hoàn thành mục tiêu đã đề ra. - Về mặt kết quả: + Giúp con người đạt được kết quả cao hơn bình thường. + Thường xuyên thành công trong công việc.
Bản chất của việc tạo hứng thú trong dạy học Hứng thú của con người không phải là những thuộc tính có sẵn hay mang tính bẩm sinh. Việc hình thành hứng thú không phải là quá trình tự phát bên trong của bản thân cá nhân mà nó bị quy định bởi môi trường xã hội xung quanh. Hứng thú kèm theo và ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý cá nhân. Vì vậy, bản chất của hứng thú trong dạy học bao gồm: - Hứng thú là kết quả của sự hình thành và phát triển cá nhân.
- Hứng thú có liên quan mật thiết với nhu cầu. - Hứng thú nhận thức là động cơ của hoạt động học tập. - Hứng thú là một phương tiện dạy học. - Hứng thú trong dạy học là quá trình tác động từ phía GV và môi trường học tập vào HS, khiến các em chú ý, tập trung vào nội dung học tập.
Các Phương pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh Như chúng ta đã biết, việc tạo hứng thú học tập cho HS thực sự đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo mục tiêu của môn học. Chính vì thế, GV khi lên lớp, điều đầu tiên là phải tạo được hứng thú học tập cho HS bằng các cách sau đây: Thứ nhất, có thể tạo hứng thú học tập bằng cách làm cho HS nhận thức được mục tiêu, lợi ích của bài học. Thứ hai, có thể tạo hứng thú học tập bằng cách tác động vào nội dung dạy học. Thứ ba, có thể tạo hứng thú học tập bằng cách phối hợp các phương pháp và các hình thức dạy học linh hoạt.
Việc phối hợp này thông qua các hình thức như tổ chức các trò chơi học tập, hoạt động học theo nhóm, dạy học ngoài trời…. Tác dụng của việc tạo hứng thú trong dạy học Hóa học - Đối với GV: Truyền đạt kiến thức dễ dàng, nhanh chóng, hiệu quả, kích thích được sự say mê môn học của HS, giúp HS tập trung hơn; Tạo được không khí tích cực học tập thì sẽ tạo được 50% trong mục tiêu dạy học đề ra. - Đối với HS: Tiết học nhẹ nhàng, sinh động; HS thích học hơn và nhớ bài lâu hơn; Tạo mối quan hệ gần gủi giữa GV và HS; Giúp GV điều chỉnh hình thức dạy học. Bài tập hóa học và bài tập hóa học thực tiễn 1.
Bài tập hóa học 1. Khái niệm Bài tập hóa học là những dạng bài gồm các bài toán, những câu hỏi hay đồng thời cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS lĩnh hội được kiến thức hoặc kĩ năng nhất định sau khi hoàn thiện chúng. Thông qua việc hoàn thành BTHH HS sẽ lĩnh hội được nội dung các định nghĩa, khái niệm, tính chất của chất… hoặc hình thành các kĩ năng thí nghiệm thực hành, kĩ năng quan sát hoặc hoàn thiện các kĩ năng đó. Tác dụng của bài tập hóa học * Ý nghĩa trí dục: Làm chính xác hóa các khái niệm hóa học.
Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú hấp dẫn. Ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách tích cực nhất. Rèn luyện cho HS các kĩ năng hóa học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hóa học và phương trình hóa học… Nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn luyện các kĩ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kĩ năng tổng hợp cho HS. * Ý nghĩa phát triển: KTĐG kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, đặc biệt là giúp phát hiện trình độ phát triển trí tuệ, làm bộc lộ những khó khăn và khắc phục các sai lầm đó.
Phát triển ở HS các năng lực tư duy logic, biện chứng, khái quát độc lập, thông minh sáng tạo. Là phương tiện để KTĐG kiến thức và kĩ năng của HS. * Ý nghĩa đức dục: Rèn luyện cho HS đức tính chính xác, kiên nhẫn, trung thực và lòng say mê khoa học hóa học. Phân loại bài tập hóa học Hiện nay BTHH được phân loại dựa vào các cơ sở khác nhau, như là: * Phân loại bài tập dựa vào hình thức trả lời Dựa vào hình thức trả lời: bài tập hóa học phân thành bài tập trắc nghiệm khách quan và bài tập tự luận.
- Bài tập trắc nghiệm khách quan: là loại bài tập hay câu trả lời sẵn và yêu cầu HS suy nghĩ trả lời. Bài tập trắc nghiệm khách quan được chia thành 5 dạng chính: dạng điền khuyết, dạng ghép đôi, dạng đúng sai, dạng nhiều lựa chọn và dạng trả lời ngắn. - Bài tập tự luận: là dạng bài tập yêu cầu HS phải biết kết hợp các kiến thức đã học, ngôn ngữ hóa học, phải tự viết câu trả lời bằng ngôn ngữ của chính mình. Trong bài tập tự luận chia ra các dạng bài tập: bài tập định tính, bài tập định lượng, bài tập thực tiễn… dựa vào tính chất nội dung bài tập.
Dạng bài tập này cho phép GV kiểm tra kiến thức HS ở góc độ hiểu và khả năng vận dụng. Hình thành cho HS kĩ năng sắp đặt ý tưởng, khái quát hóa, phân tích, tổng hợp… phát huy tính độc lập, chủ động và tư duy sáng tạo. * Phân loại bài tập dựa vào nội dung Dựa vào nội dung bài tập hóa học (BTHH) được chia thành các loại: - Bài tập định tính: là dạng bài tập có liên hệ với sự quan sát để mô tả, giải thích các hiện tượng hóa học. - Bài tập định lượng (bài toán hóa học): là loại bài tập cần dùng các kĩ năng toán học kết hợp với kĩ năng hóa học để giải.
- Bài tập thực nghiệm: là dạng bài tập có liên quan đến kĩ năng thực hành thí nghiệm như: Quan sát để mô tả, giải thích các hiện tượng thí nghiệm; Làm thí nghiệm để nghiên cứu tính chất của một chất hoặc một hiện tượng hóa học. - Bài tập tổng hợp: là dạng bài tập có tính chất bao gồm các dạng trên. * Phân loại bài tập hóa học theo mục tiêu sử dụng Có thể chia bài tập theo 2 dạng: bao gồm bài tập GV dùng trong quá trình trực tiếp giảng dạy và bài tập cho HS tự luyện thông qua các phương tiện truyền tải thông tin mà không có sự xuất hiện trực tiếp của GV. * Phân loại bài tập hóa học theo mức độ nhận thức Có 4 mức độ nhận thức: Biết – Hiểu – Vận dụng – Vận dụng cao.
Các dạng bài tập này được dùng để phát triển tư duy và phân hóa HS. Bài tập thực tiễn trong dạy học hóa học 1. Khái niệm Bài tập thực tiễn (BTTT) là các bài tập hóa học có nội dung gắn liền với thực tiễn đời sống, yêu cầu HS phải vận dụng kiến thức hóa học để giải quyết các vấn đề do chính thực tiễn đặt ra như giải thích hiện tượng, lý giải thói quen sinh hoạt và lao động, bảo vệ môi trường, phân tích quy trình sản xuất, phương pháp thực nghiệm,… 1. Tác dụng của bài tập thực tiễn Sử dụng BTTT trong dạy và học hóa học không chỉ phát huy tác dụng chung của bài tập hóa học mà còn có thêm những tác động sau: - Rèn luyện và phát triển các kĩ năng học tập: thu thập thông tin, vận dụng kiến thức cơ bản để xử lí các tình huống, lựa chọn kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn,… - Rèn luyện và phát triển các kĩ năng tư duy: phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,… - Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức hóa học vào việc phát hiện và giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, từ đó hiểu sâu và mở rộng kiến thức, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Giúp HS hiểu biết về thiên nhiên, tài nguyên, môi trường, các hoạt động của con người trong đời sống, sản xuất và các vấn đề thời sự mang tính toàn cầu. - Tạo điều kiện cho HS sử dụng nhiều giác quan, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong quá trình học tập. - Giúp HS sống có trách nhiệm hơn với gia đình, cộng đồng và xã hội. - Giáo dục tư tưởng, đạo đức, rèn tính chính xác, kiên nhẫn, kích thích sự hứng thú, trí tò mò, lòng say mê nghiên cứu khoa học công nghệ.
Hình thức sử dụng bài tập hóa học thực tiễn GV có thể sử dụng BTHHTT trong qua trình dạy học với nhiều mục đích khác nhau như: để tạo tình huống dễ dàng bắt gặp trong đời sống nhằm khơi gợi nhu cầu tìm hiểu, tư duy của HS; trong các giờ luyện tập để củng cố, mở rộng kiến thức, rèn luyện kĩ năng cho HS; trong các dự án học tập, trong kiểm tra đánh giá hoặc các hoạt động ngoài giờ lên lớp giúp HS phát triển các phẩm chất và NL.