CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Sơ lược vấn đề nghiên cứu Một số giải pháp phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng bạo lực học đường đưa ra sát với thực tế HS THPT đang gặp phải, thông việc GV qua tập trung tìm hiểu sâu hơn về nguyên nhân gây ra bạo lực học đường, hình thức bạo lực phổ biến ở học sinh THPT từ đó để định hình cách tiếp cận và vận dụng các giải pháp một cách hiệu quả. - Trong các giải pháp được đưa ra sẽ tập trung vào việc nhận thức, phát triển các tư duy tích cực từ GV và HS trong việc giảm bạo lực học đường như: việc giáo dục về kỹ năng giải quyết xung đột, xây dựng sự đồng cảm và tôn trọng, và phát triển kỹ năng xã hội.
4 - Các giải pháp đưa ra cũng tập trung vào việc tự bồi dưỡng của GV. Thông qua quá trình học hỏi phát triển bản thân, GV sẽ được cung cấp thêm kiến thức và kỹ năng cần thiết giúp xử lý tình huống bạo lực và cách phòng ngừa chúng một cách hiệu quả cũng như thấu hiểu và yêu thương HS hơn, có biện pháp phù hợp với đối tượng HS đang gặp vấn đề cần được hỗ trợ. - Khám phá cách thúc đẩy sự hợp tác giữa giáo viên, phụ huynh và cộng đồng để tạo ra một hệ thống hỗ trợ toàn diện trong việc ngăn chặn bạo lực học đường, phát triển các chiến lược phòng ngừa cộng đồng và tham gia vào các hoạt động giáo dục và xã hội để tạo môi trường sống năng lượng tích cực, cũng như xây dựng các chuỗi hoạt động trải nghiệm, giúp HS tránh xa bạo lực học đường. Cở sở lý luận của đề tài 2.
Khái niệm về bạo lực học đường Theo từ điển Tiếng Việt, bạo lực là dùng sức mạnh để cưỡng bức, trấn áp. Vậy bạo lực học đường là gì? Trong nhiều bài viết của các tác giả về bạo lực học đường đăng trên các báo, và tạp chí gần đây, khi bàn về khái niệm bạo lực học đường đều đề cập đến có các yếu tố như xâm hại, người gây hại, người bị hại, môi trường học đường, môi trường giáo dục,…là các yếu tố quan trọng hình thành khái niệm. Một cách tổng quát, chúng ta có thể hiểu bạo lực học đường là những hành vi xâm hại đến sức khoẻ, tính mạng, tài sản tinh thần, uy tín, danh dự của người bị hại trong môi trường học đường. Có 3 mức độ tiếp cận khái niệm bạo lực học đường, bao gồm: + Theo nghĩa hẹp: là những hành vi xâm hại giữa học sinh với học sinh trong cùng một trường diễn ra bên trong hay bên ngoài khuôn viên nhà trường.
+ Theo nghĩa rộng: là những hành vi xâm hại giữa HS với HS hoặc giữa Hs với GV, hoặc giữa GV với GV diễn ra bên trong hay bên ngoài khuôn viên nhà trường. + Theo nghĩa lấy học sinh làm trung tâm: là những hành vi xâm hại mà chủ thể gây ra là học sinh, người bị hại là bất kỳ ai diễn ra bên trong hay bên ngoài khuôn viên nhà trường. Đây là cách tiếp cận được nhiều người quan tâm vì ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nó trong công tác giáo dục. Như vậy, có thể hiểu BLHĐ là “Những hành vi gây hấn, đánh nhau, hay những hành vi mang tính miệt thị, đe dọa, hành hung người khác (thường xảy ra giữa học sinh, sinh viên, giữa giáo viên với giáo viên, giữa giáo viên với học sinh, sinh viên, thậm chí có sự giúp sức của đối tượng khác) để lại thương tích trên cơ thể, thậm chí có thể tử vong hoặc gây tổn thương đến tâm lý, tinh thần cho học sinh, sinh viên và giáo viên, ảnh hưởng đến chuẩn mực xã hội, đến công tác giáo dục của nhà trường và trật tự, an toàn xã hội”.
5 Theo Unicef - tổ chức quốc tế đi đầu trong lĩnh vực thúc đẩy và bảo vệ quyền trẻ em ở 190 quốc gia, trong đó có Việt Nam, BLHĐ là những hành vi thô bạo, ngang ngược, bất chấp công lý, đạo lý, xúc phạm trấn áp người khác gây nên những tổn thương về tinh thần và thể xác diễn ra trong phạm vi trường học. Nhận diện và phân loại các hình thức bạo lực học đường 2. Nhận diện bạo lực học đường BLHĐ cũng là hành vi lệch chuẩn nhưng thiên về sử dụng bạo lực. + Phân loại hành vi bạo lực học đường: Hành vi BLHĐ thụ động là hành vi sai lệch do nhận thức sai hoặc nhận thức không đầy đủ, chuẩn mực (nội quy, quy tắc), hành vi này không đáng ngại.
Hành vi bạo lực học đường chủ động là hành vi mà cá nhân biết rõ chuẩn mực nhưng vẫn cố ý làm sai, đây là hành vi đáng ngại, nguy hiểm. + Nhận diện hành vi bạo lực học đường: Hành vi bạo lực học đường sử dụng cơ bắp hoặc hung khí ở các mức độ khác nhau là hành vi đánh đập, hành hung để cưỡng bức, trấn lột người bị hại. làm tổn thương tinh thần, sức khoẻ, tính mạng người bị hại. Hành vi đe doạ, khủng bố là hành vi nhằm gây bất an cho người bị hại; nói xấu, sỉ nhục, bêu rếu làm mất uy tín, mất danh dự người bị hại.
Các hành vi trên có thể do người gây hại thực hiện, hoặc tổ chức thành băng nhóm để thực hiện. Các hình thức tồn tại bạo lực học đường BLHĐ cũng diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau tùy vào nhiều nhóm đối tượng HS khác nhau. Có thể kể đến một số loại bạo lực học đường hiện nay như: – Bạo lực về thể chất: Các hành vi đánh đập, bứt tóc, xô đẩy, dứt tóc, xé quần áo, đổ đồ ăn lên người, trấn lột cướp đồ giữa học sinh với nhau. – Bạo lực bằng lời nói: Sử dụng những hành vi hoặc lời nói gây xúc phạm, gán ghép hoặc bôi nhọ, sỉ nhục, chế nhạo hoặc bắt người khác làm theo ý mình.
Hành vi này có thể ở giáo viên đối với học sinh hoặc học sinh với nhau. – Bạo lực tâm lý: là hành xâm phạm tình dục, có thể động chạm những bộ phận nhạy cảm hoặc thậm chí có những hành vi cưỡng ép tình dục, hiếp dâm,… Hành vi này xảy ra giáo viên đối với học sinh hoặc học sinh với nhau. – Bạo lực xã hội: Phân biệt đối xử, cô lập, tẩy chay, nói xấu, bêu rếu xung quanh hay thậm chí là trên mạng xã hội. – Bạo lực điện tử: là hành vi uy hiếp bằng các phương tiện điện tử như gọi điện, nhắn tin, đe dọa và bêu rếu người nào đó trên mạng xã hội.
Dấu hiệu của bạo lực học đường Bạo lực học đường thường trải qua 3 giai đoạn là trước, trong và sau hành vi bạo lực, đều để lại dấu vết hoặc dấu hiệu báo trước bằng các biểu hiện, chứng cứ nhận biết được gồm: + Dấu hiệu tiền bạo lực gồm có dấu hiệu xa và cận bạo lực: Dấu hiệu xa như học sinh học kém, lêu lổng, chán học, bất cần đời. Dấu hiệu gần (cận bạo lực) như gây gổ, hăm doạ, kết băng nhóm, mang theo hung khí trong người. + Dấu hiệu thực hiện hành vi bạo lực là các dấu vết bạo lực để lại sau hành vi bạo lực nói lên mức độ độc ác, nương tay hay chỉ là dằn mặt, cảnh cáo người bị xâm hại. Ngoài ra các dấu hiệu còn cho biết kẻ gây hại là nhẫn tâm, vô tình hay cố ý với người bị hại.
+ Dấu hiệu hậu bạo lực: Chủ yếu là hành vi, thái độ của kẻ gây hại sau sau khi bị xử lý, đó là thái độ đối với hậu quả xảy ra như ăn năn, hối hận hay hả hê, thoả mãn của người gây hại. Biểu hiện phổ biến như sau: + Có những thay đổi khác lạ trong thái độ, cách cư xử: trở nên lãnh đạm, không chan hòa, không muốn hòa đồng, cáu kỉnh, xúc phạm người khác, thậm chí gây gổ dẫn đến đánh nhau. + Không quan tâm, hứng thú với trường học và việc học, học sa sút, thậm chí là bỏ học. + Thiếu tự tin vào bản thân, không tin cậy người khác.
+ Thường xuyên vi phạm nội qui của lớp, trường. + Cố thu hút sự chú ý của người khác bằng những hành vi như phá phách, vô lễ, ăn cắp, nói dối… + Hay đánh đập bạn, hay ồn trong giờ học, bỏ học trốn học để đi chơi. + Thậm chí có những em rơi vào con đường nghiện ngập ma túy và các tệ nạn xã hội khác… Tóm lại những HS này có sự bất thường về tính cách, không có động cơ học tập, tâm lý không ổn định. Trong số những HS có biểu hiện rõ, đôi khi có những em có tiềm năng về cá tính, do GV chưa hiểu được, chưa có cách tiếp cận và tác động phù hợp hoặc không được sự giúp đỡ kịp thời, đúng cách… mà dẫn đến sự biểu hiện những hành vi không phù hợp của HS.
Vì vậy, với những trường hợp này, GV, đặc biệt là GVCN thực sự cần là kỹ sư tâm hồn, có trách nhiệm phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, mà trước hết là với tập thể lớp giúp những em này điều chỉnh, thay đổi niềm tin, thái độ, hành vi của mình để các em có tương lai tốt đẹp hơn. Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường 2. Nguyên nhân từ phía học sinh - Do sự chuyển biến về tâm lý của học sinh độ tuổi từ 12-17, đây là giai đoạn phát triển mạnh về thể chất, hưng phấn cao, tâm lý không ổn định trong quá trình tìm kiếm giá trị, định hình nhân cách. Đặc điểm là đề cao cái tôi cá nhân quá mức, bốc đồng muốn chứng tỏ bản lĩnh, vị trí, giá trị, sự phá cách của mình; non nớt, hạn chế về nhận thức, thiếu kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng ứng xử trong các tình huống phức tạp của đời sống; khả năng kiềm chế, làm chủ cảm xúc, làm chủ hành vi còn yếu kém, dễ bị bạn bè lôi kéo, kích động; thường tự mâu thuẫn, thấy bức bối và muốn giải thoát.
- Những HS bị tăng động, tâm thần nhẹ, có nhịp tim chậm, lưu thông máu không đều, dễ bị kích động và thích các yếu tố kích động. Những HS có IQ thấp, khuyết tật, khả năng xử lý thông tin trí lực giảm sút, học lực kém, thất bại trong chuyện học hành, kiềm chế kém…dễ căng thẳng về xúc cảm, có thái độ bất cẩn và hiếu thắng, thái độ chống đối mọi người xung quanh, thích bạo lực, không chịu khuất phục ai, dễ dàng ra tay xử lý bạn khi không vừa ý.