SKKN: Biện pháp phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác qua công tác chủ nhiệm

SKKN cấp tỉnh: Giải pháp phát triển năng lực giao tiếp, hợp tác cho học sinh THPT qua hoạt động chủ nhiệm. Nâng cao kỹ năng mềm hiệu quả.

Trường đại học

Trường THPT Hà Huy Tập

Chuyên ngành

Chủ nhiệm

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Sáng kiến kinh nghiệm

2023-2024

52
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Lời mở đầu

1. PHẦN I. Lý do chọn đề tài

2. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4. Phương pháp nghiên cứu

5. Thời gian nghiên cứu

6. Tính mới của đề tài

7. Cấu trúc của sáng kiến

II. PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1. Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển NLGT &HT

1.1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu

1.2. Khái niệm năng lực

1.3. Năng lực giao tiếp

1.4. Năng lực hợp tác

1.5. Các yêu cầu cần đạt của NLGT &HT của HS THPT theo CT GDPT 2018

1.6. Nhiệm vụ của GVCN trong trường THPT

1.7. Cơ sở thực tiễn

1.8. Kết quả khảo sát học sinh

1.9. Kết quả khảo sát giáo viên

1.10. Nhận xét, kết luận khảo sát

2. Chương 2. Một số biện pháp tổ chức của GVCN nhằm phát triển NLGT &HT cho HS

2.1. Biện pháp 1: Đổi mới phương pháp trong các tiết trải nghiệm hướng nghiệp, các cuộc họp phụ huynh. Bồi dưỡng tinh thần tập thể, năng lực hợp tác, năng lực công nghệ thông tin thông qua chuẩn bị cho các cuộc họp phụ huynh

2.2. Sử dụng các hình thức khác nhau trong các tiết hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp

2.3. Biện pháp 2: Phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS

2.4. Biện pháp 3: Khuyến khích HS tổ chức các hoạt động tình nguyện, tuyên truyền, lao động công ích để phát huy năng lực giao tiếp và hợp tác

2.5. Biện pháp 4: Đánh giá năng lực giao tiếp và hợp tác của HS thông qua bộ công cụ

3. Chương 3. Thực nghiệm sư phạm

3.1. Đối tượng thực nghiệm

3.2. Phương pháp thực nghiệm

3.3. Kết quả thực nghiệm

3.3.1. Kết quả định tính

3.3.2. Kết quả định lượng

3.4. Khảo sát tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp

3.4.1. Mục đích khảo sát

3.4.2. Nội dung và phương pháp khảo sát

3.4.3. Đối tượng khảo sát

3.4.4. Kết quả khảo sát

III. PHẦN III. Hướng phát triển của đề tài

IV. Đề xuất, kiến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Hướng dẫn phát triển năng lực giao tiếp hợp tác cho HS THPT

Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc phát triển phẩm chất và năng lực học sinh không chỉ dừng lại ở kiến thức sách vở. Sáng kiến kinh nghiệm (SKKN) cấp tỉnh về “Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS THPT thông qua hoạt động của công tác chủ nhiệm” ra đời như một giải pháp thiết thực, đáp ứng yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Mục tiêu chính của SKKN là trang bị cho học sinh những kỹ năng mềm cho học sinh thiết yếu, đặc biệt là năng lực giao tiếp (NLGT) và năng lực hợp tác (NLHT), hai trong ba năng lực chung cốt lõi. Đây là nền tảng vững chắc giúp các em không chỉ thành công trong học tập mà còn tự tin hội nhập với xã hội trong tương lai. Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của giáo viên chủ nhiệm (GVCN) là nhân tố then chốt, người có nhiều thời gian và cơ hội nhất để tổ chức các hoạt động giáo dục, tạo môi trường rèn luyện hiệu quả. Bằng cách vận dụng các phương pháp giáo dục tích cực, GVCN có thể biến công tác chủ nhiệm thành một quá trình giáo dục kỹ năng sống cho hs thpt một cách tự nhiên và hiệu quả. SKKN này không chỉ là một tài liệu tham khảo mà còn là một bộ công cụ thực tiễn, cung cấp các biện pháp cụ thể đã được kiểm chứng, giúp các nhà giáo dục đổi mới công tác chủ nhiệm lớp và góp phần vào giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục tổng thể.

1.1. Tầm quan trọng của kỹ năng mềm cho học sinh trong kỷ nguyên 4.0

Kỷ nguyên số 4.0 đặt ra yêu cầu cao về khả năng tương tác và làm việc nhóm. Ken Blanchard từng khẳng định: “Không một ai trong chúng ta thông minh bằng tất cả chúng ta”. Do đó, năng lực giao tiếp và hợp tác trở thành chìa khóa thành công. Việc rèn luyện những kỹ năng mềm cho học sinh ngay từ bậc THPT không chỉ giúp các em phát huy sức mạnh tập thể mà còn tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội khi bước vào môi trường đại học và thị trường lao động. Các kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giải quyết vấn đề, và kỹ năng lắng nghe tích cực là những thành tố không thể thiếu trong bộ năng lực này.

1.2. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong chương trình GDPT 2018

Chương trình GDPT 2018 chuyển trọng tâm từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất người học. Trong mô hình này, vai trò của giáo viên chủ nhiệm được nâng lên một tầm cao mới. GVCN không chỉ quản lý lớp học mà còn là người thiết kế, tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, tạo điều kiện để học sinh rèn luyện năng lực. Với 5 tiết/tuần liên quan đến công tác giáo dục, GVCN có đủ điều kiện để triển khai các phương pháp giáo dục tích cực, lồng ghép mục tiêu phát triển NLGT & HT vào từng hoạt động, từ đó xây dựng tập thể lớp vững mạnh và đoàn kết.

II. Thách thức trong công tác chủ nhiệm phát triển năng lực cho HS

Mặc dù tầm quan trọng của NLGT & HT là không thể bàn cãi, việc triển khai trên thực tế gặp không ít khó khăn. Kết quả khảo sát thực tiễn tại trường THPT Hà Huy Tập (Nghệ An) cho thấy một bức tranh đáng suy ngẫm về thực trạng này. Dữ liệu chỉ ra rằng có đến 52% học sinh chỉ hiểu “lơ mơ” về NLGT & HT, và 6% hoàn toàn không hiểu gì. Điều này chứng tỏ nhận thức của học sinh về các kỹ năng cốt lõi này còn rất hạn chế, tạo ra một rào cản lớn trong quá trình rèn luyện. Về phía giáo viên, 100% GVCN được khảo sát đều thừa nhận sự cần thiết của việc phát triển các năng lực này và khẳng định vai trò quan trọng của mình. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp đổi mới chưa diễn ra thường xuyên. Nguyên nhân chính là do áp lực thời gian chuẩn bị, thiếu hụt tài liệu hướng dẫn cụ thể và đôi khi là thói quen tổ chức các hoạt động theo lối mòn truyền thống. Việc đổi mới công tác chủ nhiệm lớp đòi hỏi sự đầu tư lớn về công sức và sáng tạo, trong khi các công cụ đánh giá hiệu quả sự tiến bộ của học sinh về kỹ năng mềm vẫn chưa được chuẩn hóa và áp dụng rộng rãi. Những thách thức này đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ và khả thi.

2.1. Phân tích thực trạng năng lực giao tiếp và hợp tác của học sinh

Khảo sát cho thấy một nghịch lý: 100% học sinh cho rằng việc phát triển NLGT & HT là cần thiết, nhưng hiểu biết đầy đủ về nó chỉ đạt 42%. Đa số học sinh chưa nhận diện được các biểu hiện cụ thể của năng lực này trong các hoạt động hàng ngày. Ví dụ, chỉ 34,7% học sinh biết chủ động đề xuất mục đích hợp tác, và chỉ 32,7% có khả năng đánh giá công việc của thành viên khác trong nhóm để điều chỉnh phương án. Thực trạng này đòi hỏi một sự can thiệp sư phạm mạnh mẽ, bắt đầu từ việc nâng cao nhận thức và cung cấp các trải nghiệm thực tế để học sinh hiểu rõ và thực hành kỹ năng.

2.2. Khó khăn khi áp dụng phương pháp giáo dục tích cực trong nhà trường

Việc chuyển đổi từ phương pháp truyền thống sang phương pháp giáo dục tích cực không phải là một quá trình dễ dàng. Giáo viên đối mặt với việc phải thiết kế lại toàn bộ kế hoạch giáo dục cho các tiết sinh hoạt, hoạt động trải nghiệm. Thêm vào đó, việc đánh giá các kỹ năng mềm như giao tiếp, hợp tác phức tạp hơn nhiều so với đánh giá kiến thức. Nó đòi hỏi công cụ quan sát, phiếu đánh giá chi tiết và thời gian theo dõi sát sao. Sự thiếu đồng bộ trong chỉ đạo và hỗ trợ từ cấp quản lý cũng là một rào cản, khiến nhiều giáo viên dù tâm huyết vẫn còn ngần ngại trong việc đổi mới công tác chủ nhiệm lớp một cách triệt để.

III. Top biện pháp đổi mới công tác chủ nhiệm phát triển năng lực HS

Để giải quyết các thách thức đã nêu, SKKN đề xuất một hệ thống các biện pháp sáng tạo, tập trung vào việc đổi mới công tác chủ nhiệm lớp một cách toàn diện. Cốt lõi của các biện pháp này là biến những giờ học vốn bị coi là khô khan, hình thức thành những sân chơi tri thức, nơi học sinh được chủ động tham gia và rèn luyện. Biện pháp đầu tiên và quan trọng nhất là đổi mới phương pháp trong các tiết hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp và ngay cả trong các cuộc họp phụ huynh. Thay vì độc thoại, GVCN đóng vai trò người điều phối, sử dụng các kỹ thuật dạy học hiện đại như “Think - Pair - Share” (Suy nghĩ - Cặp đôi - Chia sẻ) hay “Kỹ thuật phòng tranh”. Các hoạt động này không chỉ giúp tổ chức sinh hoạt lớp hiệu quả mà còn trực tiếp bồi dưỡng kỹ năng làm việc nhómkỹ năng giải quyết vấn đề. Chẳng hạn, việc giao nhiệm vụ cho học sinh tự sản xuất video giới thiệu lớp để trình chiếu trong họp phụ huynh là một ví dụ điển hình. Quá trình này đòi hỏi các em phải hợp tác, phân công công việc, giao tiếp với nhau để hoàn thành một sản phẩm chung, qua đó NLGT & HT được hình thành một cách tự nhiên và bền vững.

3.1. Cách tổ chức sinh hoạt lớp hiệu quả qua kỹ thuật dạy học tích cực

Để tổ chức sinh hoạt lớp hiệu quả, GVCN có thể áp dụng Kỹ thuật “Think - Pair - Share”. Ví dụ, với chủ đề “Sử dụng mạng xã hội tích cực”, giáo viên đặt câu hỏi, cho học sinh suy nghĩ cá nhân, sau đó thảo luận theo cặp, rồi chia sẻ trong nhóm lớn hơn. Quy trình này đảm bảo mọi học sinh đều được tham gia, rèn luyện kỹ năng lắng nghe tích cực và trình bày quan điểm một cách tự tin. Phương pháp này phá vỡ sự nhàm chán của tiết sinh hoạt truyền thống, biến nó thành một diễn đàn thảo luận sôi nổi, góp phần xây dựng tập thể lớp vững mạnh.

3.2. Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo là môi trường lý tưởng để phát triển kỹ năng làm việc nhóm. Kỹ thuật “Phòng tranh” là một ví dụ. Học sinh được chia nhóm tìm hiểu về một chủ đề (ví dụ: xu hướng nghề nghiệp), trình bày kết quả trên giấy A1 và treo lên như một triển lãm. Các nhóm sẽ di chuyển để tham quan, góp ý chéo cho nhau. Hoạt động này thúc đẩy sự hợp tác, phân công trách nhiệm, đồng thời rèn luyện khả năng trình bày, phản biện và tiếp thu ý kiến, những yếu tố cốt lõi của năng lực hợp tác.

IV. Phương pháp phối hợp để phát triển kỹ năng giao tiếp và hợp tác

Việc phát triển năng lực cho học sinh không phải là trách nhiệm của riêng GVCN mà cần một chiến lược phối hợp đa chiều. Một giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục hiệu quả là kết nối chặt chẽ giữa công tác chủ nhiệm với các hoạt động chung của nhà trường và các tổ chức xã hội. GVCN đóng vai trò cầu nối, tuyên truyền và hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động tập thể do nhà trường tổ chức như hội chợ xuân, các giải đấu thể thao, văn nghệ, hay các chuyến tham quan thực tế. Thông qua những sự kiện này, học sinh có cơ hội áp dụng kỹ năng giao tiếp và hợp tác trong một bối cảnh rộng lớn hơn, tương tác với nhiều đối tượng khác nhau, từ đó hình thành sự tự tin và năng động. Bên cạnh đó, biện pháp khuyến khích học sinh tự tổ chức các hoạt động tình nguyện, tuyên truyền và lao động công ích được xem là cấp độ cao nhất. Ở đây, GVCN không phải người tổ chức mà là người cố vấn, tạo điều kiện để học sinh phát huy vai trò chủ thể. Khi các em tự lên kế hoạch cho một dự án bảo vệ môi trường hay một chương trình thiện nguyện, các em phải vận dụng toàn bộ NLGT & HT để làm việc cùng nhau, giải quyết các vấn đề phát sinh và đạt được mục tiêu chung.

4.1. Phối hợp với nhà trường tổ chức các hoạt động tập thể ngoại khóa

GVCN cần chủ động nắm bắt kế hoạch của nhà trường, Đoàn trường để lồng ghép vào kế hoạch của lớp. Khi tham gia các hoạt động như “Gian hàng hội chợ xuân” hay các dự án học tập lớn, học sinh được thực hành kỹ năng làm việc nhóm ở quy mô lớn. GVCN sẽ là người theo dõi, hỗ trợ và đánh giá quá trình phối hợp của các em, giúp các em rút ra bài học kinh nghiệm để xây dựng tập thể lớp vững mạnh hơn.

4.2. Khuyến khích học sinh tham gia hoạt động tình nguyện công ích

Đây là biện pháp giúp học sinh vận dụng năng lực vào thực tiễn cuộc sống. Các hoạt động như dự án “Protect the Environment” của câu lạc bộ Tiếng Anh là minh chứng rõ nét. Học sinh không chỉ được rèn luyện năng lực mà còn đóng góp giá trị tích cực cho cộng đồng. Vai trò của GVCN là khơi gợi ý tưởng, kết nối nguồn lực và động viên, thay vì can thiệp trực tiếp vào quá trình tổ chức của các em. Điều này giúp tăng cường tính tự chủ và trách nhiệm, một phần quan trọng của giáo dục kỹ năng sống cho hs thpt.

V. Minh chứng hiệu quả các biện pháp phát triển năng lực giao tiếp

Hiệu quả của các biện pháp đề xuất không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà đã được chứng minh qua thực nghiệm sư phạm tại lớp 10T1, trường THPT Hà Huy Tập. Kết quả thu được cho thấy sự chuyển biến tích cực cả về định tính và định lượng. Về mặt định tính, nhận thức của học sinh về NLGT & HT đã cải thiện vượt bậc. Sau thực nghiệm, tỷ lệ học sinh xác định được mục đích, phương tiện giao tiếp tăng từ 42% lên 92%. Sự hứng thú với các tiết học cũng tăng rõ rệt, với 86% học sinh tỏ ra “thích” hoặc “rất thích” các hình thức học tập mới. Điều này cho thấy các phương pháp giáo dục tích cực đã thành công trong việc tạo ra một môi trường học tập hấp dẫn, lấy học sinh làm trung tâm. Về mặt định lượng, bộ công cụ đánh giá cho thấy sự tiến bộ rõ rệt. Tỷ lệ học sinh có NLGT & HT ở mức thấp giảm mạnh từ 57,1% xuống còn 20,4%. Ngược lại, tỷ lệ học sinh đạt mức khá tăng từ 4,1% lên 26,6%, và đặc biệt đã có 2% học sinh đạt mức cao. Những con số này là minh chứng thuyết phục rằng việc áp dụng các biện pháp đổi mới công tác chủ nhiệm lớp một cách bài bản và kiên trì sẽ mang lại kết quả thực chất, góp phần vào giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục.

5.1. Kết quả định tính Sự thay đổi về nhận thức và hứng thú của học sinh

Trước khi áp dụng, nhiều học sinh còn mơ hồ về các biểu hiện của năng lực hợp tác. Sau một năm, các chỉ số đều tăng mạnh. Chẳng hạn, khả năng “nhận biết và thấu cảm suy nghĩ của người khác” tăng từ 34% lên 83,7%. Sự thay đổi này cho thấy các hoạt động trải nghiệm sáng tạo đã giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn về tầm quan trọng của việc tương tác và hỗ trợ lẫn nhau. Hứng thú học tập tăng cao cũng là một yếu tố quan trọng, tạo động lực nội tại cho quá trình rèn luyện lâu dài.

5.2. Kết quả định lượng Đánh giá năng lực hợp tác qua bộ công cụ

Bộ công cụ đánh giá với các tiêu chí rõ ràng cho phép lượng hóa sự tiến bộ của học sinh. Việc chuyển dịch từ mức “thấp” và “trung bình” sang mức “khá” và “cao” cho thấy hiệu quả của SKKN. Dữ liệu chứng minh rằng các biện pháp không chỉ tạo ra sự thay đổi bề mặt mà còn tác động sâu sắc đến năng lực cốt lõi của học sinh. Đây là cơ sở quan trọng để khẳng định tính khả thi và đề xuất nhân rộng mô hình này trong công tác chủ nhiệm.

VI. Kết luận Hướng phát triển cho công tác chủ nhiệm hiện đại

Sáng kiến kinh nghiệm “Một số biện pháp phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác cho HS THPT thông qua hoạt động của công tác chủ nhiệm” đã chứng minh được tính cấp thiết và hiệu quả cao trong thực tiễn. Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp cụ thể, khả thi. Các biện pháp này không chỉ giúp rèn luyện NLGT & HT mà còn phát triển nhiều kỹ năng quan trọng khác như tư duy phản biện, sử dụng công nghệ thông tin, và khả năng tự học. Bài học kinh nghiệm lớn nhất rút ra là sự thành công phụ thuộc vào sự chuẩn bị chu đáo, tâm huyết và sáng tạo của GVCN. Để nhân rộng mô hình, cần có sự ủng hộ từ phía nhà trường trong việc tạo ra nhiều sân chơi, hoạt động tập thể. Đồng thời, cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện bộ công cụ đánh giá năng lực để quá trình theo dõi và hỗ trợ học sinh được chính xác hơn. Hướng phát triển của đề tài không chỉ dừng lại ở khối 10 mà hoàn toàn có thể áp dụng và điều chỉnh cho các khối lớp khác, cũng như mở rộng ra phát triển các năng lực, phẩm chất khác, hướng tới mục tiêu giáo dục toàn diện theo tinh thần của Chương trình giáo dục phổ thông 2018.

6.1. Bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng tập thể lớp vững mạnh

Kinh nghiệm cho thấy, một tập thể lớp chỉ thực sự vững mạnh khi các thành viên biết cách giao tiếp và hợp tác với nhau. Quá trình triển khai các biện pháp đã tạo ra sự gắn kết, giúp học sinh hiểu và tôn trọng sự khác biệt của nhau. Việc xây dựng tập thể lớp vững mạnh không phải là một mục tiêu riêng lẻ mà là kết quả tất yếu của một quá trình đổi mới công tác chủ nhiệm lớp có định hướng, lấy việc phát triển năng lực con người làm trung tâm.

6.2. Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện

Để các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đi vào chiều sâu, cần có sự đầu tư đồng bộ. Đề xuất nhà trường tăng cường tổ chức các hoạt động tập thể quy mô lớn. Về phía các nhà quản lý, cần có cơ chế khuyến khích, ghi nhận những GVCN tích cực đổi mới. Về chuyên môn, cần tổ chức các buổi tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm về việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực. Bản thân mỗi giáo viên cần không ngừng tự học, nâng cao trình độ chuyên môn và kỹ năng sư phạm để đáp ứng yêu cầu của giáo dục hiện đại.

11/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về năng lực giao tiếp và hợp tác 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu Từ thế kỷ 20, hợp tác trong học tập trở thành một xu hướng giáo dục khi nhiều nghiên cứu cho thấy người học có thể học nhanh hơn và ghi nhớ được nhiều hơn so với phương thức dạy học truyền thụ một chiều; không chỉ vậy các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng hợp tác trong học tập thúc đẩy tính tích cực của HS. Johnsons (2009) đã tuyên bố rằng: Sử dụng rộng rãi và ngày càng tăng việc học tập hợp tác là một trong những câu chuyện thành công lớn của tâm lý học xã hội và giáo dục.

Ở nước ta, những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu làm rõ về khái niệm năng lực, cấu trúc của NLHT như nghiên cứu của Lê Thị Thu Hiền (2015) về khái niệm, cấu trúc và đánh giá NLHT; Phan Thị Thanh Hội và Phạm Huyền Phương (2015) đã đề cập việc phát triển NLHT cho HS dựa trên sự phát triển về kỹ năng hợp tác; Lê Thị Minh Hoa (2015) về phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trung học cơ sở qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp;. Mục tiêu của chương trình giáo dục nước ta hiện nay (CT GDPT 2018) là hình thành và phát triển cho HS 10 năng lực cốt lõi, trong đó có 03 năng lực chung và 07 năng lực đặc thù. Năng lực giao tiếp và hợp tác là một trong ba NL cốt lõi mà nhà trường và giáo viên cần hình thành và phát triển cho HS. Khái niệm năng lực Năng lực: là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.

thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể (theo chương trình GDPT 2018). Năng lực giao tiếp 1. Khái niệm giao tiếp và năng lực giao tiếp Có rất nhiều khái niệm “giao tiếp”, nhưng chúng ta có thể hiểu: giao tiếp là hành động phát triển ý nghĩa giữa các thực thể hoặc nhóm thông qua việc sử dụng các dấu hiệu, biểu tượng và quy ước ký hiệu mà các bên đều hiểu. Năng lực giao tiếp là khả năng của một người trong việc ứng xử và truyền đạt ý kiến, thông tin một cách rõ ràng, dễ hiểu đến người khác.

Bằng cách sử dụng các phương tiện giao tiếp như ngôn ngữ, cử chỉ, giọng điệu và biểu cảm khuôn mặt để tạo ra sự hiểu biết, tương tác và truyền đạt thông điệp, bên cạnh quan sát, lắng nghe và phản hồi để đạt mục tiêu trong giao tiếp. Điều này giúp xây dựng mối quan hệ xã hội, làm việc nhóm và thể hiện sự chuyên nghiệp trong môi trường công việc. Các hình thức giao tiếp 4 Giao tiếp bằng lời nói là hình thức giao tiếp thông dụng nhất, thông qua việc sử dụng lời nói để truyền đạt thông tin. Ví dụ như: thảo luận trong cuộc họp nhóm; truyền đạt thông tin trong buổi thuyết trình;… Giao tiếp bằng văn bản: bao gồm các hình thức giao tiếp bằng email, tin nhắn, ghi chú, báo cáo, tài liệu,… Ví dụ: gửi email để trao đổi thông tin và yêu cầu; gửi tin nhắn để thông báo hoặc thảo luận; viết báo cáo hoặc tài liệu để chia sẻ thông tin chi tiết,… Giao tiếp bằng hình ảnh: bao gồm các hình thức giao tiếp bằng biểu đồ, bản đồ, hình ảnh, tranh ảnh,… Ví dụ như: sử dụng biểu đồ để trình bày dữ liệu và số liệu; sử dụng hình ảnh hoặc tranh ảnh để minh họa ý tưởng và khái niệm;… Giao tiếp bằng hành động là hình thức giao tiếp sử dụng ngôn ngữ cơ thể như cử chỉ, biểu hiện khuôn mặt, thái độ, phong cách ăn mặc,… Ví dụ như: sử dụng cử chỉ và biểu hiện khuôn mặt để truyền đạt ý kiến và tình cảm; thể hiện thái độ và quyết định thông qua ngôn ngữ cơ thể; lựa chọn phong cách ăn mặc để truyền đạt văn hóa và thông điệp cá nhân,… Giao tiếp bằng trực quan: bao gồm các hình thức giao tiếp thông qua âm nhạc, biểu đồ, ký hiệu,… Giao tiếp bằng phương tiện truyền thông như: truyền hình, radio, báo chí,… Ví dụ như: tham gia phỏng vấn, đọc và viết bài báo cho các phương tiện truyền thông, sử dụng các kênh truyền thông xã hội để giao tiếp và chia sẻ thông tin.

Cách rèn luyện năng lực giao tiếp hiệu quả Tự tin khi nói chuyện: để tự tin trong thảo luận, đưa ra ý kiến,…thì chúng ta cần phải trang bị cho bản thân tri thức, kiến thức. Trả lời ngắn gọn, rõ ràng đi đúng trọng tâm: sử dụng những ngôn ngữ rõ nghĩa, phổ thông để truyền đạt thông tin mà mình muốn đề cập để người nghe dễ dàng hiểu. Tạo sự thân thiện: thân thiện tạo nên cảm giác thoải mái khi nói chuyện. Sự tôn trọng: bạn cần học cách chủ động và lắng nghe các quan điểm cá nhân của đối phương, không nên áp đặt đối phương theo suy nghĩ của mình.

Việc tôn trọng người đối thoại với mình sẽ làm cho vấn đề trao đổi dễ dàng được giải quyết hơn. Tư duy cởi mở: để rèn luyện kĩ năng này bạn nên thường giao tiếp với nhiều đối tượng và nhiều hoàn cảnh khác nhau. Biết cách đặt câu hỏi đúng trọng tâm chủ đề: việc này sẽ giúp bạn nhận được câu trả lời đúng ý người hỏi và làm cho câu chuyện dễ dàng phát triển hơn. Năng lực hợp tác 1.

Khái niệm năng lực hợp tác 5 Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực hợp tác. Cụ thể: Đinh Quang Báo và cộng sự, 2018 viết “Năng lực luôn gắn liền với một hoạt động cụ thể nào đó, trong đó năng lực gắn liền với những hoạt động hợp tác trong nhóm thì được gọi là năng lực hợp tác”. NLHT là khả năng tổ chức và quản lý nhóm, thực hiện các hoạt động trong nhóm một cách thành thạo, linh hoạt, sáng tạo nhằm giải quyết nhiệm vụ chung một cách có hiệu quả (Lê Thị Thùy Dương, 2017). Theo tác giả Lê Thị Minh Hoa: “NLHT là một dạng NL, cho phép cá nhân kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức giữa tri thức cần thiết cho sự hợp tác, kỹ năng và thái độ, giá trị, động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu của hoạt động HT trong bối cảnh cụ thể.

Trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác, sự tương tác và trách nhiệm cao trên cở sở huy động những tri thức, kỹ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả hoạt động HT”. Tác giả Mai Văn Hưng cho rằng: “NLHT bao gồm: Sự đồng cảm, sự định hướng, sự phục vụ, khả năng biết cách tổ chức, khả năng phát triển người khác, khả năng tạo ảnh hưởng, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng kiểm soát xung đột, kỹ năng lãnh đạo có tầm nhìn, khôn ngoan, những xúc tác để thay đổi, khả năng xây dựng các mối quan hệ, tinh thần đồng đội và sự hợp tác với người khác trong các hoạt động nhận thức”. Như vậy, NLHT được hiểu là năng lực của cá nhân khi tham gia hoạt động hợp tác dựa trên sự chia sẻ, trao đổi, hỗ trợ, giúp đỡ, phối hợp các thành viên nhằm giải quyết hiệu quả nhiệm vụ chung trong một tình huống có ý nghĩa. Các biểu hiện của năng lực hợp tác Năng lực hợp tác gồm các biểu hiện: Xác định được mục đích và phương thức hợp tác; Xác định được trách nhiệm và hoạt động của bản thân; Xác định được nhu cầu và khả năng của người hợp tác; Tổ chức và thuyết phục người khác; Đánh giá được hoạt động của người hợp tác.

Cấu trúc năng lực hợp tác Trên cơ sở các yêu cầu cần đạt về NLHT của HS mà Bộ GD & ĐT (2018) đưa ra, kết hợp với thực tiễn dạy học, chúng tôi đề xuất cấu trúc NLHT gồm các thành tố và biểu hiện hành vi tương ứng như sau: Bảng 1. Cấu trúc của NLHT Thành tố Chỉ số hành vi Nội hàm của hành vi 1. Xác định rõ ràng vai trò của mỗi thành viên nhóm HT và mối quan hệ giữa các thành viên. Các thành viên hoán đổi được vai trò cho 6 nhau.

Tổ chức nhóm và 1. Dự kiến các công việc cụ thể cho từng thành lập kế hoạch HT viên. Xác định được trình tự thời gian và cách thức thực hiện công việc. Tự giác hoàn thành nhiệm vụ được giao.

nhiệm vụ được 2. Biết rõ mục đích và công việc cần làm ở mỗi giao vị trí khác nhau để hỗ trợ các thành viên khác hoàn thành nhiệm vụ. Trình bày ý kiến cá nhân cũng như kết quả kiến cá nhân - thực hiện nhiệm vụ một cách có hệ thống. kết quả thực 2.

Đưa ra các lý lẽ để chứng minh quan điểm hiện nhiệm vụ một cách thuyết phục. Tập trung chú ý lắng nghe một cách chăm 2. Tham và phản hồi chú và chọn lọc được thông tin chính. Đưa ra thông tin phản hồi nhanh chóng, động HT chính xác và đi thẳng vào những nội dung quan trọng.

Đề xuất và lựa chọn giải pháp phù hợp. Thống nhất quá trình theo dõi, giám sát việc thực hiện phương án đã được thống nhất lựa chọn trước đó. Ghi chép, tổng hợp đầy đủ và chính xác các tổng hợp kết ý kiến của những thành viên trong nhóm bằng quả HT hình thức phù hợp. Phân chia và sắp xếp nội dung bản báo cáo theo trình tự hợp lí, rõ ràng có hệ thống.

Đánh giá chính xác mức độ thực hiện nhiệm giá và đánh giá vụ của bản thân khi tham gia hoạt động nhóm dựa lẫn nhau vào các tiêu chí đã đề ra. Đánh giá một cách khách quan, công bằng 7 3. Đánh mức độ thực hiện nhiệm vụ của các thành viên giá hoạt khác khi tham gia hoạt động nhóm dựa vào các động HT tiêu chí đã đề ra. Nêu được ý kiến nhận xét sản phẩm của cả kết quả hoạt nhóm.

Đưa ra được phương án cải tiến sản phẩm của cả nhóm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ