Chương I SAN PHAM VA DICH VU THONG TIN THƯ VIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG THONG TIN - THU VIEN TAI TRUONG CAO DANG KINH TE - TÀI CHÍNH THÁI NGUYÊN 1. Những vấn đề chung về sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện 1. Khái niệm về sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện Sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện là hai bộ phận có sự kết hợp và tác động lẫn nhau tạo nên một hệ thống chặt chẽ trong hoạt động thông tin- thư viện. Sản phẩm thông tin-thư viện Theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2000, “Sản phẩm” là kết quả của quá trình tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác lẫn nhau.
để biến đầu vào thành đầu ra. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “sản phẩm” là kết quả các hoạt động hoặc các quá trình. Sản phẩm có thể là hàng hóa vật chất và phi vật chất. Mức độ thỏa mãn nhu cầu ở từng sản phâm khác nhau cũng rất khác nhau [27, tr.723] Như vậy có thể coi sản phẩm thông tin-thư viện là kết quả hữu hình của hoạt động xử lý thông tin (bao gồm biên mục, phân loại, định từ khóa, tóm tắt chú giải, biên soạn tổng luận,.) do một cá nhân hay một tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn NCT của NDT khi sử dụng các cơ quan TT - TV.
Mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin ở những sản phẩm khác nhau cũng rất khác nhau. Các sản phẩm thông tin thư mục có khả năng thỏa mãn những nhu cầu tra cứu thông tin về tài liệu, các sản phẩm thông tin dạng dữ kiện, toàn văn, tổng thuật. có khả năng thỏa mãn nhu cầu về chính bản thân thông tin 15 Sản phẩm phải phụ thuộc chặt chẽ vào nhu cầu cũng như sự vận động. biến đổi của nhu cầu.
Sản phẩm thông tin-thư viện trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, cần không ngừng được hoàn thiện để thích ứng cả về nội dung và hình thức với nhu cầu mà nó hướng tới Địch vụ thông tỉn-thu viện “Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta được biết đến rất nhiều hoạt động trao đổi được gọi chung là dịch vụ và ngược lại dịch vụ bao gồm rất nhiều các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các lĩnh vực ở các cấp độ khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông có tổ chức và được trả công” [28, tr. 265] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: khái niệm dịch vụ được hiểu là “những hoạt động phục vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt" [27, tr.T61] Philip Kotler coi dịch vụ là một hoạt động nhằm để trao đổi. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất.
Như vậy dịch vụ nói chung là loại hình hoạt động gắn chặt với người được hưởng.522] Qua các phân tích trên có thể hiểu dịch vụ TT - TV là tổ hợp một số hình thức hoạt động thông tin của các cơ quan TT - TV nhằm thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin. Các hoạt động dịch vụ thông tin-thư viện có thể kể đến như cung cấp tài liệu; dịch vụ dịch thuật; dịch vụ internet; phổ biến thông tin có chọn lọc; các dịch vụ trao đôi thông tin (Hội thảo, hội chợ, triển lãm); đào tạo người dùng tin. Giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện có những nét khác biệt. Dịch vụ nói chung là loại hình hoạt động luôn gắn chặt với người thực hiện 16 nó.
Trong lĩnh vực thông tin-thư viện, mdi dich vu cu thé đều gắn chặt với mỗi nhóm chuyên gia khác nhau. Dịch vụ thông tin có những thuộc tính đặc trưng so với sản phẩm thông tin: - Tinh vô hình: Dịch vụ không thể nhìn thấy, nắm lấy hay nhận diện bằng giác quan, chỉ sau khi sử dụng mới có đánh giá đầy đủ về dịch vụ mà bạn đọc đã sử dụng. Do đó các nhà cung cấp dịch vụ khi quảng cáo, marketing cho các dịch vụ, cần tạo cho khách hàng cảm giác hữu hình về tiềm năng của dịch vụ đó. ~ Tính không xác định: Dịch vụ gắn liền với người cung cấp dịch vụ, vì thế chất lượng dịch vụ phụ thuộc chặt chẽ vào từng cá nhân thề hiện dịch vụ như trình độ, ký năng, tâm sinh lý, đảo tạo người dùng tin.
~ Tính liên hoàn: Dịch vụ cần đảm bảo tính liên tục, không tách rời. Để thực hiện tìm kiếm thông tin gồm các giai đoạn sau: + Nhận yêu cầu từ người dùng tin + Phân tích nhu cầu + Xác định nguồn cần thực hiện phép tìm + Thực hiện quá trình tìm + Gửi kết quả tới NDT có nhu cầu Tất cả các công đoạn trên không thể tiến hành độc lập với nhau vì người sử dụng dịch vụ không kết quả riêng lẻ của từng công đoạn mà họ chỉ quan tâm đến kết quả cuỗi cùng có thỏa mãn nhu cầu của họ không, 1. Mỗi quan hệ giữa sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện Sản phẩm và dich vu déu do quá trình lao động tạo ra. Dịch vụ và sản phẩm thông tin đều là kết quả của quá trình xử lý thông tin, đều nhằm thỏa 17 mãn nhu cầu của người dùng tin và giúp con người trao đôi thông tin với nhau.
Mỗi sản phẩm thông thường đều có gắn với một hoặc một số dịch vụ nhằm tạo ra hiệu quả sử dụng cao nhất có thể Có thể nói trong hoạt động TT - TV, sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện được coi là một phương thức để tạo lập tài nguyên thông tin và hàng hóa thông tin trong xã hội. Chất lượng của sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện là thước đo hiệu quả hoạt động TT - TV, là yếu tố cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan TT - TV. - Với người dùng tin: SP&DVTT - TV là hệ thống các công cụ, phương tiện giúp người dùng tin xác định, truy cập, khai thác các nguồn tin của cơ quan TT - TV một cách nhanh chóng và dễ dàng hay nói cách khác SP&DVTT - TV giúp người dùng tin nâng cao năng lực khai thác thông tin và thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin. Sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện có mối quan hệ mật thiết và tác động hỗ trợ nhau tạo nên một hệ thống thống nhất.
Mỗi loại sản phẩm và dich vụ chỉ có hiệu quả phục vụ cao nhất đối với một nhóm người dùng tin nhất định trong những điều kiện nhất định. Nếu chỉ sử dụng một sản pham hoặc một dịch vụ cụ thể sẽ không khai thác hết giá trị nguồn lực thông tin của một đơn vị để đáp ứng cho mọi nhu cầu tìm tin của người dùng tin. Vì vậy cần phải liên kết, phối hợp trong tô chức các sản phẩm và dịch vụ, tạo nên một hệ thống sản phẩm và dịch vụ đa dạng, thích hợp với người dùng tin, khai thác triệt để nguồn thông tin, đáp ứng đến mức cao nhất nhu cầu tin của họ Nhu vay, trong hoạt động thông tin-thư viện, SP&DVTT - TV có vai trò quan trọng và là một hệ thống luôn năng động và phát triển theo từng thời đại để phù hợp với nhu cầu xã hội. Các yếu tố tác động tới chất lượng, hiệu quả sản phẩm và dịch vụ thông tin-thu viện Yếu tố chủ quan Năng lực của cán bộ thông tin-thư viện Năng lực của cán bộ TTTV (năng lực của cán bộ thực hiện dịch vụ và tạo ra các sản phẩm thông tin) là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được.
Năng lực của nhân viên thư viện có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của sản phẩm và hiệu quả của dịch vụ. Do đó, nhân viên thực hiện cần có các kỹ năng chủ yếu mà người thực hiện phải có như: - C6 sự am hiểu về chuyên môn nghiệp vụ TTTV. ~ Có kỹ năng giao tiếp với khách hàng (khả năng phân tích, hiểu đầy đủ, chính xác nhu cầu của người dùng tỉn, sự thân thiện và lịch sự với người dùng tin). - Có khả năng ngoại ngữ (để tổng hợp thông tin từ các nguồn tài liệu, giúp NDT tiếp cận được với thông tin mà không bị rào cản về ngôn ngữ).
~ Có khả năng sử dụng các trang thiết bị hiện đại để khai thác, thu thập. thông tin và khả năng tư , hướng dẫn NDT Yếu tố khách quan - Nguôn lực thông tin Đối tượng xử lý thông tin là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới các SP - DVTTTV, bởi vì “ Sản phẩm chính là sự phản ánh vẻ đối tượng nhằm thỏa mãn nhu câu thông tin về chúng cho NDT” [1§, tr221] Trước đây, các cơ quan TTTV chỉ chủ yếu giới hạn về việc cung cấp thông tin về nguồn tài liệu như: các xuất bản phẩm (sách, tài liệu chuyên khảo, báo, tạp chí.), các tài liệu chưa xuất bản (luận án, luận văn, báo cáo 19 khoa học,. Sau này, đối tượng xử lý thông tin còn được mở rộng ra các loại phi văn bản (tranh ảnh, bản đồ, video, tai liệu điện tử. Tương ứng với mỗi nhóm đối tượng trên, đã hình thành các tiêu chuẩn xử lý thông tin riêng, hình thành các sản phẩm - dịch vụ đa dạng hơn,.
Nhờ có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin mới, các cơ quan TTTV có thể tạo ra các sản phẩm mà trong. đó thông tin được xử lý phong phú, đa dang, thích hợp cho việc thỏa mãn nhu. cầu thông tin của NDT. Mặt khác, với mỗi loại hình thư viện khác nhau, mỗi cơ quan TTTV có vốn tài liệu khác nhau, sự đa dạng hay chuyên sâu của mỗi nguồn tin khác nhau đã tác động đến sự phát triển, hiệu quả của mỗi sản phâm TTTV.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tẳng công nghệ thông tin và các thiết bị phụ trợ Hiện nay, thư viện đã sử dụng rất nhiều các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để thực hiện các công tác nghiệp vụ cũng như tạo ra được nhiều dịch vụ mới phù hợp với yêu cầu của NDT. Vai trò của nó rất quan trọng như phục vụ các công đoạn xử lý và truyền tải thông tin. Các trang thiết bị xử lý thông tin như: máy đọc mã vạch, máy in mã vạch, các thiết bị khử tử, các thiết bị nghe nhìn như máy tính, tai nghe,. các trang thiết bị trên đã cho phép thực hiện được rất nhiều loại dịch vụ đối với NDT (có vai trò cả việc tạo lập và quản lý các sản phẩm).