mở đầu bằng bài nghiên cứu của Razin & Collins (1997) và sau đó là một loạt những nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện với mẫu các quốc gia và thời kỳ khác nhau (Gala & Lucinda, 2006; Rodrik, 2008; Eichengreen, 2008; MacDonald & Viera, 2010; Berg & Miao, 2010; …). Những nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và tăng trưởng trên thế giới chủ yếu được thực hiện trên dữ liệu bảng cho một nhóm các quốc gia, rất ít nghiên cứu về đề tài này sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian cho một quốc gia riêng lẻ. Tại Việt Nam hiện nay các nghiên cứu về tỷ giá hối đoái thực tập trung theo hai hướng. Thứ nhất, nghiên cứu xây dựng mô hình xác định các biến kinh tế cơ bản quyết định tỷ giá thực (Ha Thi Thieu Dao et al, 2012).
Thứ hai, nghiên cứu ước lượng tỷ giá hối đoái thực cân bằng sau đó xác định mức độ sai lệch của nó và tác động của sự sai lệch này đến các biến kinh tế khác như cán cân thương mại, thành quả xuất khẩu (Ha Thi Thieu Dao et al, 2012; Vu Quoc Huy et al, 2013). Theo tìm hiểu của tác giả cho đến thời điểm này chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam kiểm định mối quan hệ giữa sai lệch tỷ giá hối đoái thực đến tăng trưởng kinh tế. Để kiểm định mối quan hệ giữa sai lệch tỷ giá thực và tăng trưởng kinh tế, trước tiên ta cần ước lượng mức tỷ giá thực cân bằng từ đó xác định mức độ sai lệch, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 2 tiếp đến ta mới có thể kiểm định ảnh hưởng của mức độ sai lệch này đến tăng trưởng kinh tế. Như vậy, nghiên cứu này tập trung vào hai mục tiêu: Ước lượng mức tỷ giả thực cân bằng của Việt Nam và xác định mức sai lệch.
Kiểm định mối quan hệ giữa sai lệch tỷ giá hối đoái thực đến sản lượng kinh tế của Việt Nam bằng cách xem sai lệch tỷ giá hối đoái thực là biến độc lập trong mô hình tăng trưởng. Phương pháp ARDL Bounds Test được áp dụng để ước lượng mô hình tỷ giá thực cũng như kiểm định mối quan hệ giữa tỷ giá thực và tăng trưởng kinh tế. Kết quả ước lượng mô hình tỷ giá thực cho thấy một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ, độ mở thương mại, tỷ giá thương mại, tài sản nước ngoài ròng sẽ khiến đồng Việt Nam tăng giá (tỷ giá thực giảm); trong khi một sự gia tăng trong chênh lệch lãi suất sẽ khiến đồng Việt Nam giảm giá (tỷ giá thực tăng). Dữ liệu không ủng hộ cho sự tồn tại của hiệu ứng Balassa-Samuelson tại Việt Nam.
Mức tỷ giá thực thực tế của Việt Nam, trong phần lớn thời gian nghiên cứu, cao hơn mức tỷ giá thực cân bằng, nghĩa là đồng Việt Nam bị định giá thấp. Khi xem xét ảnh hưởng của mức độ sai lệch này đến GDP bình quân đầu người, ta thấy nhìn chung sai lệch tỷ giá có tác động tích cực. Khi nghiên cứu sâu hơn, ta có được kết quả là việc đồng Việt Nam bị định giá thấp có ảnh hưởng tích cực đến sản lượng kinh tế và có ý nghĩa thống kê; trong khi việc định giá cao sẽ làm giảm sản lượng nhưng hệ số âm này không có ý nghĩa thống kê. Các phần tiếp theo của luận văn được trình bày như sau: Chương 2 – Tổng quan lý thuyết.
Trong phần tổng quan lý thuyết chúng ta sẽ phân tích hai mục lớn là 2.1 - Lý thuyết về tỷ giá thực cân bằng; 2.2 - Lý thuyết về mối quan hệ giữa sai lệch tỷ giá thực và tăng trưởng kinh tế và 2.3 – Chính sách tỷ giá tại Việt Nam.1 – Lý thuyết về tỷ giá thực cân bằng, chúng ta sẽ thảo luận về 2.1 - Các vấn đề cơ bản về tỷ giá hối đoái thực cân bằng, 2.2 - Các phương pháp thường được sử dụng để ước lượng mức tỷ giá cân bằng này và 2.3 - Giới thiệu mô TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 3 hình ước lượng tỷ giá thực cân bằng trong trường hợp Việt Nam.2 – Lý thuyết về mối quan hệ giữa sai lệch tỷ giá thực và tăng trưởng kinh tế, chúng ta sẽ làm rõ các phần sau: 2.1 - Cách xác định sai lệch tỷ giá thực, 2.2 - Mối quan hệ giữa mức sai lệch này và tăng trưởng kinh tế, 2.3 - Giới thiệu mô hình tăng trưởng cho Việt Nam.3, chúng ta sẽ nhìn lại cơ chế cũng như diễn biến của tỷ giá Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Chương 3 – Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Trong phần này chúng ta sẽ thảo luận về cách thức thu thập dữ liệu cũng như phương pháp kiểm định mối quan hệ giữa các biến. Chương 4 – Kết quả thực nghiệm.
Phần này sẽ trình bày kết quả 4.1 – Thống kê mô tả, 4.2 - Ước lượng tỷ giá thực cân bằng cũng như mức độ sai lệch tỷ giá thực và 4.3 – Kiểm định tác động của sai lệch tỷ giá thực đến sản lượng kinh tế. Chương 5 – Kết luận. Trong phần này chúng ta sẽ tóm tắt kết quả nghiên cứu, thảo luận về những hạn chế của bài và gợi ý một số hướng nghiên cứu cho tương lai. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 CHƢƠNG 2 - TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.
Tỷ giá hối đoái thực cân bằng 2. Tỷ giá hối đoái thực – Định nghĩa và cách đo lƣờng Trước khi nghiên cứu các phương pháp ước lượng tỷ giá cân bằng, chúng ta cần nắm rõ những cách đo lường tỷ giá hối đoái khác nhau. Những nghiên cứu về tỷ giá hối đoái cân bằng liên quan đến nhiều loại tỷ giá như tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực, tỷ giá hiệu dụng. Như sẽ thấy ở phần sau, mỗi cách đo lường tỷ giá hối đoái sẽ giúp chúng ta nắm bắt những biến động khác nhau.
Chẳng hạn như phương pháp này sẽ giúp chúng ta nắm bắt dao động của tỷ giá hối đoái liên quan đến những cú sốc của nền kinh tế trong nước, trong khi phương pháp khác có thể giúp chúng ta xem xét dao động tỷ giá liên quan đến cả những yếu tố trong nước và nước ngoài. Việc lựa chọn cách đo lường tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào câu hỏi chính sách hay câu hỏi nghiên cứu mà chúng ta mong muốn giải đáp. Tỷ giá hối đoái thực – Khái niệm cơ bản Ngoại trừ một vài ngoại lệ (đa phần là những nghiên cứu áp dụng cách tiếp cận ngang bằng sức mua – Purchasing Power Parity) sử dụng tỷ giá danh nghĩa, khi nói về tỷ giá thực cân bằng, các nhà kinh tế hiểu đó là tỷ giá thực. Tỷ giá thực được thể hiện theo công thức sau: (1) Trong đó, Q là tỷ giá thực, E là tỷ giá danh nghĩa, P* là mức giá nước ngoài, P là mức giá trong nước.
Tỷ giá danh nghĩa trong công thức trên được định nghĩa là số nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ. Do đó một sự gia tăng trong E và Q hàm ý một sự sụt giảm trong giá trị đồng nội tệ. Một số tranh luận ủng hộ việc sử dụng tỷ giá thực thay vì tỷ giá danh nghĩa trong việc ước lượng tỷ giá cân bằng như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 Quyết định tiêu dùng và quyết định sản xuất thường được đưa ra dựa trên cơ sở giá trị thực hơn là giá trị danh nghĩa (Stein & Allen, 1995). Hầu hết các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi, áp dụng chính sách tỷ giá cố định với tỷ giá danh nghĩa không đổi hoặc được “neo” theo một hoặc một rổ các đồng tiền lớn.
Do vậy chúng ta sẽ phân tích được rất ít nếu chỉ nghiên cứu biến động của tỷ giá danh nghĩa. Một số nghiên cứu cho rằng khi đã tìm được tỷ giá thực cân bằng thì ta có thể dễ dàng tính toán tỷ giá danh nghĩa cân bằng. Ngoài công thức tính tỷ giá thực song phương như trên, một số nghiên cứu còn sử dụng tỷ giá thực hiệu dụng (QREER) – tỷ giá thực đa phương. Công thức tính tỷ giá thực hiệu dụng được suy ra từ Phương trình (1) như sau: (2) Trong đó: Pi* là mức giá của nước i, β là tỷ trọng thương mại của nước i, EX và IM là giá trị xuất và nhập khẩu.
Thông thường tỷ giá thực hiệu dụng sẽ được tính toán với các quốc gia đối tác chủ yếu (tổng tỷ trọng thương mại chiếm trên 75%). Giá cả hàng hóa mậu dịch và hàng hóa phi mậu dịch Trong phần này chúng ta sẽ xem xét vai trò của giá cả trong việc xác định tỷ giá thực. Để hiểu được điều này, chúng ta cần tách mức giá chung thành hai phần: mức giá của hàng hóa mậu dịch và mức giá của hàng hóa phi mậu dịch. Việc phân loại này rất hữu ích trong việc giải thích sự chuyển dịch từ cách tiếp cận PPP sang những mô hình tỷ giá được phát triển gần đây.
Những công thức dưới đây (với những ký tự thường) được thể hiện dưới dạng log. Mức giá trong nước và nước ngoài có thề được thể hiện như sau: p = β.pT (3a) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.p*T (3b) Trong đó: pNT và p*NT là mức giá của hàng hóa phi mậu dịch trong nước và nước ngoài. pT và pT* là mức giá của hàng hóa mậu dịch trong nước và nước ngoài. β và (1 – β) là tỷ lệ hàng hóa phi mậu dịch và mậu dịch của nền kinh tế trong nước.
β* và (1 – β*) là tỷ lệ hàng hóa phi mậu dịch và mậu dịch của nền kinh tế nước ngoài. Thay thế Phương trình 3a và 3b vào phương trình 1, ta có được công thức tỷ giá thực như sau: q = (e + p*T - pT) – [(1 – β)(pNT – pT) – (1 – β*)(p*NT – p*T)] (4) Qua Phương trình 4 chúng ta co thể rút ra một số điểm quan trọng có ảnh hưởng đến việc ước lượng tỷ giá cân bằng như sau: Phương trình 4 hàm ý rằng dao động của tỷ giá thực có thể đến từ hai nguồn: tỷ giá thực của hàng hóa mậu dịch (e + pT* - pT), và tỷ lệ giá tương đối của hàng hóa phi mậu dịch và hàng hóa mậu dịch trong nước so với nước ngoài [(1 – β)(pNT – pT) – (1 – β*)(p*NT – p*T)]. Những cách đo lường tỷ giá thực khác nhau sẽ thể hiện những góc nhìn khác nhau và do đó ảnh hưởng đến việc ước lượng tỷ giá thực cân bằng.