CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RỦI RO TUÂN THỦ THUẾ VÀ QUẢN LÝ RỦI RO TUÂN THỦ THUẾ 1. Tuân thủ thuế 1. Khái niệm tuân thủ thuế Theo Alm (1991), tuân thủ thuế có thể được tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau. Ví dụ, trong lĩnh vực tài chính công, tuân thủ thuế liên quan đến các vấn đề công bằng và hiệu quả; trong thị trường lao động, không tuân thủ có thể tác động đến sự lựa chọn nghề nghiệp của người lao động hay cung lao động.
Theo các lý thuyết về doanh nghiệp, tuân thủ thuế liên quan đến vấn đề người đại diện (principal-agent). Vấn đề này tạo ra thách thức cho các doanh nghiệp trong việc kiến tạo một hệ thống tuân thủ luật thuế hiệu quả. Các nhà khoa học đã đưa ra định nghĩa riêng về tuân thủ thuế. Long và Swingen (1991) coi sự tuân thủ thuế là kết quả của quá trình tương tác giữa cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế.577) đưa ra một khái niệm khác về tuân thủ thuế.
Theo tác giả tuân thủ thuế là “báo cáo tất cả thu nhập và trả tất cả tiền thuế theo các quy định của pháp luật về thuế và quyết định của tòa án”. Trong khi đó James và Alley (2002, Trang.32) lại định nghĩa tuân thủ thuế như là “sự tự nguyện của cá nhân và tổ chức nộp thuế trong việc hành động theo các quy định của pháp luật về thuế mà không cần sự cưỡng chế từ cơ quan quản lý thuế”. Định nghĩa này bao gồm hai khía cạnh đó là sự tuân thủ tự nguyện và tuân thủ bắt buộc. Roth và cộng sự (1989) đưa ra một định nghĩa chung hơn đó là “tuân thủ thuế là việc khai đúng số thuế 13 phải nộp”.
Brown và Mazur (2003) chia tuân thủ thuế thành ba thành phần bao gồm: kê khai, báo cáo và nộp đủ số thuế phải nộp. Theo đó, McKerchar (2003) đã đưa ra một định nghĩa cụ thể về tuân thủ thuế như sau:“Tuân thủ thuế có nghĩa là người nộp thuế kê khai đầy đủ và đúng hạn số thuế phải nộp, nộp thuế đúng hạn và lưu trữ đầy đủ hồ sơ theo các quy định của pháp luật và quyết định của tòa án”. Theo quan điểm của OECD (2004, trang 7) tuân thủ thuế là một khái niệm thuộc phạm trù pháp luật với bốn khía cạnh bao gồm : (1) kê khai thuế; (2) khai báo kịp thời các thông tin cần thiết về thuế; (3) báo cáo thông tin đầy đủ và chính xác và (4) nộp thuế đúng hạn. Theo quan điểm của cơ quan thuế Việt Nam (Tổng cục Thuế) tuân thủ thuế là việc chấp hành nghĩa vụ của người nộp thuế theo đúng luật quy định bao gồm các hoạt động đăng ký, kê khai, báo cáo, nộp thuế.
Bất kỳ sự vi phạm nào trong các khâu trên đều dẫn đến sự không tuân thủ ở các mức độ khác nhau. Như vậy có thể thấy, khái niệm về tuân thủ thuế xoay quanh 02 khía cạnh, theo lý thuyết đó là sự tự nguyện tuân thủ của người nộp thuế còn dưới giác độ pháp lý đó là sự bắt buộc người nộp thuế phải tuân thủ nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật. Theo quan điểm của Nhóm tác giả “tuân thủ thuế là hành vi mà người nộp thuế kê khai, báo cáo và nộp thuế chính xác, đúng hạn toàn bộ số thuế phải nộp”. Quan điểm về tuân thủ thuế của Nhóm tác giả bao hàm cả tuân thủ thuế tự nguyện và tuân thủ thuế bắt buộc.
Sẽ không có gì phải tranh luận nếu chỉ coi tuân thủ thuế là việc kê khai, báo cáo đúng và đủ số thuế phải nộp đúng thời hạn. Tuy nhiên, trên thực tế, việc tuân thủ thuế bao gồm rất nhiều việc như: tính thuế, kê khai thuế, cất giữ chứng từ theo quy định, nộp tiền thuế và giải trình việc tính thuế…Trong quá trình này có thể có những sai sót do chủ ý hoặc những sai sót không chủ ý do bất cẩn hoặc thiếu hiểu biết về thuế. Những sai sót này có thể dẫn đến việc không tuân thủ thuế, trong đó hai biểu hiện cụ thể của việc không tuân thủ thuế bao gồm trốn thuế và tránh thuế. OECD1 định nghĩa trốn thuế là “sự thu xếp vi phạm pháp luật nhằm che dấu hoặc lờ đi nghĩa vụ thuế phải nộp, ví dụ người nộp thuế nộp ít tiền thuế hơn số thuế phải nộp bằng cách che dấu các thông tin về thu nhập chịu thuế với cơ quan thuế”.
Các hành vi này bao gồm nhưng không giới hạn ở việc không kê khai thuế, kê khai không đủ thu nhập chịu thuế hoặc khai khống chi phí, hoặc kê khai thiếu số thuế phải nộp (Murphy, 2004). Một ví dụ điển hình của việc trốn thuế là tập đoàn Enron đã sử dụng những kỹ thuật kế toán hết sức tinh vi và thiên đường thuế để thực hiện hành vi trốn thuế của mình. Tránh thuế (tax avoidance), không giống như trốn thuế, vốn được coi là một hành vi vi phạm pháp luật, tránh thuế lại được coi là một nghệ thuật không phải trả thuế mà không vi phạm bất cứ luật thuế nào. Weber và cộng sự (2014) cho rằng tránh thuế hàm ý người nộp thuế tận dụng các kẽ hở trong luật thuế để giảm số thuế phải nộp và vì vậy không vi phạm pháp luật.
Tuy nhiên vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận về trốn thuế và tránh thuế. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng không nên phân biệt giữa trốn thuế và tránh thuế vì cả hai trường hợp đều làm số thuế phải nộp bị giảm đi và như vậy giảm sự tuân thủ thuế cũng như làm gia tăng rủi ro về thuế. Nói tóm lại, tuân thủ thuế là một khái niệm có tính lỏng và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau. Tuy nhiên tựu chung lại, tuân thủ thuế bao hàm cả tuân thủ tự nguyện (người nộp thuế tự nguyện nộp thuế đầy đủ) và tuân thủ bắt buộc (liên quan đến việc cưỡng chế nộp thuế đúng đủ và đúng hạn theo quy định của pháp luật).
1 Theo the OECD Centre for Tax Policy and Administration's Glossary of Tax Terms. See http://www.org/ctp/glossaryoftaxterms. Retrieved at 11 January 2018. Phân loại tuân thủ thuế Brown và Mazur (2003) chia tuân thủ thuế thành 3 loại đó là: tuân thủ kê khai, tuân thủ thanh toán và tuân thủ báo cáo.
Ba loại tuân thủ này vừa bổ sung, vừa loại trừ lẫn nhau, cung cấp một cái nhìn toàn diện về tuân thủ của người nộp thuế đồng thời có thể được sử dụng để dự báo những khoản thất thu thuế. Tuân thủ kê khai là loại tuân thủ liên quan đến tỷ lệ người nộp thuế kê khai thuế. Tỷ lệ này được tính bằng số người kê khai thuế trên tổng số người nộp thuế đã đăng ký thuế. Tỷ lệ này cho biết số phần trăm người nộp thuế trên tổng số người đăng ký thuế đã kê khai theo quy định của pháp luật.
Tuân thủ thanh toán (tuân thủ nộp thuế) là loại tuân thủ liên quan đến việc thanh toán số tiền thuế đúng hạn theo quy định của pháp luật. Akhand và Hubbard (2016) đo lường hành vi tuân thủ này bằng cách tính phần trăm số thuế nộp đúng hạn trên số thuế báo cáo kê khai. Phương pháp này được chia làm 02 phương pháp nhỏ: tỷ lệ tuân thủ thanh toán tự nguyện, được đo bằng tỷ lệ phần trăm của tổng số thuế đã nộp đúng hạn so với tổng số thuế được kê khai đúng hạn; và tỷ lệ tuân thủ thanh toán cộng dồn, được đo bằng tỷ lệ số thuế đã nộp trong khoảng thời gian được thông báo so với tổng số thuế đã được kê khai đúng hạn. Những phương pháp này, giống như tên gọi của chúng, liên quan nhiều đến việc thanh toán đúng hạn hơn là số tiền thuế thu được bởi vì một số người nộp thuế có thể không có nghĩa vụ thanh toán vào ngày kê khai hoặc bởi vì số thuế được khấu trừ tại nguồn hoặc vì đã ứng trước tiền thu đã nộp thừa các kỳ khai thuế trước đó.
Tuân thủ báo cáo thuế là việc báo cáo các nghĩa vụ thuế, thu nhập hoặc chi phí của người nộp thuế một cách trung thực. Tuân thủ báo cáo thuế đo lường việc liệu thu nhập của người nộp thuế có bị giấu đi, chi phí có bị làm tăng thêm và các khoản chi có đúng với nội dung kinh tế phát sinh và có đúng với quy định của pháp luật hay không. 16 Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) chia tuân thủ thuế thành tuân thủ đăng ký thuế, tuân thủ kê khai thuế, tuân thủ báo cáo thuế và tuân thủ nộp thuế. Các loại tuân thủ này liên quan đến tuân thủ bắt buộc theo quy định của pháp luật thuế.
Pháp luật thuế quy định người nộp thuế phải thực hiện đầy đủ, kịp thời và đúng đắn các quy định của pháp luật thuế, cụ thể là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác trung thực và đầy đủ các hoạt động đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ khác của người nộp thuế. Kirchler và cộng sự (2008) chia tuân thủ thuế thành hai loại: tuân thủ tự nguyện và tuân thủ bắt buộc. Cụ thể, người nộp thuế có thể tự nguyện tuân thủ bởi vì họ cảm thấy bắt buộc phải làm như các thành viên của cộng đồng. Mặt khác, người nộp thuế cũng có thể tuân thủ thuế vì họ thấy rằng chi phí cho việc không tuân thủ là quá cao.
Tùy thuộc vào động cơ tuân thủ, đòi hỏi các phương thức khác nhau trong việc xây dựng các quy định về thuế. Kirchler và cộng sự (2008) cũng khẳng định rằng việc tuân thủ tự nguyện phần lớn được quyết định bởi sự tin tưởng của người nộp thuế với cơ quan thuế, trong khi tuân thủ bắt buộc chủ yếu dựa vào sức mạnh của chính quyền. Theo OECD (2014), hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế được chia thành 02 nhóm: - Tuân thủ hành chính: Là việc người nộp thuế tuân thủ các quy định hành chính về đăng ký, kê khai và nộp thuế đúng hạn. - Tuân thủ kỹ thuật: Là việc người nộp thuế thực hiện tính toán và nộp thuế chính xác theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Việt Nam, theo thông tư số 204/2015/TT-BTC, tuân thủ pháp luật thuế đối với người nộp thuế là việc tuân thủ trong các nghiệp vụ quản lý thuế bao gồm: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, nợ thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, hoàn thuế, kiểm tra, thanh tra thuế, tạo, in, phát hành, quản lý sử dụng 17 ấn chỉ thuế và các nghiệp vụ quản lý thuế khác. Như vậy, theo quan điểm của cơ quan quản lý tại Việt Nam, tuân thủ thuế gắn liền với các nghiệp vụ quản lý thuế của cơ quan quản lý nhà nước.