Luận văn thạc sĩ về rủi ro đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam qua hình thức hợp tác nhà nước - tư nhân

Luận văn thạc sĩ UEH phân tích rủi ro đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam qua hình thức hợp tác công tư, cung cấp cái nhìn sâu sắc và thực tiễn.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2011

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ CÔNG VÀ HÌNH THỨC HỢP TÁC NHÀ NƯỚC - TƯ NHÂN

1.1. Khái niệm và đặc điểm dự án đầu tư công

1.1.1. Khái niệm dự án đầu tư công

1.1.2. Đặc điểm dự án đầu tư công

1.1.3. Phân loại dự án đầu tư công

1.1.3.1. Phân loại theo nội dung dự án đầu tư
1.1.3.2. Phân loại theo phí người sử dụng

1.2. Cơ sở lý thuyết của hình thức hợp tác nhà nước tư nhân

1.2.1. Bối cảnh cải cách khu vực công và lý thuyết quản lý công mới NPM

1.2.2. Quan hệ hợp tác công tư góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược quản lý chi tiêu công

1.2.3. Thực hiện quan điểm “đáng giá đồng tiền trong việc lựa chọn đầu tư theo hình thức hợp tác nhà nước tư nhân

1.3. Hình thức hợp tác nhà nước tư nhân

1.3.1. Khái niệm hợp tác nhà nước tư nhân

1.3.2. Các hình thức hợp tác nhà nước tư nhân

1.3.3. Đặc điểm hợp tác nhà nước tư nhân

1.4. Mục tiêu của chính phủ và sự lựa chọn hình thức nhà nước tư nhân

1.5. Vấn đề về rủi ro và chia sẻ rủi ro trong đầu tư cơ sở hạ tầng theo hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân

1.5.1. Khái niệm và các loại rủi ro trong đầu tư cơ sở hạ tầng

1.5.1.1. Lý thuyết về rủi ro
1.5.1.2. Những rủi ro trong đầu tư cơ sở hạ tầng

1.5.2. Vấn đề về chia sẻ rủi ro trong đầu tư cơ sở hạ tầng thông qua hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân

1.5.2.1. Lý thuyết về chia sẻ rủi ro
1.5.2.2. Vấn đề chia sẻ rủi ro trong đầu tư cơ sở hạ tầng thông qua hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân

1.6. Kinh nghiệm các nước áp dụng hình thức hợp tác nhà nước tư nhân

1.6.1. Vương quốc Anh

2. CHƯƠNG 2: CHIA SẺ RỦI RO VÀ NHỮNG TRỞ NGẠI KHI ÁP DỤNG HÌNH THỨC HỢP TÁC NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN TRONG ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG Ở VIỆT NAM

2.1. Những dự án đầu tư cơ sở hạ tầng theo hình thức BOT và các thỏa thuận tương tự đã triển khai ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2010

2.1.1. Cơ sở pháp lý đã ban hành có liên quan đến hình thức hợp tác nhà nước tư nhân ở Việt Nam

2.1.2. Danh mục dự án đầu tư cơ sở hạ tầng theo hình thức BOT và các thỏa thuận tương tự đã triển khai ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010

2.1.3. Những dự án gặp rủi ro và cơ chế chia sẻ rủi ro của các đối tác tham gia đầu tư cơ sở hạ tầng theo hình thức BOT và các thỏa thuận tương tự đã triển khai ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010

2.1.3.1. Cơ chế chia sẻ rủi ro giữa nhà nước và khu vực tư nhân trong đầu tư cơ sở hạ tầng theo hình thức hợp tác công tư
2.1.3.2. Những dự án đầu tư cơ sở hạ tầng theo hình thức BOT và các thỏa thuận tương tự đã triển khai ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010 gặp vấn đề về rủi ro

2.2. Những tồn tại và hạn chế trong hoạt động trong hợp tác nhà nước tư nhân về đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam

2.2.1. Chưa đúng bản chất của hình thức đầu tư BOT

2.2.2. Năng lực quản lý thực hiện các dự án BOT và các thỏa thuận tương tự của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các bên liên quan

2.2.3. Khung pháp lý và thể chế quy định về hình thức đầu tư

2.2.4. Trở ngại do môi trường đầu tư kinh doanh

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG KHUYẾN NGHỊ VỀ CHIA SẺ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG THEO HÌNH THỨC HỢP TÁC NHÀ NƯỚC TƯ NHÂN Ở VIỆT NAM

3.1. Nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020

3.2. Những giải pháp hoàn thiện hình thức hợp tác nhà nhà nước – tư nhân trong đầu tư cở hạ tầng

3.2.1. Chuẩn bị tốt danh mục dự án kêu gọi đầu tư theo hình thức hợp tác nhà nước tư nhân

3.2.2. Thành lập Trung tâm hợp tác nhà nước tư nhân

3.2.3. Ban hành luật về hợp tác nhà nước tư nhân với khung pháp lý hoàn thiện và đầy đủ

3.2.4. Quy định rõ các cơ chế hỗ trợ và đảm bảo của Nhà nước đối với các dự án hợp tác công tư

3.2.5. Xây dựng cơ chế hỗ trợ và chia sẻ rủi ro với đối tác tư nhân

3.3. Những giải pháp tăng cường chia sẻ rủi ro trong mô hình hợp tác nhà nước – tư nhân về đầu tư cơ sở hạ tầng ở Việt Nam

3.3.1. Sử dụng mô hình tài chính để hỗ trợ việc ra quyết định đầu tư

3.3.2. Kiểm tra khả năng thanh toán nợ hàng năm trên cơ sở chỉ số tài chính về thanh toán nợ

3.3.3. Khuyến nghị trong công tác giải phóng mặt bằng

3.3.4. Xác định năng lực tài chính của Chủ đầu tư để hạn chế rủi ro về cung cấp tài chính cho dự án

3.3.5. Khuyến nghị vấn đề khu vực công chia sẻ rủi ro về nhu cầu với khu vực tư nhân

3.3.6. Thành lập quỹ hạ tầng đô thị hỗ trợ cho các dự án hợp tác công tư

3.3.7. Rút ngắn thời gian đàm phán hợp đồng hợp tác công tư

3.3.8. Tăng cường chức năng quản lý thực hiện hợp đồng PPP của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền

3.4. Kiến nghị nghiên cứu tiếp theo

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về rủi ro đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam

Đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam đang trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng nhất trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, việc đầu tư này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đầu tư. Các dự án cơ sở hạ tầng thường yêu cầu nguồn vốn lớn và thời gian thực hiện dài, dẫn đến việc cần phải đánh giá kỹ lưỡng các yếu tố rủi ro. Hợp tác giữa nhà nước và tư nhân (PPP) là một giải pháp tiềm năng để giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa nguồn lực đầu tư.

1.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư cơ sở hạ tầng

Đầu tư cơ sở hạ tầng bao gồm các dự án xây dựng và phát triển các công trình phục vụ cho nhu cầu xã hội. Các dự án này có thể được phân loại thành hai nhóm chính: hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội. Đặc điểm của các dự án này là yêu cầu vốn lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài, đồng thời chịu tác động từ nhiều yếu tố bên ngoài.

1.2. Tầm quan trọng của hợp tác nhà nước tư nhân

Hợp tác nhà nước - tư nhân (PPP) giúp tối ưu hóa nguồn lực đầu tư và giảm thiểu rủi ro cho cả hai bên. Mô hình này cho phép huy động vốn từ khu vực tư nhân, đồng thời đảm bảo rằng các dự án được thực hiện hiệu quả và bền vững. Việc áp dụng mô hình PPP đã chứng minh được hiệu quả trong nhiều dự án lớn tại Việt Nam.

II. Những thách thức trong đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam cũng đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu hụt nguồn vốn, khung pháp lý chưa hoàn thiện và sự không đồng nhất trong quản lý rủi ro là những yếu tố cản trở sự phát triển bền vững của các dự án. Việc nhận diện và phân tích các thách thức này là rất cần thiết để tìm ra giải pháp hiệu quả.

2.1. Thiếu hụt nguồn vốn đầu tư

Nguồn vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng tại Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà nước và ODA. Tuy nhiên, với tình hình ngân sách hạn hẹp, việc thu hút vốn từ khu vực tư nhân trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Các dự án cần có cơ chế khuyến khích để thu hút đầu tư từ tư nhân.

2.2. Khung pháp lý chưa hoàn thiện

Khung pháp lý cho các dự án PPP tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Việc thiếu các quy định rõ ràng về chia sẻ rủi ro và trách nhiệm giữa các bên tham gia khiến cho các nhà đầu tư tư nhân e ngại khi tham gia vào các dự án cơ sở hạ tầng.

III. Phương pháp chia sẻ rủi ro trong đầu tư cơ sở hạ tầng

Chia sẻ rủi ro là một trong những yếu tố quan trọng trong mô hình hợp tác nhà nước - tư nhân. Việc xác định rõ ràng các loại rủi ro và cách thức chia sẻ giữa nhà nước và tư nhân sẽ giúp tăng cường tính bền vững cho các dự án. Các phương pháp chia sẻ rủi ro cần được áp dụng một cách linh hoạt và phù hợp với từng dự án cụ thể.

3.1. Các loại rủi ro trong đầu tư cơ sở hạ tầng

Các loại rủi ro trong đầu tư cơ sở hạ tầng bao gồm rủi ro tài chính, rủi ro kỹ thuật, và rủi ro chính trị. Mỗi loại rủi ro đều có những đặc điểm riêng và cần được quản lý một cách hiệu quả để đảm bảo thành công cho dự án.

3.2. Cơ chế chia sẻ rủi ro hiệu quả

Cơ chế chia sẻ rủi ro giữa nhà nước và tư nhân cần được thiết lập rõ ràng trong hợp đồng PPP. Việc xác định trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên sẽ giúp giảm thiểu xung đột và tăng cường sự hợp tác trong quá trình thực hiện dự án.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu về rủi ro đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam thông qua hình thức hợp tác nhà nước - tư nhân đã chỉ ra rằng việc áp dụng mô hình này có thể mang lại nhiều lợi ích. Các dự án thành công đã chứng minh rằng việc chia sẻ rủi ro hợp lý có thể giúp tối ưu hóa nguồn lực và nâng cao hiệu quả đầu tư.

4.1. Các dự án thành công trong mô hình PPP

Một số dự án lớn như cầu Phú Mỹ và đường cao tốc Bắc - Nam đã áp dụng mô hình PPP thành công. Những dự án này không chỉ giúp cải thiện cơ sở hạ tầng mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm và thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các dự án

Các bài học từ những dự án thành công cho thấy rằng việc chuẩn bị kỹ lưỡng và có sự tham gia của các bên liên quan là rất quan trọng. Việc xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch cũng là yếu tố quyết định đến sự thành công của các dự án PPP.

V. Kết luận và tương lai của đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam

Đầu tư cơ sở hạ tầng tại Việt Nam thông qua hình thức hợp tác nhà nước - tư nhân đang mở ra nhiều cơ hội mới. Tuy nhiên, để đạt được thành công bền vững, cần có những cải cách mạnh mẽ trong quản lý rủi ro và khung pháp lý. Tương lai của đầu tư cơ sở hạ tầng phụ thuộc vào khả năng thu hút vốn từ khu vực tư nhân và sự hợp tác hiệu quả giữa các bên liên quan.

5.1. Triển vọng phát triển mô hình PPP

Mô hình PPP có tiềm năng lớn trong việc phát triển cơ sở hạ tầng tại Việt Nam. Việc cải thiện khung pháp lý và chính sách hỗ trợ sẽ giúp thu hút nhiều nhà đầu tư hơn, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ công.

5.2. Khuyến nghị cho chính sách đầu tư

Cần có những chính sách khuyến khích đầu tư từ khu vực tư nhân, đồng thời xây dựng một môi trường đầu tư minh bạch và ổn định. Việc này sẽ giúp tăng cường niềm tin của nhà đầu tư và thúc đẩy sự phát triển bền vững của cơ sở hạ tầng tại Việt Nam.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh chia sẻ rủi ro về đầu tư cơ sở hạ tầng ở việt nam thông qua hình thức hợp tác nhà nước tư nhân

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HÌNH THỨC HỢP TÁC NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN VÀ CHIA SẺ RỦI RO TRONG HÌNH THỨC HỢP TÁC NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN VỀ ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG Chương này trình bày một số lý thuyết nền, khái niệm và đặc điểm có liên quan đến dự án đầu tư đầu tư công, dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, các quan điểm về chia sẻ rủi ro trong dự án đầu tư cơ sở hạ tầng theo hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân.1 Khái niệm và đặc điểm dự án đầu tư công: 1.1 Khái niệm dự án đầu tư công: Theo Glenn P.Jenkins và Arnold C.Harberger “Dự án đầu tư công là những dự án do Chính phủ tài trợ (cấp vốn) toàn bộ hay một phần hoặc do dân chúng tự nguyện đóng góp vốn bằng tiền hay bằng ngày công nhằm đáp ứng nhu cầu mang tính cộng đồng. Theo Nghị định 52/NĐ-CP ngày 8/7/1999 dự án đầu tư công là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của ngân sách nhà nước để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hoá nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Các khoản chi đầu tư phát triển tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế, nâng cao tri thức con người tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Các khoản chi này có tác dụng làm cho nền kinh tế tăng trưởng.

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng dự án đầu tư công là dự án đầu tư do chính phủ tài trợ toàn bộ hay một phần để hình thành cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, với mục tiêu đáp ứng nhu cầu phát triển và mang lại lợi ích cho cộng đồng. Dự án đầu tư công được thực hiện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội nên các dự án này được đặt ra trong chương trình đầu tư công hoặc trong chính sách, quy hoạch của ngành và vùng lãnh thổ.1) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chính sách, chiến lược phát triển quốc gia và vùng lãnh thổ Chương trình, quy hoạch quốc gia về hạ tầng, kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng… Dù ¸n ®Çu t­ c«ng Dự án Dự án Dự án Dự án Dự án đầu tư đầu tư đầu tư đầu tư đầu tư công công công công công Hình 1.1: Mô hình mối quan hệ giữa chính sách và chương trình dự án công 1.2 Đặc điểm dự án đầu tư công Dự án đầu tư công được thẩm định dựa trên nhiều khía cạnh: phân tích tài chính, phân tích kinh tế, phân tích phân phối, tác động môi trường.Điều này có nghĩa là dự án khi quyết định đầu tư cần xem xét dự án có bền vững về mặt tài chính hay không và chú trọng đến việc dự án mang lại lợi ích gì cho nền kinh tế hay xã hội. Điển giống nhau của đầu tư công và đầu tư tư là: nhu cầu vốn lớn, thời gian đầu tư và thu hồi vốn kéo dài, chịu tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội, thị trường…., điểm khác nhau giữa đầu tư công và đầu tư tư ( Xem bảng 1.1: So sánh đặc điển khác nhau giữa đầu tư công và đầu tư tư Nội dung Đầu tư công Đầu tư tư Chủ yếu nguồn vốn từ khu Vốn đầu tư 100 % vốn ngân sách vực tư nhân, vốn vay Tư nhân chịu rủi ro, tư nhân Rủi ro trong hoạt động đầu Khi xảy ra rủi ro nhà nước quản lý tốt với mục tiêu hạn tư gánh chịu hoàn toàn chế thấp nhất rủi Lợi ích xã hội => Lợi ích Khu vực tư nhân phải có lợi Lợi ích kinh tế kinh tế ích kinh tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Phân loại dự án đầu tư công 1.1 Phân loại theo nội dung dự án đầu tư Phân loại theo nội dung dự án chia làm hai nhóm: dự án đầu tư về hạ tầng kinh tế và dự án đầu tư về hạ tầng xã hội. Dự án đầu tư về hạ tầng kinh tế: cơ sở hạ tầng tiện ích công cộng (public utilities): năng lượng, viễn thông, nước sạch cung cấp qua hệ thống ống dẫn, khí đốt truyền tải qua ống, hệ thống thu gom và xử lý các chất thải trong thành phố.; công chánh (public works): đường sá, các công trình xây dựng đập, kênh phục vụ tưới tiêu.; giao thông (transport): các trục và tuyến đường bộ, đường sắt, cảng cho tàu và máy bay, đường thuỷ.

Dự án đầu tư về hạ tầng xã hội (social infrastructure): bao gồm các cơ sở, thiết bị và công trình phục vụ cho giáo dục đào tạo, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triển khai công nghệ; các cơ sở y tế, bảo vệ sức khoẻ, bảo hiểm xã hội và các công trình phục vụ cho hoạt động văn hoá, xã hội, văn nghệ, thể dục thể thao, chăm sóc các đối tượng thuộc diện chính sách, cai nghiện, thông tin truyền thông và điều trị các bệnh xã hội… 1.2 Phân loại theo phí người sử dụng dự án đầu tư Thông qua hoạt động đầu tư, nhà đầu tư bỏ ra một khoản chi phí nhất định để cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng, nhằm mục đích bù đắp chi phí đầu tư bỏ ra và thu được lợi nhuận (về lợi nhuận kinh tế hay ích lợi xã hội) trong tương lai, hoạt động cung cấp dịch vụ có thể thu phí hoặc không phí người sử dụng tùy theo mục đích của nhà đầu tư.2) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2: Phân loại dự án đầu tư theo phí người sử dụng Loại dự án Phạm vi áp dụng Mức phí nhằm đảm bảo cân Đầu tư Trung tâm thương mại, trung tâm đối kinh tế và tài chính: không thể thao, chỗ đậu xe, đường quốc lộ, cầu chỉ bù đắp chi phí mà còn tạo cảng, sân bay, mạng thông tin viễn ra lợi nhuận cho chủ dự án. Đầu tư xây dựng các khu vui chơi giải trí Có thu phí Để bù đắp chi phí đầu tư công cộng, hầm giao thông, tỉnh lộ, khu an nhưng không tạo ra lợi nhuận điều dưỡng. Thu phí để bù đắp chi phí quản Đầu tư đường giao thông nông thôn, cầu, lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng cống thoát nước, khu điều dưỡng người không bù đắp phần chi đầu tư. già, diện chính sách… Dự án tạo dựng những cơ sở, Dự án vệ sinh môi trường, tạo cảnh quan, Không thu phương tiện để khu vực công trường học, công trình văn hóa, kiến trúc phí cung cấp dịch vụ công tốt hơn lịch sử, trung tâm điều hành giao thông, cho người dân xúc tiến thương mại….

Nguồn: Giáo trình thẩm định dự án đầu tư khu vực công, TS. Nguyễn Hồng Thắng và TS. Nguyễn Thị Huyền,2009 1.2 Cơ sở lý thuyết của hình thức hợp tác nhà nước – tư nhân 1.1 Bối cảnh cải cách khu vực công và lý thuyết quản lý công mới – NPM [3,65] Giữa thập niên 70, sức ép gia tăng từ hai phía (suy thoái kinh tế - thất nghiệp cao, lạm phát và sự chỉ trích kéo dài về chất lượng và hiệu quả của dịch vụ công) đã thúc đẩy sự thay đổi trong quản trị của chính quyền. Mô hình “Quản lý công mới – New Public Management - NPM” ra đời ở Anh.

Đảng Bảo thủ đứng đầu là Thủ tướng Mageret Thatcher - lãnh đạo chính phủ Anh vào 1979 đã bắt đầu hàng loạt cải cách. Sau đó, New Zealand, Mỹ, Úc đã tham gia và mang lại làn sóng cải cách lan tỏa trên thế giới vào thập niên 80. NPM được tạo ra bởi những lý thuyết được chia làm hai nhóm: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Một là, “kinh tế thể chế mới”, được xây dựng dựa trên lý thuyết lựa chọn công (Public Choice Theory) của Kenneth Arrow (1950), James Buchanan phát triển thêm(1962); lý thuyết người chủ - người đại diện (Principal-Agent Theory) của Ross (1973), Wood và Waterman (1994) và lý thuyết chi phí giao dịch (Transation Cost Economics) của Ronald Coase (1960), Klein (1978), Oliver (1985) mà xem chính trị như là một hiện tượng của thị trường. Sự định hướng đến thị trường là nguyên tắc đầu tiên của NPM, với sự giới thiệu những cơ chế thị trường bao gồm công nghệ và những giá trị trong khu vực công, sẽ dẫn đến dịch vụ công của chính phủ có chất lượng cao và hiệu quả, cũng làm chi phí lớn hơn (Zhang, 2004).

NPM cung cấp một số phương pháp và công cụ quản lý đến khu vực công, như là tư nhân hóa và hợp đồng để nhận thức rõ sự không thích hợp của những tổ chức chính quyền mang tính quan liêu truyền thống, đồng thời xác định lại quan hệ giữa người mua dịch vụ (công dân) và nhà cung cấp (tổ chức công). Vì thế, có sự cạnh tranh nhiều hơn ở cả hai: giữa các tổ chức công với nhau và giữa các tổ chức công và khu vực tư nhân khi đưa ra sự cung ứng dịch vụ. Từ đó, chất lượng dịch vụ được cải tiến thông qua việc sử dụng những nhà cung cấp có tính cạnh tranh và những điều khoản cam kết trong hợp đồng (Yamamoto, 2003). Sự hoạt động thiếu hiệu quả của các tổ chức công (các đơn vị công) cung ứng dịch vụ là do những can thiệp chưa đúng của chính phủ, cũng như cơ cấu và bộ máy nhà nước có tính quan liêu cao, lý do đó đã thúc đẩy sự cải cách.

Trong thập niên 90, làn sóng cải cách về quản lý chi tiêu công ở các nước OECD được tiếp tục theo hướng đẩy mạnh trách nhiệm giải trình và quản lý hiệu quả (xu hướng quản lý và soạn lập ngân sách theo kết quả). Các kỹ năng quản lý ở khu vực tư cũng được quan tâm: nhận diện và quản lý rủi ro trong các dự án đầu tư; ứng dụng kỹ thuật công nghệ và sự LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 cạnh tranh; lợi ích mang lại từ hoạt động có tính hiệu suất và hiệu quả khi từng bước có sự tham gia khu vực tư trong cung ứng dịch vụ công thông qua các dạng hợp đồng dịch vụ, hợp đồng quản lý, hợp đồng hợp tác công tư trong đầu tư (PPP). Do đó theo lý thuyết NPM và xu hướng quản lý ngân sách theo kết quả này, quan hệ hợp tác công-tư là cần thiết để cho phép các ngành thuộc khu vực công có thể thích ứng với thị trường và trở nên cạnh tranh hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ