Tổng quan luận án

Công trình khoa học mang tên "Nghiên cứu thực trạng rối loạn tâm thần và một số yếu tố liên quan ở người mắc COVID-19" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoa (khóa 40), chuyên ngành Tâm thần (mã số: 9720107) tại Trường Đại học Y Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Tuấn và GS. Tạ Thị Minh Tâm, bảo vệ năm 2026.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Đại dịch COVID-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra từ cuối năm 2019 đã tạo ra cuộc khủng hoảng y tế toàn cầu. Ngoài các biến chứng thể chất cấp tính, các biện pháp giãn cách xã hội kéo dài, tâm lý bất an, cùng đặc tính hướng thần kinh của virus SARS-CoV-2 đã làm gia tăng đáng kể các biến chứng tâm thần và thần kinh ở người bệnh. Sự xuất hiện của các rối loạn tâm thần không chỉ làm suy giảm chất lượng cuộc sống cá nhân mà còn gia tăng gánh nặng bệnh tật cho toàn xã hội. Mặc dù trên thế giới đã có nhiều công bố về sức khỏe tâm thần sau mắc COVID-19, đa số các công trình quốc tế chủ yếu sử dụng bộ câu hỏi tự điền, khảo sát trên bệnh nhân nội trú nặng, hoặc thiếu sự đánh giá và chẩn đoán xác định từ bác sĩ chuyên khoa tâm thần. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã triển khai trong bối cảnh chung của đại dịch, song mảng nghiên cứu chuyên sâu về các rối loạn tâm thần trên nhóm người bệnh đã và đang mắc COVID-19 vẫn còn là một khoảng trống thực sự cần giải quyết.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định hai mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng rối loạn tâm thần ở người mắc COVID-19 tại một số tỉnh ở Việt Nam.
  2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần ở người mắc COVID-19.

Giả thuyết nghiên cứu

  • Giả thuyết chính: Tình trạng nhiễm COVID-19 có liên quan đến tình trạng rối loạn tâm thần ở người bệnh sau mắc COVID-19.
  • Giả thuyết phụ: Lo lắng nhiều về đại dịch COVID-19 và tình trạng bị kỳ thị khi mắc COVID-19 có ảnh hưởng đến nguy cơ xuất hiện các rối loạn tâm thần.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nhóm người bệnh mắc COVID-19 đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn lựa chọn và không nằm trong tiêu chuẩn loại trừ của đề tài.
  • Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu được triển khai tại cộng đồng và các cơ sở y tế tuyến cơ sở thuộc một số địa phương, bao gồm: Trạm y tế Xã Tam Hưng, Phường Hà Cầu, Xã Yên Mỹ (sau sáp nhập/chuyển thành Xã Hương Lạc), Phường Hoàng Văn Thụ, Xã Bảo Hà, Phường Kim Tân, cùng sự hỗ trợ chuyên môn của Viện Sức khỏe Tâm thần - Trường Đại học Y Hà Nội.
  • Thời gian hoàn thành: Luận án hoàn thành và đệ trình năm 2026.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu lớn trên thế giới và tại Việt Nam về hậu quả tâm thần do SARS-CoV-2 gây ra, phân tích từ cơ sở dịch tễ học đến bệnh sinh học phân tử:

  • Các hướng nghiên cứu dịch tễ học và lâm sàng quốc tế:

    • Rối loạn lo âu và trầm cảm: Tác giả dẫn chứng phân tích tổng hợp của Jiawen Deng và cộng sự trên 25 nghiên cứu ($n = 3.315$), ghi nhận tỷ lệ lo âu gộp ở bệnh nhân COVID-19 là 47% (95% CI: 37–57%). Tỷ lệ này thay đổi đáng kể tùy theo công cụ: nhóm dùng thang SAS $\ge 50$ ghi nhận tỷ lệ 54%, nhóm dùng GAD-7 $\ge 5$ là 47%, HADS-A $\ge 8$ là 34%, và SCL-90 phân thang lo âu $\ge 2$ là 18%. Về trầm cảm, Perlis và cộng sự (2021) trên mẫu 3.904 người bệnh chỉ ra gần 50% người tham gia có triệu chứng trầm cảm từ trung bình đến nặng sau giai đoạn cấp; một nghiên cứu theo dõi dọc khác ghi nhận 47% và 41% người mắc hội chứng COVID kéo dài có triệu chứng trầm cảm tại mốc 3 tháng và 6 tháng. Nghiên cứu của Taquet và cộng sự ghi nhận 12,8% bệnh nhân có rối loạn lo âu mới khởi phát hoặc tái phát khi áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán ICD-10.
    • Suy giảm nhận thức: Các y văn quốc tế ghi nhận tỷ lệ dao động từ 17,5% đến 68,5%. Nghiên cứu của Largent và cộng sự chỉ ra 42% người bệnh tự báo cáo gặp khó khăn nhận thức, trong khi nghiên cứu của Méndez và cộng sự báo cáo 40% người tham gia gặp trở ngại về trí nhớ lời nói và 30% gặp suy giảm chức năng điều hành bậc cao. Nghiên cứu của Birberg và cộng sự cho thấy 37% bệnh nhân từng nhập viện vì COVID-19 có điểm số dưới ngưỡng suy giảm nhận thức.
    • Rối loạn giấc ngủ: Các tổng quan hệ thống ghi nhận tỷ lệ rối loạn giấc ngủ (coronasomnia) ở bệnh nhân COVID-19 dao động từ 57% đến 74,8%. Chhajer và Shukla (2022) chứng minh chất lượng giấc ngủ suy giảm nghiêm trọng hơn ở nhóm bệnh nhân diễn biến nặng phải điều trị tại đơn nguyên chăm sóc tích cực (ICU).
    • Rối loạn stress sau sang chấn (PTSD): Tỷ lệ dao động từ 20% đến 30%. Các nghiên cứu đơn lẻ tại Trung Quốc ghi nhận 96,2% triệu chứng stress sau sang chấn (PTSS), tại Anh ghi nhận 31%, tại Hàn Quốc ghi nhận 20,3% và tại Ý ghi nhận 22,2% bệnh nhân đáp ứng tiêu chuẩn PTSD sau xuất viện.
    • Rối loạn chức năng tình dục và sử dụng chất: Harirugsakul và cộng sự (2022) báo cáo tỷ lệ rối loạn cương dương ở nam giới tại thời điểm ra viện và sau 3 tháng lần lượt là 64,7% và 50,3%; Zhang và cộng sự (2022) phân tích gộp trên 250.606 bệnh nhân ghi nhận tỷ lệ rối loạn cương dương là 33% (RR = 2,64). Đối với nữ giới, Gencer và cộng sự (2022) ghi nhận tỷ lệ rối loạn tình dục nữ theo thang FSFI là 63,8% (so với nhóm chứng 36,2%), và Shehata (2023) ghi nhận tỷ lệ này là 58% sau 6 tháng. Về sử dụng chất, báo cáo của CDC Hoa Kỳ ghi nhận 1/10 người bắt đầu hoặc tăng sử dụng chất do đại dịch.
    • Chiến lược ứng phó: Kan và cộng sự (2022), nghiên cứu tại Brazil, Le Vigouroux và cộng sự (2025), và Schurr và cộng sự (2024) đều khẳng định chiến lược ứng phó né tránh, tự trách có mối liên hệ mật thiết với mức độ trầm cảm, lo âu và stress.
  • Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Tác giả chỉ rõ các nghiên cứu tổng quan trước đây tồn tại nhiều nhược điểm: đưa vào các bài in sẵn chưa bình duyệt, cỡ mẫu nhỏ, chủ yếu tập trung vào bệnh nhân nhập viện điều trị triệu chứng nặng nên khó khái quát hóa cho nhóm mắc bệnh nhẹ hoặc không triệu chứng tại cộng đồng. Đặc biệt, hầu hết nghiên cứu trước đây chỉ dùng công cụ tự báo cáo có độ đặc hiệu không cao và thiếu thăm khám lâm sàng. Luận án của Nguyễn Thị Hoa tập trung giải quyết khoảng trống này bằng cách khảo sát mẫu bệnh nhân COVID-19 tại Việt Nam thông qua quy trình đánh giá kết hợp sàng lọc cộng đồng và chẩn đoán chuyên sâu từ bác sĩ chuyên khoa tâm thần.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở bệnh sinh

Nghiên cứu xây dựng khung phân tích dựa trên sự tương tác giữa yếu tố sinh học thần kinh và yếu tố tâm lý - xã hội:

  • Cơ chế sinh học thần kinh: Virus SARS-CoV-2 có kích thước 60–140 nm, hệ gen ARN sợi đơn dương 29.891 bp, sử dụng protein gai (Spike - S) gồm miền S1 gắn vào thụ thể enzym chuyển Angiotensin 2 (ACE2) và miền S2 mồi bởi protease xuyên màng TMPRSS2 để hòa màng xâm nhập tế bào. Sự xâm lấn hệ thần kinh trung ương diễn ra qua: (1) lây truyền ngược dòng qua synap và sợi trục thần kinh; (2) xâm nhập qua niêm mạc mũi - hành khứu giác; (3) cơ chế "ngựa thành Troy" qua tế bào lympho T vượt hàng rào máu não (BBB); và (4) phá hủy tế bào nội mô mạch máu não. Sự xâm nhập làm giảm biểu hiện ACE2, giải phóng các mẫu phân tử liên quan mầm bệnh (PAMP) và tổn thương tiền viêm (DAMP), kích hoạt đại thực bào, microglia và tế bào hình sao, gây ra cơn bão cytokine với sự tăng vọt của IL-6, IL-1$\beta$, TNF-$\alpha$, NF-$\kappa$B, gây viêm thần kinh kéo dài, tổn thương vi mạch, tăng đông và thoái hóa synap.
  • Cơ chế tâm lý - xã hội: Căng thẳng từ việc cách ly, cô lập, sợ hãi lây nhiễm cho người thân, áp lực kinh tế, kỳ thị xã hội và nhận thức về mối đe dọa dịch bệnh.
  • Mô hình khung lý thuyết: Luận án giả định bối cảnh và tình trạng nhiễm COVID-19 tác động trực tiếp đến kết cục rối loạn tâm thần; trong đó các yếu tố nhân khẩu học, tiền sử bệnh lý và yếu tố tâm lý - xã hội - nhân cách được đưa vào mô hình hồi quy đa biến nhằm kiểm soát vai trò gây nhiễu.

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang kết hợp phân tích đa biến, mô hình phương trình cấu trúc (SEM).
  • Quy trình nghiên cứu 2 giai đoạn:
    • Giai đoạn 1: Sàng lọc diện rộng tại cộng đồng ở các trạm y tế địa phương nhằm phát hiện các trường hợp nghi ngờ có rối loạn tâm thần thông qua các thang đo sàng lọc chuẩn hóa.
    • Giai đoạn 2: Đánh giá chuyên sâu, thăm khám trực tiếp và chẩn đoán xác định bởi nghiên cứu sinh và các bác sĩ lâm sàng tâm thần dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế (ICD-10, DSM).

Công cụ và chỉ tiêu nghiên cứu

Luận án áp dụng hệ thống trắc nghiệm tâm lý và thang đánh giá lâm sàng toàn diện được liệt kê trong danh mục công cụ nghiên cứu:

Lĩnh vực đánh giá Bộ công cụ và thang đo sử dụng
Sàng lọc và chẩn đoán chuyên sâu rối loạn tâm thần - Trầm cảm: Thang đánh giá trầm cảm Hamilton (HAM-D), Bảng câu hỏi sức khỏe bệnh nhân (PHQ-9)
- Lo âu: Thang đánh giá lo âu Hamilton (HAM-A), Thang rối loạn lo âu lan tỏa (GAD-7)
- Nhận thức: Mini-Mental State Examination (MMSE), Montreal Cognitive Assessment (MoCA), Test Your Memory (TYM), Trail Making Test A & B (TMT A & B), Digital Span Test
- Giấc ngủ: Chỉ số chất lượng giấc ngủ Pittsburgh (PSQI)
- Stress sau sang chấn: Phỏng vấn triệu chứng stress sau sang chấn (PSSI-5), tiêu chuẩn PTSD
- Rối loạn ăn uống: Thang chẩn đoán rối loạn ăn uống (EDDS)
- Chức năng tình dục: Chỉ số chức năng cương dương quốc tế (IIEF), Chỉ số chức năng tình dục nữ (FSFI)
- Sử dụng rượu: Trắc nghiệm xác định rối loạn sử dụng rượu (AUDIT)
Yếu tố tâm lý, xã hội và nhân cách - Nhân cách Big Five (Big Five Inventory)
- Lo âu cá nhân: State-Trait Anxiety Inventory - Trait (STAI-T)
- Khả năng ứng phó: Thang đo ứng phó (Coping Scale)
- Khả năng phục hồi sau stress: Brief Resilience Scale (BRS)
- Nhận thức hỗ trợ xã hội: Multidimensional Scale of Perceived Social Support (MSPSS)
- Ảnh hưởng của đại dịch: Effects of COVID-19 Questionnaire (ECQ)
- Ảnh hưởng cảm xúc đại dịch: Pandemic Emotional Impact Scale (PEIS)
- Thước đo kỳ thị: Stigma Scale for Chronic Illness - 8 mục (SSCI-8)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương này tổng thuật 10 nội dung lớn:

  1. Tổng quan về COVID-19: định nghĩa, lịch sử phát hiện SARS-CoV-2 từ Vũ Hán, đặc điểm vi sinh học, 4 phân nhóm coronavirus ($\alpha, \beta, \gamma, \delta$), tỷ lệ tương đồng 79,5% với SARS-CoV-1 và 93,1% với coronavirus RaTG13 trên dơi, vai trò trung gian của tê tê, cấu trúc protein gai S (miền S1, S2), thụ thể ACE2, enzym TMPRSS2, hiện tượng tăng cường phụ thuộc kháng thể (ADE).
  2. Các yếu tố tâm lý xã hội: sợ hãi, lo lắng, cảm giác không chắc chắn, cảm giác thiếu an toàn, sự cô đơn, lệnh phong tỏa xã hội và các biện pháp cách ly.
  3. Gánh nặng bệnh tật của COVID-19: quá tải hồi sức tích cực (ví dụ 724 giường ICU tại vùng Lombardy, Ý), sự gián đoạn 73%–85% các chương trình phòng chống HIV, lao, sốt rét theo Khảo sát của Quỹ Toàn cầu tại 106 quốc gia và gián đoạn điều trị bệnh không lây nhiễm ở 155 quốc gia.
  4. Rối loạn tâm thần ở người mắc COVID-19: định nghĩa theo ICD-10 và định nghĩa hội chứng hậu COVID-19 (PCS) của WHO (kéo dài ít nhất 2 tháng trong vòng 3 tháng sau nhiễm).
  5. Cơ chế bệnh sinh: phân tích chi tiết cơ chế tổn thương não sinh học (đặc tính hướng thần kinh, xâm nhập qua khe synap, dây thần kinh khứu giác, vận chuyển sợi trục, cơ chế "ngựa thành Troy", phản ứng viêm bão cytokine với các interleukin IL-6, IL-1$\beta$, TNF-$\alpha$, tổn thương nội mô mạch máu não, đông máu ngoại sinh do yếu tố mô, rung nhĩ, tổn thương ty thể thần kinh đệm).
  6. Đặc điểm lâm sàng các rối loạn tâm thần: phân tích các bằng chứng về suy giảm nhận thức, lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, PTSD, rối loạn sử dụng chất, và rối loạn chức năng tình dục.
  7. Các yếu tố liên quan: tuổi tác, giới tính nữ, tiền sử bệnh nền (đặc biệt là tăng huyết áp), tiền sử bệnh lý tâm thần, mức độ nặng của nhiễm trùng (thở máy, nằm viện ICU), nồng độ CRP, sự kỳ thị, đặc điểm tính cách (tính bất ổn cảm xúc - Neuroticism), đặc điểm ứng phó và sự hỗ trợ xã hội.
  8. Khung lý thuyết xác định các yếu tố liên quan.
  9. Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam.
  10. Những vấn đề luận án cần tập trung giải quyết.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết về phương pháp luận và các bước tiến hành:

  • Tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ người bệnh tham gia nghiên cứu.
  • Địa bàn lấy mẫu tại các trạm y tế cấp xã/phường (Tam Hưng, Hà Cầu, Yên Mỹ/Hương Lạc, Hoàng Văn Thụ, Bảo Hà, Kim Tân) và Viện Sức khỏe Tâm thần.
  • Thiết kế nghiên cứu dịch tễ học hai giai đoạn nhằm sàng lọc diện rộng ngoài cộng đồng và đưa về đánh giá chuyên sâu lâm sàng.
  • Hệ thống biến số và chỉ tiêu nghiên cứu: nhóm nhân khẩu học, nhóm đặc điểm nhiễm COVID-19 (mức độ bệnh, triệu chứng cấp, điều trị), nhóm tâm lý - xã hội (thang đo ECQ, PEIS, SSCI-8, MSPSS, BRS, Coping Scale, STAI, Big Five), và nhóm biến số lâm sàng tâm thần (HAM-D, HAM-A, PSQI, MMSE, MoCA, TMT, Digit Span, PSSI-5, EDDS, IIEF, FSFI, AUDIT).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: phân tích đơn biến và mô hình hồi quy đa biến nhằm kiểm soát các biến số gây nhiễu, phân tích mô hình cân bằng cấu trúc (SEM).
  • Kiểm soát sai số nghiên cứu và đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Cấu trúc kết quả được thiết kế qua hệ thống bảng và biểu đồ số liệu:

  • Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Phân bố nhân khẩu học, tiền sử bệnh lý nội khoa và tâm thần; đặc điểm lâm sàng khi mắc COVID-19 (tỷ lệ các triệu chứng cơ thể theo Biểu đồ 3.1); điểm số các thang đo tâm lý gồm lo âu cá nhân (STAI), khả năng ứng phó (Coping Scale), phục hồi sau căng thẳng (BRS), hỗ trợ xã hội (MSPSS) và 5 nét nhân cách lớn (Big Five).
  • Thực trạng các rối loạn tâm thần:
    • Tỷ lệ hiện mắc chung các rối loạn tâm thần ở người bệnh COVID-19 (Bảng 3.13).
    • Tỷ lệ và đặc điểm chi tiết của từng dạng rối loạn: sa sút trí tuệ và suy giảm nhận thức (qua khám lâm sàng, TMT A & B, Digital Span Test); rối loạn lo âu; trầm cảm (phân tích theo 3 nhóm triệu chứng: cảm xúc - khí sắc, cơ thể, nhận thức - cảm giác - suy diễn); chất lượng giấc ngủ (thang PSQI); rối loạn stress sau sang chấn (thang PSSI-5); rối loạn ăn uống (thang EDDS); rối loạn chức năng tình dục (rối loạn cương dương theo thang IIEF và rối loạn tình dục nữ theo thang FSFI); rối loạn sử dụng rượu (thang AUDIT).
  • Phân tích các yếu tố liên quan:
    • Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học, tiền sử bệnh tật với từng rối loạn tâm thần qua phân tích đơn biến và mô hình hồi quy đa biến (Bảng 3.27 đến 3.32).
    • Mối liên quan giữa tình trạng nhiễm COVID-19, bối cảnh mắc bệnh (thang ECQ, PEIS, SSCI-8) với các rối loạn tâm thần qua phân tích đơn biến và đa biến (Bảng 3.33 đến 3.38).
    • Mối liên quan giữa đặc điểm tâm lý xã hội - nhân cách với các rối loạn tâm thần qua phân tích đơn biến và đa biến (Bảng 3.39 đến 3.44).
    • Mô hình hồi quy đa biến tổng hợp xác định các yếu tố dự báo độc lập đối với suy giảm nhận thức, rối loạn lo âu, rối loạn giấc ngủ và trầm cảm (Biểu đồ 3.8 và Bảng mục 3.3.4).

Chương 4: Bàn luận

Chương bàn luận phân tích và đối chiếu sâu sắc các phát hiện với y văn:

  • Luận giải cơ chế làm gia tăng tỷ lệ mắc các rối loạn tâm thần ở người nhiễm SARS-CoV-2 dựa trên sự kết hợp giữa các tổn thương sinh học (viêm mạch máu não, cơn bão cytokine qua trung gian IL-6, thâm nhập tế bào thần kinh đệm) và các sang chấn tâm lý xã hội.
  • So sánh tỷ lệ suy giảm nhận thức, lo âu, trầm cảm, rối loạn giấc ngủ, stress sau sang chấn, rối loạn ăn uống, chức năng tình dục và sử dụng rượu với các nghiên cứu trong nước và quốc tế.
  • Bàn luận về vai trò của các biến số độc lập: độ tuổi, giới tính, tiền sử bệnh nền (như tăng huyết áp), mức độ nặng trong giai đoạn cấp (phải thở oxy hoặc nhập viện ICU), sự kỳ thị của xã hội (SSCI-8), đặc điểm nhân cách bất ổn cảm xúc và khả năng ứng phó không thích nghi.
  • Phân tích các hạn chế của nghiên cứu (như thiết kế nghiên cứu, nguy cơ sai số hồi tưởng khi thu thập dữ liệu dịch tễ).
  • Nêu bật các đóng góp chính của đề tài cho chuyên ngành Tâm thần học thực hành.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Về mặt phương pháp luận và lý luận: Luận án đã xây dựng và kiểm chứng một khung lý thuyết toàn diện kết hợp giữa các yếu tố sinh học thần kinh và tâm lý - xã hội - nhân cách trong việc giải thích cơ chế hình thành các rối loạn tâm thần hậu COVID-19. Công trình giải quyết triệt để hạn chế của các nghiên cứu quốc tế trước đây bằng cách triển khai quy trình nghiên cứu hai giai đoạn chặt chẽ: sàng lọc cộng đồng bằng các thang đo chuẩn hóa quốc tế và tiếp nối bằng đánh giá chuyên sâu, chẩn đoán xác định trực tiếp bởi bác sĩ chuyên khoa tâm thần.
  • Về mặt thực tiễn và dữ liệu dịch tễ: Luận án cung cấp bức tranh dịch tễ học lâm sàng chi tiết và có hệ thống về phổ rối loạn tâm thần ở người mắc COVID-19 tại Việt Nam, bao gồm không chỉ lo âu, trầm cảm hay mất ngủ mà còn mở rộng sang các lĩnh vực ít được chú ý như suy giảm nhận thức/sa sút trí tuệ (đo lường bằng TMT, Digital Span), rối loạn ăn uống, rối loạn chức năng tình dục ở cả hai giới và rối loạn sử dụng rượu.
  • Đóng góp vào mô hình dự báo và can thiệp: Luận án xác định được các yếu tố nguy cơ độc lập thông qua mô hình hồi quy đa biến (như tiền sử bệnh nền, mức độ nặng của đợt nhiễm cấp, nồng độ các chất chỉ điểm viêm, tính bất ổn cảm xúc, mức độ kỳ thị và chiến lược ứng phó không thích nghi), từ đó cung cấp căn cứ khoa học cho các cơ sở y tế xây dựng quy trình sàng lọc sớm và phân tầng nguy cơ can thiệp sức khỏe tâm thần sau các đại dịch truyền nhiễm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Căn cứ theo nội dung chương tổng quan và bàn luận, nghiên cứu gặp phải một số giới hạn phương pháp luận đặc thù: việc thu thập hồi cứu một số đặc điểm trong giai đoạn cấp của bệnh nhân có thể tiềm ẩn sai số nhớ lại (recall bias); việc đánh giá tại một số thời điểm sau nhiễm có thể chịu ảnh hưởng bởi sự biến thiên của các biến thể virus khác nhau; cỡ mẫu tại các địa bàn nghiên cứu cụ thể ở tuyến xã/phường có thể chưa phản ánh hết sự đa dạng của các vùng địa lý khác trên toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc dài hạn (longitudinal cohort studies) nhằm đánh giá tiến trình tự nhiên và sự phục hồi của các rối loạn nhận thức, trầm cảm, rối loạn chức năng tình dục sau nhiều năm; đồng thời triển khai các thử nghiệm can thiệp tâm lý lâm sàng có đối chứng dựa trên các yếu tố nguy cơ và chiến lược ứng phó đã được luận án xác định.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Tâm thần, Y học hành vi: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận thiết kế nghiên cứu sức khỏe tâm thần tại cộng đồng, quy trình phối hợp công cụ sàng lọc với thăm khám lâm sàng chuẩn mực, và phương pháp ứng dụng các bộ công cụ trắc nghiệm tâm lý phức hợp (nhận thức, nhân cách, chất lượng sống, chức năng tình dục).
  • Đối với bác sĩ lâm sàng và nhân viên y tế tuyến cơ sở: Cung cấp hướng dẫn nhận diện các triệu chứng cơ thể và tâm lý thường bị bỏ sót ở bệnh nhân hậu COVID-19 (như hiện tượng sương mù não, rối loạn cương dương, rối loạn giấc ngủ), giúp phân biệt giữa phản ứng tâm lý thông thường và các bệnh lý tâm thần cần chuyển tuyến chuyên khoa điều trị.
  • Đối với các nhà quản lý y tế và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược phòng ngừa, hỗ trợ tâm lý xã hội, giảm thiểu kỳ thị và chuẩn bị nguồn lực chăm sóc sức khỏe tâm thần sẵn sàng ứng phó với các đại dịch bệnh truyền nhiễm mới nổi trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng định nghĩa nào về Hội chứng hậu COVID-19 (PCS)?
Luận án áp dụng định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ban hành cuối năm 2021: Hội chứng hậu COVID-19 là các triệu chứng xảy ra ở những người trong vòng 3 tháng kể từ khi có tiền sử nhiễm SARS-CoV-2 có thể hoặc đã được xác nhận, với thời gian tồn tại ít nhất 2 tháng và không thể giải thích bằng một chẩn đoán thay thế khác.

2. Virus SARS-CoV-2 xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương và gây tổn thương tâm thần qua những cơ chế nào?
Theo tổng quan của luận án, virus xâm nhập tế bào qua thụ thể ACE2 và men protease TMPRSS2. Các con đường xâm nhập não bộ bao gồm: truyền qua synap và vận chuyển ngược sợi trục, xâm nhập qua niêm mạc mũi và hành khứu giác, di chuyển qua tế bào lympho T ("ngựa thành Troy") xuyên qua hàng rào máu não, và lây nhiễm tế bào nội mô mạch máu não. Tổn thương tâm thần là hậu quả của phản ứng viêm toàn thân, bão cytokine (đặc biệt là IL-6, IL-1$\beta$, TNF-$\alpha$, NF-$\kappa$B), tổn thương vi mạch tạo cục huyết khối tiểu cầu-fibrin, thiếu oxy não và phản ứng tăng sinh tế bào thần kinh đệm làm chết tế bào thần kinh.

3. Quy trình nghiên cứu thực địa của tác giả được tổ chức như thế nào?
Nghiên cứu được thiết kế theo quy trình 2 giai đoạn: Giai đoạn 1 tiến hành sàng lọc tại cộng đồng ở các trạm y tế địa phương nhằm phát hiện các trường hợp có nguy cơ rối loạn tâm thần; Giai đoạn 2 tổ chức đánh giá chuyên sâu bằng các trắc nghiệm tâm lý chuyên biệt và thăm khám trực tiếp để đưa ra chẩn đoán lâm sàng xác định theo chuẩn quốc tế.

4. Những công cụ nào được sử dụng để khảo sát các yếu tố tâm lý - xã hội và nhân cách của đối tượng nghiên cứu?
Nghiên cứu sử dụng hệ thống trắc nghiệm chuẩn hóa gồm: thang nhân cách Big Five, thang đánh giá đặc điểm lo âu STAI-T, thang khả năng ứng phó Coping Scale, thang đo độ phục hồi sau stress BRS, thang đo nhận thức về sự hỗ trợ xã hội MSPSS, cùng các bộ câu hỏi đặc thù về tác động của đại dịch như ECQ, PEIS và thang đánh giá sự kỳ thị SSCI-8.

5. Điểm khác biệt lớn nhất về phương pháp luận giữa luận án này và phần lớn các nghiên cứu quốc tế trước đó là gì?
Đa số các nghiên cứu quốc tế trước đây chỉ dựa vào bảng câu hỏi tự báo cáo (self-report questionnaires) trên các đối tượng nhập viện điều trị triệu chứng nặng mà thiếu chẩn đoán lâm sàng xác định từ bác sĩ tâm thần. Luận án của Nguyễn Thị Hoa kết hợp điều tra cộng đồng với quy trình thăm khám, chẩn đoán xác định trực tiếp bởi bác sĩ chuyên khoa tâm thần, đồng thời kiểm soát đồng thời các yếu tố nhiễu về sinh học, nhân khẩu học và nhân cách qua mô hình hồi quy đa biến.

Kết luận

Luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Hoa là công trình nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng và các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần ở người mắc COVID-19 tại Việt Nam. Bằng phương pháp tiếp cận hai giai đoạn kết hợp sàng lọc cộng đồng và chẩn đoán lâm sàng chuyên khoa, luận án đã làm rõ phổ biểu hiện đa dạng của các rối loạn tâm thần từ suy giảm nhận thức, cảm xúc đến các rối loạn chức năng thể chất và hành vi. Kết quả phân tích đa biến của đề tài đã xác lập mối tương quan giữa tình trạng bệnh, bối cảnh đại dịch và các yếu tố nhân cách, tâm lý xã hội với nguy cơ xuất hiện rối loạn tâm thần. Công trình đóng góp cơ sở dữ liệu dịch tễ học thực chứng quan trọng, phục vụ thiết thực cho công tác chẩn đoán, điều trị và hoạch định chính sách can thiệp sức khỏe tâm thần sau đại dịch.