Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và một số đề xuất 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu về rối loạn lo âu 1. Những nghiên cứu về rối loạn lo âu của sinh viên trên thế giới Trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về rối loạn lo âu nói chung và một số nghiên cứu về RLLA ở sinh viên khối ngành y nói riêng. Các kết quả của các nghiên cứu cũng hết sức đa dạng, phụ thuộc vào nhóm khách thể nghiên cứu và thang đo.
Tuy nhiên, tựu chung lại, các nghiên cứu đó đều tập trung vào các hướng: nghiên cứu chỉ ra tỉ lệ rối loạn lo âu, nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn lo âu, nghiên cứu về các mặt biểu hiện của rối loạn lo âu, nghiên cứu về thái độ của con người đối với rối loạn lo âu, nghiên cứu về các phương thức phòng ngừa và ứng phó với RLLA… - Các nghiên cứu về tỉ lệ RLLA: Theo thống kê của nhiều nước trong nhiều thập kỷ qua, tỉ lệ RLLA trẻ em là 5,7 đến 17,7%. Theo nghiên cứu của Kashani và O.Verchell (1997) tỉ lệ RLLA trẻ em và thanh thiếu niên Mỹ là khoảng 9%. Còn tại Hoa Kỳ hiện nay, mỗi năm có hàng triệu dân mắc bệnh này" [15, 490]. Theo Viện Sức khỏe tâm thần Quốc gia Hoa Kỳ, RLLA là rối loạn thường gặp nhất, hàng năm có 19 triệu người Mỹ mắc các rối loạn lo âu.
Shelton cũng khẳng định các RLLA là dạng thường gặp nhất trong các bệnh lý tâm thần, có thể ảnh hưởng đến 15% dân số ở bất kỳ thời điểm nào. Rối loạn lo âu ám sợ có tỷ lệ là 8 - 10%, RLLA lan tỏa chiếm 5%, rối loạn hoảng sợ chiếm 1 - 3% trong dân số [57]. Trong nghiên cứu thống kê dịch tễ học của tác giả Anderson (1994) cho rằng RLLA là một trong những dạng thường gặp nhất trong các bệnh về tâm thần ở trẻ em với tỉ lệ mắc bệnh là 2,5% - 9,0% trong dân số chung, trong khi đó tỉ lệ ở trẻ em chiếm từ 20% - 30% [62, tr. Tác giả Bayram, Bilgel.N mô tả cắt ngang trên 1.617 sinh viên, trầm cảm, lo âu và stress mức độ nặng vừa phải hoặc cao hơn là 27%, 47% và 27% % trên 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tổng số khách thể nghiên cứu.
Sinh viên năm thứ hai tỉ lệ trầm cảm, lo âu và stress cao hơn năm khác. Tỉ lệ trầm cảm, lo âu và stress cao giữa các sinh viên là đáng báo động [40].G thì trầm cảm, lo âu và stress ở sinh viên năm thứ nhất trong hệ thống giáo dục Đại học ở Hồng Kông là cao. Thiết kế trên web (khuyết danh) về trầm cảm, lo âu và stress đã được đo bằng thang DASS 42 với 7915 sinh viên tham gia, kết quả cho thấy tỉ lệ rối loạn lo âu và stress mức độ nặng là 27,5% và 41 % trên tổng số sinh viên tham gia [60]. Kết quả nghiên cứu của Niemi chỉ ra lo lắng, căng thẳng và khó chịu rất phổ biến trong suốt 6 năm học ở trường y khoa.
Lo âu, trầm cảm thường gặp ở thời điểm tốt nghiệp hơn so với lúc bắt đầu đi lâm sàng ,theo kết quả nghiên cứu có 36% Sinh viên tham gia nghiên cứu cảm thấy rất căng thẳng vào đầu thời gian đào tạo lâm sàng và 40% sinh viên tham gia nghiên cứu cảm thấy rất căng thẳng vào cuối thời gian đào tạo lâm sàng [53]. - Như vậy, các nghiên cứu đều đã chỉ ra RLLA là dạng thường gặp nhất trong các bệnh lí tâm thần. Sinh viên và đặc biệt là sinh viên Y khoa là đối tượng thường gặp các vấn đề về sức khỏe tinh thần như lo lắng, căng thẳng, trầm cảm, stress… - Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến RLLA Sự quan tâm nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến RLLA trên thế giới và ở Việt Nam cũng không thua kém so với nghiên cứu về tỷ lệ của căn bệnh này. Các nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến RLLA bao gồm: trách nhiệm mới, sự phòng vệ của cá nhân, học tập qua quan sát, niềm tin, nhân cách lo âu tránh né.
Theo nghiên cứu của Warren và Huston (1997) cho rằng mối quan hệ gắn bó mẹ con quá kéo dài sẽ làm tăng trạng thái RLLA của trẻ sau này [15, tr. Nghiên cứu của nhóm tác giả Sibnath Deb, Pooja Chatterjee, Kerryann Walsh (2010), ở thành phố Kolkata, Ấn Độ, với mẫu nghiên cứu 460 thanh thiếu niên (gồm 220 nam và 240 nữ) từ 13 tuổi đến 17 tuổi (lớp 9 đến lớp 12) được 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chọn để tham gia nghiên cứu và sử dụng thang lượng giá STAI (State trait anxiety inventory Spieberger, Gorsuch và Lushene 1970 đã chỉ ra nguyên nhân chính của sự RLLA ở thanh thiếu niên Ấn Độ cao là do kì vọng của cha mẹ và áp lực thành tích học tập, khi so sánh tỉ lệ RLLA giữa học sinh ở trường Bengali 24,6 % cao hơn học sinh trường English chỉ 21,6 %.Nhóm kinh tế - xã hội: so sánh tỉ lệ RLLA cao nhất là nhóm kinh tế - xã hội có mức thu nhập trung bình 30%, tiếp theo mức thu nhập thấp 28,6% cuối cùng là nhóm kinh tế - xã hội có thu nhập cao 23,6% [65]. Theo học thuyết phân tâm, lo âu là một tín hiệu khuấy động bản ngã thực hiện hành động phòng vệ chống lại những áp lực từ bên trong. Một cách lý tưởng, sự dồn nén thành công tạo nên sự cân bằng tâm lý mà không có triệu chứng.
Học thuyết phân tâm học kinh điển mô tả RLLA như là kết quả của những xung đột trong vô thức. Đầu tiên, Freud đã dùng thuật ngữ “Angst” có nghĩa là sự sợ hãi để mô tả những phản ứng nội tâm đơn giản đối với những mối đe dọa bên trong và bê ngoài. Trong thuyết đầu tiên về lo âu, Freud đã cho rằng những xung đột và những ức chế tạo ra sự thất bại trong việc kiểm soát các xung động tình dục. Việc kìm hãm các xung động cùng với việc sợ mất kiểm soát xung động sẽ gây ra lo âu.
Sau đó chính Freud đã sớm nhận ra hạn chế trong học thuyết ban đầu của mình, ông đã gợi ý rằng lo âu là triệu chứng chính, đóng vai trò trung tâm trong các bệnh tâm căn. Ông thừa nhận rằng lo âu là kết quả của sự đe dọa. Theo học thuyết tập nhiễm xã hội thì gia đình là môi trường xây dựng nên các cảm xúc, sự hiểu biết và sự an toàn cho trẻ. Môi trường này có ảnh hưởng sâu sắc đến thế giới quan và khả năng đương đầu với những vấn đề trong cuộc sống của con người.
Thuyết tập nhiễm xã hội của Bandura năm 1969 cho thấy vai trò quan trọng của nhận thức trong việc hình thành lo âu. Lo âu có thể được tập nhiễm từ người chăm sóc hoặc từ những người khác trong gia đình hoặc môi trường sống của đứa trẻ (thông qua bắt chước, lây lan, cách giải thích, lý giải các sự kiện). Như vậy, hành vi của cha mẹ là yếu tố quan trọng hình thành và phát triển lo âu ở trẻ. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo học thuyết nhận thức thì những yếu tố về nhận thức, đặc biệt là cách suy nghĩ, giải thích về các sự kiện căng thẳng đóng vai trò quan trọng trong bệnh nguyên của RLLA.
Theo quan điểm của Beck thì những trạng thái cảm xúc bất thường như trầm cảm, lo âu là khi có một kích thích tác động lên nhận thức thì dẫn đến một đáp ứng. Thông thường khi gặp phải một tình huống gây lo sợ thì nhận thức bị bóp méo sự ước lượng của chúng về những kích thích gây lo âu. Sự ước lượng này chứa đựng những kinh nghiệm, niềm tin sai lệch về chính bản thân mình, về thế giới và tương lai. Khi gặp phải một kích thích tương tự sẽ so sánh nó với những tình huống xảy ra trong quá khứ và cho ra phản ứng.
Vì vậy, RRLA là do những niềm tin sai lệch mà bệnh nhân suy diễn những sự kiện xảy ra thành những sự kiện đe dọa hoặc nguy hiểm quá mức. Những hệ thống niềm tin cơ bản này, hoặc những sơ đồ tạo ra những suy nghĩ tự động để phản ứng lại với những tín hiệu bên ngoài hoặc bên trong từ đó gây ra lo âu. Như vậy RLLA là do xử lý thông tin không đúng. Theo Barlow và cộng sự (1996), một trong những biểu hiện nhận thức rõ ràng nhất của lo âu đó là cảm giác không thể kiểm soát được, nó biểu hiện bằng mọi cảm giác không được giúp đỡ, không nơi nương tựa do mất khả năng tiên đoán, kiểm soát và đạt được những kết quả mong muốn[tr17,33].
Đối với học thuyết nhân cách thì một số RLLA liên quan đến nhân cách lo âu, né tránh. Đó là nhân cách có cách đặc điểm: lo lắng trước đám đông, sợ không được chấp nhận, bi quan lo lắng, bị bối rối, thận trọng trước những trải nghiệm, rụt rè, thiếu tự tin, ít bạn bè, né tránh các tình huống xã hội. Trong nghiên cứu trên nhóm sinh viên của mình, nhóm tác giả Naiemeh Seyedfatemi, Maryam Tafreshi1 và Hamid Hagani đã chỉ ra nhóm sinh viên làm việc với những người họ không biết và thay đổi mối quan hệ trong hoạt động xã hội thì thường xuyên bị stress hơn so với nhóm sinh viên làm việc với những người họ đã quen biết [65]. Qua các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến RLLA cho thấy, có rất nhiều yếu tố ảnh đến RLLA như: Yếu tố môi trường nơi mà cá nhân sống, học tập và làm việc, yếu tố nhận thức đặc biệt là cách suy nghĩ, giải thích về 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các sự kiện căng thẳng đóng vai trò quan trọng trong bệnh nguyên của RLLA.