Luận văn: Rèn luyện Tư duy Logic dạy Sinh học Vi sinh vật THPT Chợ Đồn - Luân Thị Như

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu rèn luyện kỹ năng tư duy logic cho học sinh THPT qua dạy học Sinh học vi sinh vật tại Chợ Đồn, Bắc Kạn.

Trường đại học

Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ Khoa học Giáo dục

2019

72
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

0.4. Giả thuyết khoa học

0.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Những đóng góp của đề tài

0.8. Cấu trúc của đề tài

1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu rèn luyện KNTD logic cho học sinh

1.1.1. Trên thế giới

1.2. Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.3. Các thao tác tư duy logic cần rèn luyện cho HS nói chung và dạy phần Vi sinh vật SH 10 nói riêng

1.4. Vai trò của việc rèn luyện thao tác tư duy logic cho HS trong dạy học sinh học nói chung và dạy học phần Vi sinh vật SH 10 THPT nói riêng

1.5. Rèn luyện thao tác tư duy logic cho HS thông qua những phương pháp tích cực

1.6. Công cụ để rèn luyện KNTD cho HS

1.7. Cơ sở thực tiễn

1.7.1. Thực trạng rèn luyện KNTD logic cho HS trong dạy học ở trường THPT Chợ Đồn

1.7.2. Thực trạng rèn luyện các thao tác tư duy logic cho HS trong dạy học phần vi sinh vật (SH 10-THPT)

1.7.3. Thực trạng HS tham gia rèn luyện thao tác tư duy logic trong học phần vi sinh vật (SH 10 -THPT)

1.8. Kết luận chương 1

2. RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC VI SINH VẬT Ở TRƯỜNG THPT CHỢ ĐỒN - BẮC KẠN

2.1. Cấu trúc nội dung phần vi sinh vật (SH 10 - THPT)

2.2. Các thao tác tư duy logic cần rèn luyện cho HS trong dạy học phần Vi sinh vật (SH 10 - THPT)

2.3. Quy trình rèn luyện KNTD logic

2.4. Một số câu hỏi, bài tập rèn luyện KNTD logic cho HS trong dạy học phần vi sinh vật (SH 10 - THPT)

2.5. Một số giáo án

2.6. Kết luận chương 2

3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Nội dung thực nghiệm

3.3. Phương pháp thực nghiệm

3.4. Kết quả và biện luận

3.4.1. Kết quả thực nghiệm về mặt định lượng

3.4.2. Kết quả thực nghiệm về mặt định tính

3.5. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tại sao rèn luyện tư duy logic trong dạy Sinh học Vi sinh vật THPT là CỰC KỲ CẦN THIẾT

Việc rèn luyện tư duy logic trong dạy Sinh học Vi sinh vật THPT đang trở thành một yêu cầu cấp bách, đáp ứng xu thế giáo dục hiện đại. Nền giáo dục Việt Nam hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện, trang bị cho học sinh không chỉ kiến thức mà còn cả phát triển năng lực học sinh THPT, đặc biệt là khả năng tư duy. Nghị quyết số 29-NQ/TW của Trung ương 8 khóa XI (2013) đã nhấn mạnh sự cần thiết của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Mục tiêu đề ra là hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát triển trí tuệ và bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh. Luật Giáo dục (2005) cũng chỉ rõ phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng năng lực tự học và khả năng thực hành [Luân Thị Như, 2019, tr. 1].

Trong bối cảnh tri thức nhân loại phát triển mạnh mẽ, người học cần có khả năng tự điều chỉnh, linh hoạt giải quyết vấn đề Sinh học THPT và các tình huống phát sinh. Rèn luyện kỹ năng tư duy logic không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức hiệu quả mà còn trang bị công cụ để họ khám phá và thích nghi với thế giới xung quanh. Môn Sinh học, đặc biệt là phần Sinh học Vi sinh vật THPT, là một khoa học thực nghiệm, đòi hỏi sự quan sát, phân tích và lập luận logic trong khoa học. Việc tinh giản nội dung mô tả để tập trung vào các hoạt động tìm tòi, thực hành giúp học sinh rèn luyện kỹ năng tư duy logic là điều cần thiết. Các kiến thức Sinh học Vi sinh vật cơ bản thường mang tính trừu tượng, yêu cầu học sinh phải biết xử lý thông tin, phân tích, so sánh, tổng hợp và khái quát hóa để nắm bắt bản chất các nguyên lý, quy trình công nghệ ứng dụng sinh học hiện đại [Luân Thị Như, 2019, tr. 2, 24]. Điều này khẳng định tầm quan trọng của việc tích hợp tư duy logic vào quá trình giảng dạy.

Sự phức tạp của thế giới vi sinh vật, từ đặc điểm vi sinh vật đến phân loại vi khuẩn, vòng đời virus và các bệnh truyền nhiễm do vi sinh vật, đòi hỏi học sinh phải có khả năng suy luận sắc bén. Việc hiểu rõ hệ miễn dịch và vi sinh vật, ứng dụng vi sinh vật trong đời sống cũng cần một tư duy hệ thống trong Sinh học. Do đó, việc tập trung rèn luyện tư duy logic trong dạy Sinh học Vi sinh vật THPT không chỉ nâng cao chất lượng học tập bộ môn mà còn đóng góp vào việc hình thành những công dân có khả năng tư duy và giải quyết vấn đề trong tương lai.

1.1. Yêu cầu đổi mới giáo dục Nâng tầm năng lực tư duy logic học sinh cấp 3

Đổi mới giáo dục là trọng tâm của chiến lược phát triển đất nước. Mục tiêu của giáo dục định hướng phát triển năng lực là trang bị cho học sinh khả năng tự chủ, giao tiếp, hợp tác, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Trong đó, việc phát triển năng lực tư duy logic học sinh cấp 3 được xem là một trong những năng lực cốt lõi. Học sinh không chỉ cần ghi nhớ kiến thức mà còn phải biết vận dụng, phân tích, đánh giá thông tin. Điều này đặc biệt đúng với môn Sinh học, nơi các khái niệm và quá trình sinh học đòi hỏi sự suy luận chặt chẽ. Việc rèn luyện tư duy logic giúp học sinh hình thành tư duy phản biện, biết đặt câu hỏi, tìm kiếm bằng chứng và đưa ra kết luận có cơ sở. Đây là yếu tố then chốt giúp học sinh thành công trong học tập và cuộc sống.

1.2. Đặc thù môn Sinh học Vi sinh vật Cần kỹ năng phân tích Sinh học Vi sinh vật

Phần Sinh học Vi sinh vật THPT nghiên cứu các sinh vật siêu nhỏ, không thể quan sát bằng mắt thường. Nội dung này chứa đựng nhiều khái niệm trừu tượng, từ đặc điểm vi sinh vật đến các quá trình sinh hóa phức tạp. Để học sinh hiểu sâu sắc, giáo viên cần trang bị kỹ năng phân tích Sinh học Vi sinh vật. Học sinh phải có khả năng phân loại, so sánh, tổng hợp các thông tin về phân loại vi khuẩn, vòng đời virus, hay cơ chế gây bệnh của bệnh truyền nhiễm do vi sinh vật. Việc phân tích cấu trúc vi sinh vậtmô hình hóa quá trình vi sinh vật đòi hỏi sự nhạy bén trong tư duy. Nếu không có kỹ năng tư duy logic, học sinh dễ gặp khó khăn trong việc kết nối các kiến thức rời rạc, dẫn đến hiểu biết hời hợt và khó áp dụng vào thực tiễn.

II. Thách thức nào khi rèn luyện tư duy logic hiệu quả trong dạy Sinh học Vi sinh vật

Quá trình rèn luyện tư duy logic trong dạy Sinh học Vi sinh vật THPT không hề đơn giản, đối mặt với nhiều thách thức từ cả phía giáo viên và học sinh. Mặc dù các giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng tư duy logic cho học sinh, thực tế cho thấy mức độ triển khai còn nhiều hạn chế và chưa thường xuyên [Luân Thị Như, 2019, tr. 19]. Nhiều giáo viên vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, chưa thực sự chú trọng đến việc tạo điều kiện cho học sinh phát triển tư duy. Điều này dẫn đến tình trạng học sinh thụ động, ít có cơ hội thực hành kỹ năng phân tích Sinh học Vi sinh vậttư duy phản biện Sinh học.

Một trong những khó khăn lớn là việc xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập phù hợp. Theo nghiên cứu, đa số giáo viên THPT sử dụng câu hỏi ở mức độ thấp, chủ yếu yêu cầu tái hiện kiến thức (mức 1 và 2 theo Benjamin Bloom), ít khi đưa ra câu hỏi đòi hỏi sự phân tích, tổng hợp hay đánh giá (mức 3-6) [Luân Thị Như, 2019, tr. 17]. Điều này kìm hãm khả năng lập luận logic trong khoa học của học sinh. Hơn nữa, nội dung Sinh học Vi sinh vật có nhiều phần trừu tượng, đòi hỏi học sinh phải có khả năng trừu tượng hóakhái quát hóa cao. Nếu giáo viên không có phương pháp tư duy khoa học Sinh học phù hợp để dẫn dắt, học sinh sẽ khó khăn trong việc tiếp cận và giải quyết vấn đề Sinh học THPT liên quan đến các khái niệm như vòng đời virus hay chuyển hóa vật chất ở vi sinh vật.

Ngoài ra, cơ sở vật chất, thời lượng tiết học và áp lực thi cử cũng là những yếu tố khách quan cản trở việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học Sinh học theo hướng phát triển tư duy. Việc tổ chức các thí nghiệm thực hành Sinh học Vi sinh vật đòi hỏi thời gian, trang thiết bị, trong khi đó, nhiều trường học chưa đáp ứng đủ. Kết quả khảo sát cũng cho thấy học sinh ít tham gia vào các hoạt động đòi hỏi tư duy sâu như trừu tượng hóa, với chỉ 14,4% học sinh thường xuyên tham gia và 22,8% không tham gia [Luân Thị Như, 2019, tr. 21]. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc tìm kiếm những giải pháp đồng bộ và hiệu quả để vượt qua những rào cản hiện tại, đẩy mạnh rèn luyện tư duy logic cho học sinh THPT.

2.1. Thực trạng còn hạn chế Tập trung kiến thức ít chú trọng tư duy phản biện Sinh học

Thực trạng giáo dục hiện nay cho thấy giáo viên vẫn có xu hướng tập trung vào việc truyền thụ kiến thức hơn là phát triển kỹ năng tư duy cho học sinh. Khảo sát chỉ ra rằng mặc dù giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng tư duy logic, việc áp dụng lại không thường xuyên [Luân Thị Như, 2019, tr. 19]. Các thao tác tư duy như phân tích-tổng hợpso sánh được sử dụng phổ biến hơn, nhưng trừu tượng hóa vẫn còn rất ít được triển khai. Điều này làm giảm cơ hội cho học sinh rèn luyện tư duy phản biện Sinh học, khả năng đặt câu hỏi, đánh giá thông tin và hình thành lập luận khoa học. Học sinh thường chỉ tái hiện kiến thức mà thiếu đi khả năng đào sâu, liên hệ và mở rộng vấn đề.

2.2. Nội dung trừu tượng Khó khăn khi giải quyết vấn đề Sinh học THPT

Sinh học Vi sinh vật THPT chứa đựng nhiều khái niệm trừu tượng, đòi hỏi khả năng hình dung và suy luận cao. Các khái niệm như đặc điểm vi sinh vật, phân loại vi khuẩn, hay cơ chế hoạt động của hệ miễn dịch và vi sinh vật không thể quan sát trực tiếp. Điều này tạo ra thách thức lớn khi giải quyết vấn đề Sinh học THPT liên quan đến phần này. Học sinh gặp khó khăn trong việc biến những thông tin trừu tượng thành kiến thức cụ thể, có hệ thống. Nếu giáo viên không có phương pháp phù hợp để chuyển hóa các khái niệm này thành các tình huống thực tế, các bài tập cụ thể, học sinh sẽ dễ cảm thấy mơ hồ và thiếu động lực học tập.

III. Cách thức XÂY DỰNG quy trình rèn luyện tư duy logic cho học sinh THPT

Để thực hiện hiệu quả việc rèn luyện tư duy logic trong dạy Sinh học Vi sinh vật THPT, việc xây dựng một quy trình bài bản là vô cùng cần thiết. Quy trình này không chỉ định hướng hoạt động của giáo viên mà còn giúp học sinh chủ động hơn trong học tập. Theo Luân Thị Như (2019), quy trình rèn luyện kỹ năng tư duy logic phải dựa trên các nguyên tắc cơ bản và bao gồm các bước cụ thể, có tính kế thừa và phát triển [Luân Thị Như, 2019, tr. 29].

Quy trình cần đảm bảo mục tiêu bài học, hướng tới hình thành và phát triển các kỹ năng tư duy quan trọng. Điều này có nghĩa là mỗi hoạt động trong giờ học phải có sự gắn kết chặt chẽ với các thao tác tư duy như phân tích-tổng hợp, so sánh, khái quát hóa-trừu tượng hóa. Giáo viên cần xác định rõ vị trí bài học, kiến thức trọng tâm và vốn hiểu biết của học sinh để đặt ra mục tiêu rèn luyện tư duy logic phù hợp. Việc tích hợp các phương pháp dạy học tích cực như dạy học đặt và giải quyết vấn đề, dạy học hợp tác, hay vấn đáp gợi mở, là chìa khóa để khuyến khích học sinh chủ động tư duy, giải quyết vấn đề Sinh học THPT một cách sáng tạo.

Bên cạnh đó, quy trình phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT và nội dung chương trình Sinh học 10, đặc biệt là phần Sinh học Vi sinh vật. Các hoạt động cần được thiết kế để kiểm tra, đánh giá thường xuyên, tạo cơ hội cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động và tư duy sáng tạo. Sự phù hợp với các quy luật tâm lý, giáo dục và triết học cũng là yếu tố quan trọng, đảm bảo rằng việc rèn luyện tư duy logic diễn ra một cách khoa học và bền vững. Việc vận dụng các thành tựu của tâm lý học lứa tuổi và sư phạm giúp giáo viên hiểu rõ hơn về cách học sinh tiếp nhận kiến thức và hình thành kỹ năng [Luân Thị Như, 2019, tr. 29]. Một quy trình tốt sẽ là nền tảng vững chắc cho sự phát triển năng lực học sinh THPT.

Cuối cùng, quy trình cần được triển khai qua hai giai đoạn: giai đoạn trải nghiệm (làm quen với việc học tập định hướng tư duy logic) và giai đoạn thực hiện quy trình (áp dụng các bước cụ thể để lĩnh hội tri thức). Điều này giúp học sinh dần hình thành thói quen phương pháp tư duy khoa học Sinh học, nâng cao hiệu quả học tập phần Sinh học Vi sinh vật.

3.1. Các nguyên tắc vàng Đảm bảo giáo dục định hướng phát triển năng lực

Việc thiết lập các nguyên tắc rõ ràng là nền tảng cho việc rèn luyện tư duy logic hiệu quả. Đầu tiên, mọi hoạt động phải bám sát mục tiêu bài học, đảm bảo giáo dục định hướng phát triển năng lực toàn diện cho học sinh. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở kiến thức mà còn ở kỹ năng và thái độ. Thứ hai, quá trình rèn luyện phải tích hợp thông qua các phương pháp dạy học tích cực. Điều này đòi hỏi giáo viên phải là người dẫn dắt, tạo môi trường cho học sinh chủ động khám phá. Thứ ba, quy trình cần phù hợp với chương trình đào tạo và đối tượng học sinh, đặc biệt là năng lực tư duy logic học sinh cấp 3. Cuối cùng, phải tuân thủ các quy luật tâm lý, giáo dục và triết học, đảm bảo sự phát triển tư duy diễn ra tự nhiên và khoa học [Luân Thị Như, 2019, tr. 29]. Những nguyên tắc này giúp giáo viên có cái nhìn toàn diện khi xây dựng giáo án tích hợp Sinh học.

3.2. Quy trình 4 bước Phương pháp tư duy khoa học Sinh học hiệu quả

Quy trình rèn luyện kỹ năng tư duy logic trong dạy Sinh học Vi sinh vật THPT được đề xuất gồm 4 bước quan trọng. Bước 1 là Xác định nhiệm vụ nhận thức, nơi giáo viên nêu tình huống có vấn đề hoặc câu hỏi định hướng. Bước 2 là Huy động, tìm tòi tri thức, yêu cầu học sinh phân tích sách giáo khoa, trả lời câu hỏi, nhằm huy động vốn kiến thức sẵn có và tìm kiếm tri thức mới. Bước 3 là Hoạt động thảo luận, đánh giá, cho phép học sinh trao đổi, phản biện và giáo viên chốt kiến thức. Cuối cùng, Bước 4 là Vận dụng, nơi học sinh áp dụng kiến thức để giải quyết vấn đề Sinh học THPT phức tạp hơn [Luân Thị Như, 2019, tr. 31]. Quy trình này hình thành một phương pháp tư duy khoa học Sinh học có hệ thống.

IV. Vận dụng phương pháp dạy học tích cực để tối ưu tư duy hệ thống trong Sinh học

Để tối ưu rèn luyện tư duy logic trong dạy Sinh học Vi sinh vật THPT, việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực đóng vai trò then chốt. Những phương pháp này không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn kích thích học sinh chủ động tư duy, khám phá và xây dựng kiến thức cho riêng mình. Dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, vấn đáp gợi mở, và dạy học hợp tác nhóm nhỏ là những chiến lược hiệu quả, giúp học sinh phát triển tư duy hệ thống trong Sinh học [Luân Thị Như, 2019, tr. 14].

Trong dạy học đặt vấn đề, giáo viên tạo ra các tình huống có vấn đề, thách thức học sinh phải suy nghĩ, tìm tòi giải pháp. Quá trình này khuyến khích học sinh lập luận logic trong khoa học, từ việc xác định vấn đề, đề xuất giả thuyết, đến tìm kiếm thông tin và kiểm chứng giải pháp. Đây là cơ hội tuyệt vời để học sinh thực hành phương pháp suy luận khoa học và phát triển tư duy phản biện Sinh học. Các câu hỏi định hướng cần được thiết kế ở mức độ cao, yêu cầu học sinh phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và vận dụng kiến thức vào các tình huống mới, thay vì chỉ tái hiện kiến thức [Luân Thị Như, 2019, tr. 16].

Bên cạnh đó, dạy học hợp tác nhóm nhỏ giúp học sinh phát triển kỹ năng phân tích Sinh học Vi sinh vật thông qua trao đổi, tranh luận. Trong nhóm, học sinh cùng nhau giải quyết vấn đề Sinh học THPT, chia sẻ ý tưởng và học hỏi lẫn nhau. Hoạt động này không chỉ tăng cường năng lực giao tiếp và hợp tác mà còn bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm tập thể, phát huy tối đa tư duy hệ thống trong Sinh học. Học sinh được khuyến khích đặt câu hỏi, phản biện, từ đó nâng cao khả năng phân tích dữ liệu Sinh họcmô hình hóa quá trình vi sinh vật một cách toàn diện. Các phương pháp này, khi được áp dụng linh hoạt và sáng tạo, sẽ biến quá trình học tập thành một hành trình khám phá đầy hứng thú, giúp học sinh vững vàng hơn với kiến thức Sinh học Vi sinh vật cơ bản và các kỹ năng tư duy cần thiết.

4.1. Đặt câu hỏi và giải quyết vấn đề Kích thích lập luận logic trong khoa học

Dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề là một phương pháp tư duy khoa học Sinh học hữu hiệu. Giáo viên đưa ra các tình huống có vấn đề liên quan đến đặc điểm vi sinh vật, bệnh truyền nhiễm do vi sinh vật hoặc ứng dụng vi sinh vật trong đời sống. Học sinh được khuyến khích tự đặt câu hỏi, phân tích tình huống, đề xuất các giả thuyết và tìm kiếm giải pháp. Quá trình này rèn luyện khả năng lập luận logic trong khoa học, giúp học sinh phát triển kỹ năng tư duy phản biện. Thay vì tiếp nhận thông tin thụ động, học sinh chủ động suy nghĩ, thảo luận, và bảo vệ quan điểm của mình, qua đó củng cố kỹ năng phân tích Sinh học Vi sinh vậtphương pháp suy luận khoa học.

4.2. Dạy học hợp tác nhóm Phát triển kỹ năng phân tích Sinh học Vi sinh vật

Dạy học hợp tác nhóm nhỏ là chiến lược hiệu quả để rèn luyện tư duy logic. Học sinh làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề Sinh học THPT được giao. Trong nhóm, các em phải chia sẻ thông tin về phân loại vi khuẩn, vòng đời virus, hay các cơ chế hệ miễn dịch và vi sinh vật. Hoạt động này thúc đẩy sự trao đổi, tranh luận, từ đó củng cố kỹ năng phân tích Sinh học Vi sinh vật của từng cá nhân. Khi mỗi thành viên phải trình bày ý kiến và lắng nghe phản hồi, khả năng tư duy phản biện Sinh học được mài giũa. Việc cùng nhau xây dựng mô hình hóa quá trình vi sinh vật hoặc phân tích dữ liệu Sinh học trong nhóm giúp học sinh hình thành tư duy hệ thống trong Sinh học, đồng thời học được cách hợp tác và giao tiếp hiệu quả.

V. Bí quyết thiết kế CÂU HỎI BÀI TẬP rèn kỹ năng phân tích cấu trúc vi sinh vật

Thiết kế hệ thống câu hỏi và bài tập là công cụ cốt lõi để rèn luyện tư duy logic trong dạy Sinh học Vi sinh vật THPT. Câu hỏi và bài tập chất lượng không chỉ kiểm tra kiến thức mà còn kích thích học sinh vận dụng các thao tác tư duy như phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa và trừu tượng hóa [Luân Thị Như, 2019, tr. 18]. Để đạt được hiệu quả tối ưu, giáo viên cần có bí quyết trong việc xây dựng các công cụ này, hướng chúng đến việc phát triển kỹ năng phân tích cấu trúc vi sinh vật và các quá trình sống phức tạp của chúng.

Các câu hỏi không nên chỉ dừng lại ở việc yêu cầu học sinh tái hiện kiến thức về đặc điểm vi sinh vật hay phân loại vi khuẩn. Thay vào đó, cần có những câu hỏi mang tính gợi mở, thách thức học sinh phải phân tích dữ liệu Sinh học, so sánh các hiện tượng, hoặc đưa ra giải thích cho các vấn đề thực tiễn liên quan đến ứng dụng vi sinh vật trong đời sống. Ví dụ, việc yêu cầu học sinh giải thích tại sao một loại thực phẩm lại bị hỏng nhanh hơn khi không được bảo quản đúng cách sẽ khuyến khích các em vận dụng kiến thức về sinh trưởng của vi sinh vật và các yếu tố ảnh hưởng [Luân Thị Như, 2019, tr. 35-36].

Đối với Sinh học Vi sinh vật, việc thiết kế bài tập tình huống hoặc case study là rất phù hợp. Học sinh có thể được yêu cầu phân tích một tình huống cụ thể về bệnh truyền nhiễm do vi sinh vật để đưa ra biện pháp phòng ngừa hoặc giải thích cơ chế lây truyền. Điều này không chỉ củng cố kiến thức Sinh học Vi sinh vật cơ bản mà còn rèn luyện tư duy phản biện Sinh học và khả năng giải quyết vấn đề Sinh học THPT. Việc đa dạng hóa các dạng bài tập, từ câu hỏi trắc nghiệm khách quan đến bài tập tự luận yêu cầu lập luận logic trong khoa học, sẽ giúp học sinh phát triển toàn diện các thao tác tư duy. Giáo viên cần lưu ý rằng, để học sinh hứng thú, các câu hỏi và bài tập cần có tính liên hệ thực tế, khơi gợi sự tò mò và khuyến khích phương pháp suy luận khoa học [Luân Thị Như, 2019, tr. 18].

5.1. Định hướng thao tác Phân tích so sánh đặc điểm vi sinh vật

Hệ thống câu hỏi, bài tập cần được thiết kế để rèn luyện các thao tác tư duy cụ thể. Đối với Sinh học Vi sinh vật THPT, thao tác phân tích-so sánh đặc điểm vi sinh vật là trọng tâm. Ví dụ, câu hỏi có thể yêu cầu học sinh phân biệt hô hấp hiếu khí và hô hấp kị khí, hoặc so sánh sự khác biệt giữa virus và vi khuẩn về cấu tạo, khả năng sinh sản [Luân Thị Như, 2019, tr. 33]. Việc này giúp học sinh không chỉ ghi nhớ thông tin mà còn hiểu sâu sắc bản chất của từng loại vi sinh vật. Các bài tập yêu cầu phân tích cấu trúc vi sinh vật như virus trần và virus có vỏ ngoài, hay các pha sinh trưởng của vi khuẩn trong môi trường nuôi cấy, sẽ củng cố kỹ năng phân tích Sinh học Vi sinh vật.

5.2. Khái quát hóa và trừu tượng hóa Nâng cao mô hình hóa quá trình vi sinh vật

Để phát triển tư duy logic ở mức độ cao hơn, câu hỏi và bài tập cần định hướng học sinh thực hiện thao tác khái quát hóa và trừu tượng hóa. Đây là kỹ năng giúp học sinh từ những thông tin cụ thể để rút ra nguyên lý chung hoặc mô hình hóa quá trình vi sinh vật. Ví dụ, yêu cầu học sinh giải thích tại sao thực phẩm đóng hộp cần thanh trùng hoặc tại sao sữa chua không có vi sinh vật gây bệnh [Luân Thị Như, 2019, tr. 34]. Những câu hỏi này đòi hỏi học sinh phải vận dụng nhiều kiến thức, từ đó khái quát hóa các quy luật sinh trưởng, sinh sản và hoạt động của vi sinh vật. Việc giải thích các hiện tượng như quần áo bị mốc hoặc nguy cơ ăn thức ăn quá hạn sử dụng cũng là cách để rèn luyện khả năng trừu tượng hóakhái quát hóa.

VI. Ứng dụng THỰC TIỄN rèn luyện tư duy logic Minh chứng hiệu quả tại trường THPT

Việc rèn luyện tư duy logic trong dạy Sinh học Vi sinh vật THPT không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà đã được minh chứng hiệu quả thông qua các ứng dụng thực tiễn tại các trường THPT. Nghiên cứu của Luân Thị Như (2019) tại trường THPT Chợ Đồn - Bắc Kạn đã cho thấy những kết quả tích cực khi triển khai quy trình và các biện pháp rèn luyện kỹ năng tư duy logic cho học sinh [Luân Thị Như, 2019].

Các giáo án tích hợp Sinh học được xây dựng theo hướng phát triển năng lực, tập trung vào việc tổ chức các hoạt động học tập có tính trải nghiệm và vận dụng kiến thức. Chẳng hạn, trong bài về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật, giáo viên không chỉ giảng lý thuyết mà còn cho học sinh trải nghiệm thực tế với dưa chua ở các giai đoạn khác nhau, hay quan sát hình ảnh lá rau cải ngâm nước muối và quả cam bị mốc [Luân Thị Như, 2019, tr. 39]. Từ những trải nghiệm này, học sinh được dẫn dắt để xác định nhiệm vụ nhận thức, huy động tri thức, thảo luận và cuối cùng là vận dụng kiến thức vào giải quyết vấn đề Sinh học THPT thực tiễn như lý do quần áo bị mốc hay tầm quan trọng của việc ăn chín uống sôi. Điều này giúp củng cố kiến thức Sinh học Vi sinh vật cơ bản một cách sinh động và dễ hiểu.

Kết quả thực nghiệm sư phạm tại trường THPT Chợ Đồn đã chỉ ra rằng, học sinh được rèn luyện theo quy trình này có sự tiến bộ rõ rệt về năng lực tư duy logic học sinh cấp 3. Các em không chỉ ghi nhớ kiến thức tốt hơn mà còn thể hiện khả năng phân tích dữ liệu Sinh học, so sánh đặc điểm vi sinh vậtkhái quát hóa vấn đề một cách tự tin hơn. Điều này khẳng định rằng, việc tích cực đổi mới phương pháp dạy học Sinh học theo hướng phát triển tư duy là hoàn toàn khả thi và mang lại hiệu quả cao. Thành công của các thí nghiệm thực hành Sinh học Vi sinh vật đã góp phần thay đổi nhận thức của cả giáo viên và học sinh về tầm quan trọng của việc học đi đôi với hành, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

6.1. Giáo án mẫu Tích hợp tư duy logic trong giáo án Sinh học Vi sinh vật

Việc tích hợp tư duy logic trong giáo án Sinh học Vi sinh vật là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả của phương pháp này. Một giáo án mẫu về 'Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của vi sinh vật' đã được thiết kế nhằm rèn luyện tư duy logic cho học sinh [Luân Thị Như, 2019, tr. 37]. Giáo án này sử dụng các câu hỏi và bài tập định hướng rõ ràng, từ việc kể tên chất diệt khuẩn đến giải thích tại sao sữa chua không có vi sinh vật gây bệnh. Học sinh được tham gia vào các hoạt động trải nghiệm, sau đó áp dụng quy trình 4 bước để giải quyết vấn đề Sinh học THPT. Cách tiếp cận này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức Sinh học Vi sinh vật cơ bản mà còn phát triển phương pháp suy luận khoa họctư duy phản biện Sinh học thông qua các ví dụ thực tế.

6.2. Kết quả thí nghiệm Nâng cao năng lực tư duy logic học sinh cấp 3

Thực nghiệm sư phạm đã tiến hành trên học sinh khối 10 tại trường THPT Chợ Đồn, Bắc Kạn. Kết quả định lượng và định tính đều cho thấy học sinh ở nhóm thực nghiệm (được rèn luyện tư duy logic) có điểm kiểm tra cao hơn và mức độ tham gia vào các hoạt động học tập tích cực hơn so với nhóm đối chứng [Luân Thị Như, 2019, tr. 48]. Điều này chứng tỏ quy trình rèn luyện kỹ năng tư duy logic đã xây dựng có khả năng nâng cao năng lực tư duy logic học sinh cấp 3. Học sinh thể hiện sự chủ động trong việc phân tích dữ liệu Sinh học, so sánh đặc điểm vi sinh vật, và đưa ra lập luận logic trong khoa học một cách tự tin hơn. Sự thành công này là động lực để nhân rộng mô hình đổi mới phương pháp dạy học Sinh học.

VII. Tương lai của rèn luyện tư duy logic trong dạy Sinh học THPT Xu hướng và khuyến nghị

Tương lai của việc rèn luyện tư duy logic trong dạy Sinh học Vi sinh vật THPT hứa hẹn nhiều triển vọng, đồng thời đặt ra những yêu cầu và khuyến nghị để tiếp tục phát triển. Với những lợi ích rõ ràng đã được chứng minh, việc tích hợp sâu rộng các phương pháp và công cụ rèn luyện kỹ năng tư duy logic vào chương trình giảng dạy là một xu hướng tất yếu. Các nhà giáo dục cần tiếp tục nghiên cứu và đổi mới phương pháp dạy học Sinh học để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Một trong những khuyến nghị quan trọng là tăng cường đào tạo giáo viên về phương pháp tư duy khoa học Sinh học và cách thiết kế các hoạt động học tập phát triển tư duy. Giáo viên cần được trang bị kỹ năng để xây dựng giáo án tích hợp Sinh học không chỉ về kiến thức mà còn về các thao tác tư duy như phân tích-tổng hợp, so sánh, khái quát hóa-trừu tượng hóa. Việc khuyến khích giáo viên sử dụng các thí nghiệm thực hành Sinh học Vi sinh vật một cách sáng tạo, khai thác triệt để tiềm năng của STEM trong dạy Sinh học, sẽ giúp học sinh hình thành tư duy thực nghiệm và giải quyết vấn đề Sinh học THPT một cách hiệu quả.

Ngoài ra, việc mở rộng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học cũng là một hướng đi đầy tiềm năng. Sử dụng các phần mềm mô phỏng, video giáo dục, hoặc các nền tảng học trực tuyến có thể giúp học sinh hình dung rõ hơn về đặc điểm vi sinh vật, vòng đời virus và các quá trình sinh học phức tạp. Điều này hỗ trợ việc mô hình hóa quá trình vi sinh vậtphân tích dữ liệu Sinh học một cách trực quan, hấp dẫn hơn. Việc liên kết liên môn Sinh học và các môn khác như Hóa học, Vật lý, Toán học cũng góp phần củng cố tư duy hệ thống trong Sinh học, giúp học sinh nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ. Mục tiêu cuối cùng là phát triển năng lực học sinh THPT một cách bền vững, chuẩn bị cho các em hành trang vững chắc để thích ứng với thế giới đang thay đổi nhanh chóng.

7.1. Tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học Sinh học

Để duy trì và nâng cao hiệu quả, cần tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học Sinh học. Điều này bao gồm việc khuyến khích giáo viên áp dụng các chiến lược dạy học tích cực, ít tập trung vào việc truyền thụ kiến thức thuần túy. Cần có sự đầu tư vào việc phát triển tài liệu giảng dạy, bộ câu hỏi và bài tập theo hướng rèn luyện tư duy logic, đặc biệt là cho phần Sinh học Vi sinh vật. Việc tổ chức các buổi tập huấn, hội thảo thường xuyên cho giáo viên về phương pháp tư duy khoa học Sinh học và kỹ thuật thiết kế giáo án tích hợp Sinh học sẽ là cần thiết. Mục tiêu là để mỗi giáo viên có thể tự tin dẫn dắt học sinh phát triển năng lực học sinh THPT toàn diện.

7.2. Lan tỏa mô hình Nhân rộng phát triển năng lực học sinh THPT

Mô hình rèn luyện tư duy logic đã cho thấy hiệu quả cần được nhân rộng ra các trường THPT khác. Việc chia sẻ sáng kiến kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu và các giáo án tích hợp Sinh học thành công sẽ thúc đẩy cộng đồng giáo viên cùng nhau học hỏi và áp dụng. Cần có sự hỗ trợ từ cấp quản lý giáo dục để tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất, thời lượng giảng dạy cho các hoạt động thí nghiệm thực hành Sinh học Vi sinh vật và các dự án học tập. Sự hợp tác giữa các trường, các địa phương sẽ giúp phát triển năng lực học sinh THPT một cách đồng bộ và bền vững, tạo ra một thế hệ học sinh không chỉ giỏi kiến thức mà còn vững kỹ năng tư duy.

02/10/2025
Luận văn thạc sĩ rèn luyện kỹ năng tư duy logic cho học sinh trong dạy học sinh học vi sinh vật ở trường trung học phổ thông chợ đồn bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TƯ DUY LOGIC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC SINH HỌC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu rèn luyện KNTD logic cho học sinh 1. Trên thế giới Tư duy (TD) và tư duy logic (TDLG) được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm. Các nhà tâm lí học, các nhà triết học, giáo dục học,… đã đề cập đến những tư tưởng đầu tiên cho TDLG.

- Các nhà tâm lý học đã đưa ra những quan điểm khác nhau về sự phát triển của trí tuệ, khả năng TD, yếu tố di truyền và yếu tố môi trường. Francis Galton (1897) đưa ra mối liên hệ giữa phả hệ và các mức độ phát triển của trí tuệ. Ông đưa ra hai nguyên tắc: thiên là do di truyền và phát triển trí tuệ liên quan đến nhiều yếu tố khá phức tạp [ 27]. Với hai nguyên tắc đó thì câu hỏi được đặt ra là nếu trí tuệ là do di truyền thì việc phát triển trí tuệ có ý nghĩa gì không? Alfed Brinet (1857- 1911) cho rằng TD của con người bắt nguồn từ một chức năng duy nhất gọi là trí tuệ, có thể phát triển TD của một đứa trẻ ngay cả khi nó không có khả năng bẩm sinh.

Ông nói rằng tư duy được hình thành từ rất nhiều chức răng nhỏ hơn như chú ý, quan sát, phân biệt, nhớ, đánh giá [28 ]. Theo tác giả Hans Eysenck (1916) trí tuệ con người là kết quả của 80% do di truyền, 20% do môi trường và giáo dục. Như vậy, các nhà nghiên cứu trên đã nhấn mạnh tính di truyền của biến dị hay khả năng TD mà coi nhẹ sự tác động của môi trường [ 29]. Tuy nhiên, nhiều nhà tâm lí học khác lại đưa ra những quan điểm đối lập, không nhấn mạnh vào yếu tố di truyền mà nhấn mạnh vào yếu tố môi trường.Vygotsky (1980), nhà tâm lí học người Nga cho rằng tất cả các quá trình tâm lí đều là kết quả của việc trao đổi văn hóa và xã hội.TD của một đứa trẻ phát triển chủ yếu thông qua các hoạt động trong xã hội, đặc biệt là trong sự giao lưu giữa Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com người lớn và trẻ em [30].

Vygotsky lại khẳng định: các chức năng tư duy sơ đẳng như bản chất khéo léo là một phần của di truyền, nó sẽ được nền văn hóa và giáo dục biến thành những chức năng cao hơn, trí tuệ hơn như khả năng viết, thuyết trình. Như vậy, khả năng trí tuệ của con người được bắt nguồn từ gen di truyền và được phát triển thông qua hoạt động xã hội, giáo dục, gia đình và môi trường văn hóa [30]. Vấn đề hình thành ở học sinh kĩ năng tư duy được nhiều tác giả nghiên cứu.Vào khoảng thập niên 60 - 70 của thế kỷ XX khi lý thuyết hoạt động của A.Lêônchiev ra đời thì đã có hàng loạt các công trình nghiên cứu về NL và NLTD được công bố ở các mức độ sâu và rộng, đặc biệt nhấn mạnh đến điều kiện hình thành chúng. Việc hình thành các kĩ năng nhận thức như là sở của tính độc lập của HS đã được F.Brunơ (1960) đề cập đến trong tác phẩm "Hình thành các hoạt động trí tuệ của HS".Brunơ trong khi xác định những điều kiện để tiến hành có kết quả phương pháp tìm tòi khám khá, điều kiện đầu tiên là GV phải biết vận dụng phương pháp phù hợp với năng lực, hứng thú và nhu cầu của trẻ [9].

Theo Kharlamop (1978), GV cần biết logic của hoạt động nhận thức của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh. Ông nêu 8 biện pháp tạo tình huống có vấn đề và tổ chức hoạt động nhận thức của HS, tạo sự phát triển tư duy logic của HS, trang bị cho các em những biện pháp và thủ thuật lĩnh hội kiến thức [12]. Trong tác phẩm "Thế giới phẳng" (2006) của tác giả Thomas L.Friedman nhấn mạnh phương pháp học: kĩ năng đầu tiên và quan trọng nhất mà bạn cần có trong thế giới phẳng là kĩ năng "học phương pháp học" [23]. Trong những năm gần đây các nhà giáo dục học mong muốn có chương trình dạy kĩ năng TD cho HS.

Các nhà khoa học trong các lĩnh vực tâm lý học, triết học, giáo dục học cùng phối hợp nghiên cứu và đề xuất nhiều ý tưởng cho việc dạy kĩ năng tư duy, ứng dụng trong giáo dục ở trường phổ thông. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com Về vấn đề hình thành các biện pháp hoạt động TD trong dạy học nói chung, dạy học Sinh học nói riêng, các nghiên cứu đều thống nhất cho rằng: nếu chất lượng bộ môn thấp là do GV không nắm chắc các biện pháp phân tích, so sánh, khái quát hóa. Vì vậy, đối với mỗi thao tác logic các tác giả đều vạch ra một hệ thống các biện pháp, phương pháp tạo điều kiện phát triển tư duy HS. Trên đây, chúng tôi đã tổng quan luận điểm của các tác giả trên thế giới nghiên cứu về TD và phát triển KNTD của HS.

Vấn đề TD đã được các nhà triết học, tâm lý học đề cập, tiếp đến là các nhà giáo dục nghiên cứu tầm quốc gia, hình thành quan điểm dạy học nói chung và dạy học sinh học nói riêng. Hầu hết các quan điểm đều nhấn mạnh sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, rèn luyện kĩ năng tư duy, phương pháp tự học của học sinh. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu về TD và TDLG đa phần được thể hiện đồng thời với đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS.Từ năm 1970 đã có những công trình nghiên cứu xem xét hiện trạng, đặc điểm về trí nhớ, chú ý và TD của HS trung học cơ sở. Vào những năm 1990, đã có nhiều công trình nghiên cứu về việc phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động sáng tạo của học sinh trong dạy học.

Trong luận văn sau đại học “Hình thành và phát triển các biện pháp hoạt động trí tuệ của học sinh trong dạy học sinh” của tác giả Lâm Hàn Thủy khẳng định: có thể sử dụng hệ thống các câu hỏi, bài tập để rèn luyện các thao tác tư duy logic, các biện pháp nhận thức học tập và người giáo viên cần phải ra đi từ việc phân tích nội dung tài liệu [25]. Gần đây đã có nhiều nghiên cứu đi sâu về từng mặt các yếu tố trong hệ thống cấu trúc các phương pháp dạy học tích cực, đã bàn về kỹ năng tư duy và hình thành kỹ năng tư duy trong dạy học. Nguyễn Bá Kim (2002) nhấn mạnh TD không thể tách rời ngôn ngữ, TD phải diễn ra trong sự trau dồi bằng ngôn ngữ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com của con người và ngược lại, ngôn ngữ được hình thành nhờ TD [15]. Năm 2004, Nguyễn Văn Thuận đã nghiên cứu đề tài “Góp phần phát triển năng lực TDLG và sử dụng chính xác ngôn ngữ toán học cho HS đầu cấp THPT trong dạy học đại số” đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp dạy học để rèn năng lực TDLG cho HS [24].

Theo tác giả Hồ Ngọc Đại (2010) thì khoa học càng hiện đại thì càng gần chân lí, càng đơn giản hơn, nếu HS biết “cách” chiếm lĩnh được khái niêm khoa học hiện đại thì quá trình hình thành và phát triển TD của HS chắc chẵn được đảm bảo tối ưu [8]. Các tác giả đều nêu được sự cần thiết của việc hình thành kĩ năng tư duy cho HS, đó là công việc có ý nghĩa then chốt trong quá trình dạy học, cũng như phân tích được các căn cứ về triết học, tâm lí và giáo dục học để phát huy tính tích cực của HS, rèn luyện KNTD cho HS. Nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập về những phương pháp, biện pháp dạy học các kiến thức sinh học như: sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan, xây dựng và sử dụng tình huống hợp lý, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn,… một số ít công trình cũng đã đề cập đến rèn kĩ năng riêng lẻ như: phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hóa,… 1. Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu * Tư duy Trong thực tiễn có rất nhiều điều ta chưa biết, chưa hiểu.

Song để làm chủ được thực tiễn, con người cần phải hiểu được những cái chưa biết đó, phải hiểu rõ được bản chất, mối quan hệ có tính quy luật của chúng. Quá trình đó gọi là TD. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam : Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt - bộ não con người. Tư duy phản ánh tích cực hiện thực khách quan dưới dạng các khái niệm, sự phán đoán, lý luận,… [20, tập III].

Theo triết học duy tâm khách quan, tư duy là sản phẩm của “ý niệm tuyệt đối” với tư cách là bản năng siêu tự nhiên, độc lập, không phụ thuộc vào vật chất. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com Theo George Wilhemer Fridrick Heghen: “Ý niệm tuyệt đối là bản nguyên của hoạt động và nó chỉ có thể biểu hiện trong tư duy, trong nhận thức tư biện mà thôi (dẫn theo [10]). Đối với Heghen, vận động của tư duy được ông nhân cách hóa dưới tên gọi “ý niệm” là chúa sáng tạo ra hiện thực; hiện thực chỉ là hình thức bề ngoài của ý niệm” [10]. Theo triết học duy vật biện chứng, tư duy là một trong các đặc tính của vật chất phát triển đến trình độ tổ chức cao.

Về lý thuyết, Karl Marx (1938), cho rằng: “Vận động kiểu tư duy chỉ là sự vận động của hiện thực khách quan được di chuyển vào và được tái tạo trong đầu óc con người dưới dạng một sự phản ánh” [14]. Về thực nghiệm Ivan Petrovich Pavlov, nhà sinh lý học, nhà tư tưởng người Nga cho rằng “Hoạt động tâm lý là kết quả của hoạt động sinh lý của một bộ phận nhất định của bộ óc” [16]. Theo phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chọn hướng tiếp cận theo định nghĩa từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2000),“TD là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [17]. * Kĩ năng Có nhiều quan niệm khác nhau về kĩ năng, tùy thuộc vào cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ