phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn Chƣơng 2: Một số biện pháp rèn luyện năng lực tƣ duy sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở thông qua dạy học chuyên đề giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề ở nước ngoài Trên thế giới, tƣ duy sáng tạo đƣợc nghiên cứu từ rất sớm vào khoảng thế kỉ III. Ngƣời đặt nền móng đầu tiên nghiên cứu về lĩnh vực khoa học này là nhà toán học Pappos ngƣời Hy Lạp.
Ông tập trung nghiên cứu các phƣơng pháp và quy tắc phát minh sáng chế trong các lĩnh vực toán học, triết học, khoa học kĩ thuật,…. Sau đó, một số nhà khoa học khác nhƣ Leibnitz, Descarter,… cũng tiếp tục nghiên cứu và phát triển khoa học này. Từ giữa thế kỉ XX, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo của các tác giả J. Các nghiên cứu này tập trung đề cập đến những đặc điểm, bản chất của hoạt động sáng tạo, những thuộc tính của nhân cách sáng tạo, kích thích hoạt động sáng tạo và cách phát triển năng lực sáng tạo.
Các nhà tâm lí học Liên Xô (cũ) cũng có nhiều nghiên cứu về khoa học sáng tạo trên cả hai phƣơng diện lí luận và thực nghiệm. Họ đã đạt đƣợc nhiều kết quả trong việc nghiên cứu năng lực sáng tạo, tƣ duy sáng tạo và nhân cách sáng tạo. Vấn đề rèn luyện năng lực tƣ duy sáng tạo cho HS đã đƣợc đề cập trong các cuốn sách, các bài báo nhƣ : “Phát triển khả năng sáng tạo trong lớp học” (Penick J.E), “Vai trò của tư duy sáng tạo và trí thông minh trong thành tích học tập” (Yamamoto Kaoru, 1963), “Tư duy của học sinh” (Sacđacốp M.N, 1970),… Trong cuốn “Tư duy của học sinh” tác giả Sacđacốp M.N cho rằng: “Tư duy là quá trình tâm lí mà nhờ đó con người không những tiếp thu được những trí thức khái quát mà còn tiếp tục nhận thức và sáng tạo cái mới”. [15] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhƣ vậy, mặc dù tƣ duy sáng tạo đã đƣợc đề cập và nghiên cứu từ rất lâu nhƣng phải đến từ thế kỉ XX cho đến ngày nay mới thực sự đƣợc quan tâm nghiên cứu một cách bài bản trên toàn thế giới.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề ở trong nước Ở Việt Nam, tƣ duy sáng tạo mới chỉ thực sự đƣợc nghiên cứu vào thập kỉ 70 của thế kỉ XX. Trong khoảng thời gian đầu thì tƣ duy sáng tạo đƣợc nghiên cứu nhiều nhất dƣới góc nhìn của khoa học kĩ thuật – thành tựu có tính chất sáng tạo của con ngƣời. Ở đó, những nghiên cứu về tƣ duy sáng tạo tập trung về yếu tố kĩ thuật để tạo ra sản phẩm mới. Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, thành phố Hồ Chí Minh có Trung tâm sáng tạo Khoa học Tự nhiên chuyên nghiên cứu, đào tạo, huấn luyện về khoa học sáng tạo.
Tuy nhiên, cách nhìn nhận của tƣ duy sáng tạo ở đây là cách tiếp cận dƣới góc nhìn của hoạt động tƣ duy sáng tạo đơn thuần mà ở đó những yếu tố tâm lí của những cá nhân sáng tạo chƣa đƣợc quan tâm. Hội thi sáng chế kĩ thuật VIFOTEX, Bộ Khoa học Công nghệ tổ chức đã đặt nền móng cho cơ sở nghiên cứu về cơ chế tâm lí của những cá nhân sáng tạo đặc biệt. Cho đến nay những hoạt động nghiên cứu về lĩnh vực này còn khá ít và đều tập trung nghiên cứu quá trình sáng tạo, nhân cách sáng tạo và ứng dụng sáng tạo trong Giáo dục. Chẳng hạn nhƣ những nghiên cứu tập trung trong lí luận dạy học: “Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở nhà trường phổ thông” (Hoàng Chúng, 1964), “Khơi dậy tiềm năng sáng tạo” (Nguyễn Cảnh Toàn), “Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới” (Phan Dũng, 2010),….
Một số nghiên cứu khác tập trung trong lĩnh vực tâm lí học nhƣ: “Tâm lí học sáng tạo” (Nguyễn Huy Tú, 1996), “Tâm lí học sáng tạo” (Đức Uy, 1999), “Sổ tay tâm lí học” (Trần Hiệp và Đỗ Long, 1990)…. Nghiên cứu về tƣ duy sáng tạo còn có nhiều những luận án, luận văn và sáng kiến kinh nghiệm nhƣ: luận án tiến sĩ khoa học “Phát triển một số yếu tố 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của tƣ duy sáng tạo cho học sinh tiểu học” (Đỗ Mộc Miên, 2014), luận án tiến sĩ Khoa học Giáo dục “Phát triển năng lực độc lập sáng tạo cho sinh viên Đại học Kĩ thuật thông qua dạy học hóa hữu cơ” (Đinh Thị Hồng Minh, 2013),. Hiện nay, ở cả trong và ngoài nƣớc đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề sáng tạo và tƣ duy sáng tạo cho học sinh trong quá trình dạy học. Tuy vậy, để đáp ứng đƣợc yêu cầu ngày càng cao trong đào tạo con ngƣời hiện nay, vấn đề rèn luyện tƣ duy sáng tạo của HS cần đƣợc quan tâm và tiếp tục nghiên cứu.
Một số vấn đề về tƣ duy 1. Khái niệm tư duy Trong tài liệu số [19] có viết “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý”.1437] Theo tài liệu số [9]: “Tư duy là sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt – bộ não con người”.L Rubinstein quan niệm: “Tư duy đó là sự khôi phục trong ý nghĩ của chủ thể về khách thể với mức độ đầy đủ hơn, toàn diện hơn so với các tư liệu cảm tính xuất hiện do tác động của khách thể” .25] Khái niệm về tƣ duy có thể hiểu theo cách mà tác giả Nguyễn Quang Uẩn đƣa ra trong sách “Tâm lí học đại cương”: “Tư duy là quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết”. [18, tr14] Qua phân tích một số khái niệm về tƣ duy, ta có thể hiểu: Tƣ duy là một hiện tƣợng tâm lý, là hoạt động nhận thức bậc cao ở con ngƣời mà nhờ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó con ngƣời không những tiếp thu đƣợc tri thức mà còn tiếp tục nhận thức và sáng tạo cái mới. Các thao tác tư duy và đặc điểm tư duy Tƣ duy là một quá trình cá nhân thực hiện thao tác trí tuệ nhằm giải quyết vấn đề lĩnh hội.
Tƣ duy thƣờng diễn ra qua các thao tác: phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tƣợng hóa, khái quát hóa. Các thao tác này đều có sự liên quan chặt chẽ với nhau, nhất quán theo một hƣớng nhất định, do nhiệm vụ tƣ duy quy định. Trong thực tế, tùy theo hành động tƣ duy cụ thể, các thao tác tƣ duy có thể đan chéo nhau mà không nhất thiết phải máy móc theo trình tự hay phải thực hiện tất cả các thao tác trên. Tƣ duy có ba đặc điểm cơ bản là: tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tƣợng và khái quát.
Các giai đoạn của quá trình tư duy Quá trình tƣ duy chia thành năm giai đoạn. Đó là: xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề; huy động các tri thức, vốn kinh nghiệm, liên tƣởng; sàng lọc liên tƣởng và hình thành giả thuyết, kiểm tra giả thuyết, giải quyết vấn đề.Các giai đoạn của một quá trình tư duy [24] 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đây là sơ đồ các giai đoạn của một quá trình tƣ duy của nhà tâm lí học K. Số lƣợng các giai đoạn không nhất thiết phải đầy đủ trong các trƣờng hợp nhất định, nhƣng thứ tự các giai đoạn của quá trình tƣ duy phải tuân thủ theo sơ đồ. Một số vấn đề về sáng tạo 1.
Khái niệm sáng tạo Sáng tạo đƣợc hiểu đơn giản là hoạt động tạo ra cái mới. Trong từ điển tiếng Việt thì sáng tạo có nghĩa là “tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có”. [19] Trong cuốn “Phương pháp luận sáng tạo và đổi mới”, tác giả Phan Dũng định nghĩa về sáng tạo nhƣ sau: “Sáng tạo là hoạt động tạo ra bất cứ cái gì có đồng thời tính mới và tính lợi ích”.[4] Quan niệm của Solso R.L về sáng tạo là: “một hoạt động nhận thức mà nó đem lại một cách nhìn nhận hay cách giải quyết mới mẻ đối với một vấn đề hay tình huống”.15] Trong cuốn “Sổ tay tâm lý học” tác giả Đỗ Long viết: “Sáng tạo là hoạt động tạo lập, phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần”. [11] Mỗi quan niệm khác nhau về sáng tạo sẽ đi đến một khái niệm sáng tạo khác nhau.
Dù hiểu theo nghĩa nào thì sáng tạo là quá trình tạo ra hay hƣớng đến cái mới. Sáng tạo là quá trình tƣ duy độc lập, trong đó con ngƣời phối hợp, biến đổi và xây dựng nên những cái mới trên phƣơng diện cá nhân hay xã hội từ những kinh nghiệm sẵn có. Từ đó, tôi cho rằng: “Sáng tạo là hoạt động nghiên cứu, tìm tòi để tìm ra cái mới mẻ, táo bạo, khác thường nhưng có ích. Sự sáng tạo cần thiết cho bất kì hoạt động nào của con người”.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Quá trình sáng tạo Dù cho các tác giả có những quan niệm khác nhau nhƣng có thể thấy quá trình sáng tạo nảy sinh các bƣớc cơ bản sau: giai đoạn nhận thức vấn đề và chuẩn bị, giai đoạn phát sinh, giai đoạn phát minh, giai đoạn kiểm tra. Tƣ duy sáng tạo 1. Khái niệm tư duy sáng tạo Tƣ duy sáng tạo là gì? Có nhiều nghiên cứu khác nhau về tƣ duy sáng tạo.
Nhà tâm lí học G.Mehlhorn đƣa ra quan niệm về tƣ duy sáng tạo nhƣ sau: “Tư duy sáng tạo là hạt nhân của sự sáng tạo cá nhân đồng thời là hạt nhân cơ bản của giáo dục”. [12] Theo các nhà tâm lý học thì tƣ duy sáng tạo đƣợc xem là dạng hoạt động trí não cao nhất của con ngƣời. Năng lực sáng tạo là cốt lõi của tƣ duy sáng tạo, làm tiền đề bên trong của hoạt động sáng tạo, đƣợc xác định từ nhiều quá trình gắn kết nhƣ: quá trình trí nhớ, tƣ duy, cảm xúc.