mở đầu, diễn biến, kết thúc tƣơng đối rõ ràng. Quá trình này bao gồm các giai đoạn, các bƣớc kế tiếp nhau và đƣợc thực hiện bằng các thao tác. Có thể mô tả mối quan hệ đó nhƣ sau: Tƣ duy là quá trình, trong đó con ngƣời thực hiện theo các giai đoạn, bằng các thao tác tƣ duy. GQVĐ đƣợc tiến hành theo các bƣớc, trong mỗi bƣớc không chỉ phải thực hiện các thao tác tƣ duy mà cần thực hiện một số kĩ năng, kĩ xảo.
GQVĐ là những việc rất cơ bản trong học tập và trong cuộc sống hàng ngày. GQVĐ trong DH, chính là chuẩn bị cho HS hiểu đƣợc quá trình tƣ duy, tiến hành sử dụng các thao tác tƣ duy không chỉ để học tập mà còn để nhận thức thế giới hiện thực. GQVĐ chỉ ra đƣợc mối quan hệ qua lại giữa các khái niệm Toán học, mối liên hệ giữa Toán học với thực tiễn. Khi giải quyết một vấn đề nào đó, HS phải dựa vào vốn hiểu biết và kinh nghiệm đã tích lũy đƣợc và tiến hành suy luận để tìm câu trả lời.
Cũng nhờ suy luận, HS có thể nảy sinh ý tƣởng mới. GQVĐ cho phép HS luyện tập tƣ duy. Tƣ duy và GQVĐ có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tƣ duy để GQVĐ, thông qua GQVĐ để phát triển tƣ duy.
Trong DH Toán, dạy GQVĐ tức là dạy tƣ duy cho HS. Vai trò của hoạt động phát hiện và giải quyết vấn đề trong môn Toán HĐ phát hiện và GQVĐ trong môn Toán là những HĐ diễn ra khi HS đứng trƣớc những tình huống gợi vấn đề mang tính Toán học cần phải giải quyết, phải tìm tòi để phát hiện ra vấn đề và sáng tạo để giải quyết những vấn đề đó: tự rút ra công thức, tự chứng minh định lý, tìm cách ghi nhớ tích cực những vấn đề cần lĩnh hội; tự tìm ra cách giải hay và gọn về những bài toán lý thuyết hay thực hành,… Kết quả là HS chiếm lĩnh đƣợc tri thức và học đƣợc cách tự khám phá. Chúng tôi quan niệm HĐ phát hiện và GQVĐ trong Toán học liên quan đến: các HĐ của HS nhằm phát hiện ra trong tình huống - bài toán những yếu tố Toán học cùng các mối quan hệ giữa chúng; tìm thấy hƣớng giải quyết bài toán - huy động vốn KT và kĩ năng đã có tiến hành thực hiện các HĐ Toán học (tính toán, biến đổi, suy luận…) để đi đến lời giải bài toán, thực hiện đƣợc yêu cầu của bài toán. Nhƣ vậy, HĐ phát hiện và GQVĐ trong DH Toán bao gồm: + Phát huy, huy động KT và phƣơng pháp đã biết liên quan tới nội dung những vấn đề cụ thể trong học Toán; 10 + Phát hiện hƣớng giải quyết và tiến hành giải quyết những vấn đề Toán học một cách có kết quả; + Vận dụng trong những tình huống học Toán tƣơng tự, đặc biệt và khái quát.
Có thể xem HĐ phát hiện và GQVĐ trong học Toán gồm hai HĐ chính sau: * Phát hiện vấn đề trong học Toán + Phát hiện các vấn đề trong tình huống học Toán (xây dựng kinh nghiệm, quy tắc, công thức, xác định tính chất; chứng minh định lý; giải bài toán); + Phát hiện cấu trúc của bài toán, vấn đề: điều gì đã có, đƣợc sử dụng; điều gì cần phải tìm, phải xác định; + Phát hiện đƣờng lối của bài toán, vấn đề; + Phát hiện sai lầm, nhƣợc điểm trong lời giải. * GQVĐ trong học Toán + Định nghĩa khái niệm, phát biểu định lý; + Tiến hành các phép tính toán, suy luận chứng minh; + Trình bày lời giải bài toán; + Sửa chữa sai lầm, chính xác hoá cách giải quyết. Đồng thời, ranh giới giữa HĐ phát hiện và GQVĐ trong HĐ nhận thức chỉ là tƣơng đối. Trong phát hiện lại có GQVĐ, để GQVĐ lại cần phát hiện, cứ tiếp tục phát triển nhƣ vậy sẽ nâng cao phát triển HĐ nhận thức.
Song ở mỗi cần “phát hiện” trƣớc rồi mới “giải quyết” sau và HĐ Toán học của HS là sự tổng hoà giữa các HĐ phát hiện và HĐ giải quyết, chúng luôn đan xen và tác động tƣơng hỗ lẫn nhau trong quá trình tìm tòi và xác minh KT, hình thành kĩ năng và phƣơng pháp Toán học. Khi vận dụng các phƣơng pháp DH, để tạo điều kiện cho HS phát hiện và GQVĐ trong môn Toán, ta có thể khai thác những khía cạnh sau: - Có ba con đƣờng để hình thành khái niệm, đó là con đƣờng quy nạp, con đƣờng suy diễn và con đƣờng kiến thiết. Nói chung, cần sử dụng cả ba con đƣờng này trong quá trình hình thành khái niệm cho HS. - Có hai con đƣờng để tiếp cận định lý là suy diễn và suy đoán.
- Trong dạy giải bài tập Toán có thể hình thành và rèn luyện cho HS các thao tác tƣ duy cơ bản, đặc biệt là các thao tác tƣơng tự hóa, đặc biệt hóa, khái quát hóa, phân tích tổng hợp… Khi DH Toán theo hƣớng phát hiện và GQVĐ, cần vận dụng quan điểm DH Toán là DH các HĐ Toán học. Theo Đào Tam [56, tr.23], trong DH tích cực, HS tự kiến tạo tri thức cho mình thông qua HĐ với môi trƣờng có dụng ý sƣ phạm mà GV tạo ra. 11 Trên cơ sở xác định vốn tri thức và kinh nghiệm đã có của HS, GV tạo ra tình huống học tập vừa sức: có thể nhằm mục đích đồng hóa (làm cho KT sâu sắc hơn, kĩ năng nhiều hơn), hoặc cho HS kiến tạo tri thức mới (qua điều ứng). Tình huống học tập phải phát huy tối đa khả năng suy nghĩ của HS, bằng nỗ lực của bản thân tìm ra hƣớng GQVĐ.
Dự đoán của HS có thể đúng, có thể sai tùy vào mức độ của bài toán và năng lực của HS. Dựa vào tình huống cụ thể, GV có thể trợ giúp và định hƣớng cho HS để nâng cao dần khả năng dự đoán chính xác cũng nhƣ thái độ làm việc độc lập của HS. Tất nhiên, qua một vài tình huống “lạ lẫm” ban đầu (khi HS chƣa có thói quen làm việc tích cực, còn thụ động trong việc lĩnh hội tri thức), GV có thể phân tích cả khâu dự đoán chẳng hạn nhƣ: - Từ những điều đã cho ta có thể nghĩ đến… - Trong các trƣờng hợp riêng ta có khẳng định… liệu có kết luận cho bài toán tổng quát hay không? - KT nào có thể giúp ta giải quyết bài toán…? - Trong sơ đồ, “dự đoán” là việc làm của HS trong quá trình giải quyết nhiệm vụ học tập chứ không phải lúc nào cũng “thầy làm thay trò”. Dự đoán theo đúng nghĩa của nó có vai trò rất quan trọng trong tất cả các pha DH Toán: DH khái niệm; dạy định lý; dạy quy tắc, phƣơng pháp và DH giải bài tập Toán.Polya đánh giá, trong số những HĐ trí tuệ trong giải Toán, dự đoán chiếm một vị trí trung tâm.
Ngay sau khi đã đọc kỹ đề bài toán, ngƣời giải cố gắng dự đoán phạm vi đi tìm lời giải, phạm vi này có thể còn mơ hồ, thậm chí có thể còn phần nào không đúng. Trên cơ sở của sự dự đoán, ta có đƣợc cái toàn thể ban đầu, cái tổng hợp,… Dự đoán đƣợc hiểu theo một nghĩa rất rộng trong đó điều quan trọng nhất là đoán ra phƣơng hƣớng giải quyết bài toán. Chẳng hạn, quan sát hình thức bài toán có các con số, các ký hiệu phức tạp, GV có thể dự đoán rằng bài toán đó sẽ đƣợc giải theo con đƣờng không mẫu mực, tìm cách đánh giá chứ không phải là biến đổi theo cách thông thƣờng… Việc dự đoán đôi khi lại đóng vai trò then chốt trong quá trình tìm kiếm lời giải. Mỗi nội dung KT Toán học mà HS học đƣợc đều liên hệ mật thiết với những HĐ nhất định.
Đó là những HĐ đƣợc tiến hành trong quá trình hình thành và vận dụng KT đó. Theo Nguyễn Bá Kim [29, tr.13], việc phát hiện đƣợc những HĐ tiềm tàng trong nội dung đã vạch đƣợc một con đƣờng để ngƣời học chiếm lĩnh đƣợc nội dung đó, đồng thời giúp họ cụ thể hóa đƣợc mục đích DH có đạt đƣợc hay không và đạt đến mức độ nào. Trong HĐ học Toán, mỗi vấn đề đƣợc biểu thị thành các câu hỏi, yêu cầu bài 12 toán chƣa có sẵn lời giải thích hoặc cách thực hiện [29, tr. Để giải quyết đƣợc nhiệm vụ học Toán, HS cần phải tiến hành những HĐ phát hiện và giải quyết những tình huống liên quan đến môn Toán.
Chẳng hạn, xây dựng khái niệm, hình thành quy tắc, công thức, chứng minh định lý và giải bài tập Toán. Mỗi nhiệm vụ nhận thức trong tình huống đó (dù ở cấp độ nào) cũng có cấu trúc nhƣ một bài toán, do đó có thể coi là một bài toán. Vì vậy, có thể nói rằng: vấn đề trong học Toán là bài toán (theo nghĩa rộng) mà HS chƣa biết lời giải. HĐ nhận thức của HS theo hƣớng GQVĐ (cũng giống nhƣ quá trình giải quyết bài toán, nhiệm vụ) có thể chia thành các bƣớc sau: Tìm hiểu vấn đề (dự toán vấn đề liên quan, làm rõ và giới hạn vấn đề); thực hiện việc GQVĐ; tự kiểm tra các kết quả và quá trình.
Trong đó, ở bƣớc đầu và cuối, HĐ nhận thức của HS diễn ra thƣờng đƣợc bắt đầu bởi tƣ duy trực giác, trong tình huống đòi hỏi cách tƣ duy phê phán, cách tiếp cận sáng tạo để đạt kết quả tìm tòi, xác minh vấn đề. Mặt khác ở bƣớc GQVĐ thì HĐ nhận thức lại diễn ra trong tình huống mà ở đó đòi hỏi cách tƣ duy logic. Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề trong Toán học 1. Năng lực Một số nhà nghiên cứu phƣơng Tây đã đƣa ra quan điểm về năng lực.
Chẳng hạn, theo quan điểm di truyền học, A. Binet cho rằng: Năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào tính chất bẩm sinh của di truyền gen (dẫn theo [21, tr45-52]). Các nhà nghiên cứu Xô Viết với quan điểm năng lực là những thuộc tính tâm lí cá nhân trong HĐ, đã có nhiều công trình nghiên cứu về năng lực trí tuệ, tiêu biểu là A. Chieplôv coi năng lực là những đặc điểm tâm lí cá nhân có liên quan với kết quả tốt đẹp của việc hoàn thành một HĐ nào đó.
Ông đã đề cập hai khía cạnh cơ bản liên quan đến khái niệm năng lực (dẫn theo [74, tr. Thứ nhất, năng lực là những đặc điểm tâm lí mang tính cá nhân. Mỗi cá thể khác nhau có năng lực khác nhau về cùng một lĩnh vực. Không thể nói rằng: Mọi ngƣời đều có năng lực nhƣ nhau.