phần Mở đầu và kết luận, nội dung luận án dự kiến gồm 3 chương. Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2. Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng siêu nhận thứccho học sinh trong dạy học Giải tích ở trường Trung học phổ thông. Thực nghiệm sư phạm 6 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu về siêu nhận thức 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về siêu nhận thức 1. Nghiên cứu về nguồn gốc của khái niệm siêu nhận thức Từ những năm 1690, John Locke (1632 - 1704) nhà triết học, chính trị học người Anh đã đề cập đến khả năng tự phản ánh của trẻ em trong quá trình tư duy. Tuy nhiên, cho đến năm 1960 những nghiên cứu cụ thể về quá trình tư duy được tiến hành rộng rãi và năm 1963, J.
Flavell giới thiệu ý tưởng của mình về “siêu kí ức” và tiến hành nghiên cứu đầu tiên dựa trên kí ức trẻ em. Flavell đưa ra khái niệm “siêu trí nhớ (metamemory) là khả năng quản lý và điều khiển việc đưa vào, lưu trữ, tìm kiếm và truy xuất các nội dung trong bộ nhớ riêng của mình (J. Qua đó, ông đã tạo ra một HĐnghiên cứu vô cùng sâu rộng gắn với việc nghiên cứu các khái niệm tương tự (các năng lực siêu ngôn ngữ, siêu trí nhớ, siêu động cơ. Đến năm 1976, khái niệm SNT được ông khái quát lên như là tư duy về tư duy, nhận thức về nhận thức(thinkingaboutthinking, cognition of cognition) của bản thân một con người (J.
Nói cách khác SNT là suy nghĩ của từng cá nhân về chính suy nghĩ của họ. Cùng với việc đưa ra thuật ngữ SNT, ông còn đưa ra một số thành phần và so sánh chúng với nhau. Đồng thời, ông cũng khẳng định SNTcó vai trò quan trọng trong giáo dục. Ông định nghĩa SNT như sau: SNT là kiến thức của một người liên quan đến quy trình và sản phẩm hoặc bất cứ điều gì liên quan đến nhận thức của mình [125, tr.
Với việc đưa ra thuật ngữ "SNT" và công bố những nghiên cứu đầu tiên, Flavell đã tạo ra một xu hướng nghiên cứu mới được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm hơn. Brown khẳng định rằng trẻ em cũng có thể tự đánh giá khả năng của mình trong việc nhớ lại những dữ kiện đơn giản và mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của SNT [104]. Brown đã cung cấp những ý tưởng SNT trong việc đọc và phân biệt giữa nhận thức và SNT. Nghiên cứu này đã xác định quá trình SNT là quá trình độc giả điều khiển các chiến lược bao gồm lựa chọn và nghiên cứu những phần quan trọng của văn bản, chọn ý chính, kết quả và chuẩn bị sẵn sàng cho việc kiểm tra, đánh giá [105].
Hơn nữa trong nghiên cứu này Brown còn cho rằng những gì quan tâm chính là kiến thức về nhận thức của chính mình chứ không phải là bản thân nhận thức. Bà định nghĩa SNT như những kĩ năng điều hành, góp phần dự đoán, 8 kiểm tra, giám sát, kiểm tra thực tế, phối hợp và kiểm soát các nỗ lực cố ý để tìm hiểu hoặc GQVĐ, và việc sử dụng chúng đúng lúc và đúng chỗ. Bà đã nhận định SNT và xác định một số yếu tố chính của vấn đề này: “SNT là sự linh hoạt về kiến thức và sự điều khiển quá trình nhận thức của một người [105]. Schoenfeld đã đưa ra phân tích toàn diện nhất về SNT, theo Schoenfeld (1987, 1992), SNT là suy nghĩ về suy nghĩ của chúng ta và nó bao gồm ba khía cạnh quan trọng sau đây: kiến thức về quá trình của chúng ta suy nghĩ, kiểm soát hoặc tự điều chỉnh, niềm tin và trực giác.
Trong quá trình giải quyết một vấn đề, họ phải được giám sát và theo dõi sự tiến bộ đến một giải pháp. Khi quyết định làm việc, họ nên cố gắng lựa chọn thay thế khác hoặc thực hiện một số điều chỉnh. Sau khi, có quyết định để đi đến lựa chọn thay thế mới, thực hiện công việc không cần nên bỏ đi. Luôn luôn có một nguy cơ rằng các nỗ lực cắt giảm có thể dẫn tới thành công.
Theo Franz Emanuel Weinert (1998) khái niệm SNT được hiểu là các kiến thức, kĩ năng và thái độ hiện có, cần thiết và có tác dụng hỗ trợ để đề ra những quyết định chiến lược (tiềm ẩn hay biểu lộ ra bên ngoài) trong khi học tập và tư duy khởi phát, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện theo hành động của chúng (theo [98, tr. Đầu thế kỷ XXI, John Dewey (2013) trong “How we think” (Cách ta nghĩ) đã nêu ra khái niệm “Reflective thinking” (tư duy phản tỉnh, tư duy phản thân) là “những suy tính, đắn đo, tích cực, bền bỉ và cẩn trọng đối với bất cứ niềm tin hoặc hình thức nào của tri thức dưới sự soi tỏ của những căn cứ nâng đỡ nó và những kết luận mà nó có xu hướng giải phóng”. Trên cơ sở đó Dewey cho rằng: “duy trì trạng thái hoài nghi và liên tục tra vấn một cách có hệ thống - đây chính là những thành tố cơ sở của tư duy. Một trong những tác giả có những nghiên cứu về nhận thức đó là Jean Piaget, ông nhận định: “Tri thức không phải sự sao chép hiện thực” [63].
Tất cả các học sinh (HS) cần tương tác với giáo viên (GV) và HS khác để kiểm tra tư duy của mình, để được thử thách, để nhận phản hồi và để xem người khác giải quyết vấn đề (GQVĐ) như thế nào.Piaget quan tâm đến nghiên cứu về trí tuệ, đặc biệt là tư duy của trẻ em đang ngồi trên ghế nhà trường. Theo ông, “sự phát sinh, phát triển của các chức năng trí tuệ là quá trình tổ chức sự thích nghi của cơ thể, thông qua các HĐ đồng hóa và điều ứng nhằm tạo lập các trạng thái cân bằng tạm 9 thời giữa hai quá trình này. Đó chính là quá trình hình thành và tổng hợp các sơ đồ trí tuệ của cá nhân” [65]. Ngoài ra, SNT còn được Wellman định nghĩa là: “một hình thức của nhận thức, là quá trình tư duy bậc hai hay cấp độ tư duy cao hơn, nó liên quan đến hoạt động điều khiển bên ngoài quá trình nhận thức.
Siêu nhận thức cũng có thể được hiểu là tư duy về tư duy hay nhận thức về nhận thức của một người (Wellman, 1985). Như vậy, qua nghiên cứu cho thấy trước năm 1976 những nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế giới tuy chưa đưa ra khái niệm SNT song đã đặt cơ sở cho những nghiên cứu về vấn đề này. Những nghiên cứu về SNT đã nâng những nghiên cứu về nhận thức lên một tầm cao mới khi đối tượng của nhận thức không chỉ là thế giới khách quan tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức mà giờ đây nó còn nằm bên trong chủ thể. Hay SNT là suy nghĩ về quá trình nhận thức, nó kiểm soát, chỉ đạo các thao tác tư duy của con người.
Một sốnghiên cứu về siêu nhận thức trong giáo dục Qua kết quả nghiên cứu ở phần trên có thể thấy, SNT được quan tâm nghiên cứu từ những năm 1096, tuy nhiên những nghiên cứu để vận dụng nó vào trong nhà trường được bắt đầu khá muộn. Có thể kể đến các công trình như: Schneider, Wolfgang, và Pressley, Michael (1987) nghiên cứu về quá trình học kĩ năng SNT của HS. Nghiên cứu của các tác giả dã chỉ ra rằng, khi học một kĩ năng SNT, HS thường đi qua các bước sau đây (xem [149]): i) HS thiết lập một động lực để học hỏi một quá trình SNT. Điều này xảy ra khi bản thân hoặc người nào đó mang lại cho họ lý do để tin rằng sẽ có một số lợi ích khi biết làm thế nào để áp dụng quá trình này.
ii) HS tập trung sự chú ý vào những gì về SNT hữu ích. Điều này thích hợp tập trung sự chú ý đặt các thông tin cần thiết vào bộ nhớ làm việc. Đôi khi điều này tập trung sự chú ý có thể xảy ra thông qua các mô hình, và đôi khi nó xảy ra trong kinh nghiệm cá nhân. iii) HSnói chuyện với mình về quá trình SNT, nói chuyện này có thể phát sinh trong quá trình tương tác của họ với những người khác, nhưng đó là chuyện của họ với chính họ đó là điều cần thiết.
Tự nói chuyện này phục vụ nhiều mục đích: Nó làm cho HShiểu và mã hóa quá trình; nó cho phép họ thực hành quá trình; nó cho phép họ có được thông tin phản hồi và có những điều chỉnh liên quan đến họ sử dụng hiệu quả của quá trình; nó cho phép họ chuyển quá trình với các tình huống mới ngoài những người trong đó nó đã được sử dụng. 10 iv) Cuối cùng, HS bắt đầu sử dụng quá trình này mà không hề nhận thức được rằng họ đang làm như vậy. Borkowski và Muthukrishma (1992) đã nghiên cứu và chỉ ra rằng lý thuyết SNTcó thể hỗ trợ đắc lực cho GV trong việc tạo ra môi trường lớp học mà trọng tâm ở việc học các chiến lược bao gồm cả sự linh hoạt và sáng tạo. Trong đó, ý nghĩa của việc học nằm giữa mục đích của cá nhân và kết quả đạt được, ýnghĩa đó có liên quan mật thiết với ý thức về bản thân: ý thức về ý thức, là tư duy của tư duy, là ý thức về ý đồ của mình.
Công trình cũng đã nêu lên vai trò của SNTvới việc học tập của HS. Artz và Armour-Thomas (1998) đãnghiên cứu ảnh hưởng của khả năng SNT của giáo viên đến HS sau một thời gian dạy học Toán. Sau một học kỳ quan sát bảy giáo viên Toán mới vào nghề, dựa trên quan sát, kế hoạch bài học và băng ghi hình/ghi âm của cuộc phỏng vấn có cấu trúc, họ kết luận rằng SNT của giáo viên có ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn đề của học sinh. Nói cách khác, một người giáo viên phải nắm rõ các chiến lược SNTvà có kĩ năng SNT thì mới có thể dạy học sinh của mình một cách hiệu quả[100].
Phakiti (2003) đã nghiên cứu ở hai phương diện của SNT: chiến lược lên kế hoạch và chiến lược giám sát. Chiến lược đầu tiên giúp xác định nguồn để giải quyết nhiệm vụ, thiết lập kế hoạch hoàn thành nhiệm vụ. Chiến lược thứ hai giúp nhận ra đặc điểm của nhiệm vụ, kiểm tra tiến độ, đánh giá tiến trình và dự đoán kết quả.