7 toàn văn luận án phí văn thủy

Khám phá 7 toàn văn luận án phí văn thủy, cung cấp kiến thức sâu sắc và thông tin hữu ích cho nghiên cứu và học tập trong lĩnh vực này.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

255
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu về siêu nhận thức

1.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về siêu nhận thức

1.3. Tình hình nghiên cứu về siêu nhận thức trong giáo dục ở Việt Nam

1.4. Nhận thức là gì

1.5. Bản chất của nhận thức

1.6. Đặc điểm của nhận thức

1.7. Hoạt động nhận thức

1.8. Cấp độ của quá trình nhận thức. Siêu nhận thức

1.9. Siêu nhận thức là gì

1.10. Một số mô hình của siêu nhận thức

1.11. Đặc điểm, chức năng của siêu nhận thức

1.12. Một số kết quả nghiên cứu về vai trò của siêu nhận thức trong học tập

1.13. Sự khác nhau giữa nhận thức và siêu nhận thức

1.14. Kĩ năng và kĩ năng siêu nhận thức

1.15. Kĩ năng nhận thức

1.16. Kĩ năng siêu nhận thức

1.17. Kĩ năng thành phần của kĩ năng siêu nhận thức trong học tập môn Toán

1.18. Vai trò, ý nghĩa của việc rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức

1.19. Tiêu chí hiệu quả rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức

1.20. Rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức cho học sinh trong dạy học Giải tích ở trường Trung học phổ thông

1.21. Đặc điểm của dạy học Giải tích

1.22. Cơ hội hình thành kĩ năng siêu nhận thức qua dạy học Giải tích

1.23. Các hoạt động tương thích trong dạy học Giải tích để rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức

1.24. Thực trạng rèn luyện các kĩ năng siêu nhận thức cho học sinh trong dạy học Giải tích ở trường Trung học phổ thông

1.25. Khảo sát thực trạng

1.26. Phân tích nguyên nhân của thực trạng

1.27. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP RÈN LUYỆN KĨ NĂNG SIÊU NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC GIẢI TÍCH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Định hướng xây dựng và thực hiện các biện pháp sư phạm

2.2. Một số biện pháp sư phạm nhằm rèn luyện kĩ năng siêu nhận thức cho học sinh trong dạy học Giải tích ở trường Trung học phổ thông

2.2.1. Biện pháp 1: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng lập kế hoạch trong quá trình học toán Giải tích thông qua các hoạt động liên tưởng và huy động kiến thức

2.2.2. Biện pháp 2: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng giám sát và điều chỉnh thông qua các hoạt động phân tích, phát hiện và sửa chữa sai lầm trong quá trình học toán Giải tích

2.2.3. Biện pháp 3: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng giám sát và điều chỉnh thông qua việc tạo điều kiện cho học sinh tích cực nói ra những suy nghĩ của mình liên quan đến vấn đề cần giải quyết và giải thích rõ những suy nghĩ đó

2.2.4. Biện pháp 4: Rèn luyện cho học sinh kĩ năng đánh giá quá trình nhận thức thông qua việc tập luyện cho học sinh thói quen nhìn nhận lại quá trình giải quyết vấn đề/bài toán

2.2.5. Biện pháp 5: Tổ chức dạy học nhằm để học sinh luyện tập và kiểm soát các thao tác tư duy trong hoạt động Toán học hóa các tình huống thực tiễn

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích, yêu cầu, nội dung thực nghiệm sư phạm

3.2. Nội dung thực nghiệm sư phạm

3.3. Giả thuyết thực nghiệm, cách tổ chức thực nghiệm, cách chọn đối tượng thực nghiệm

3.3.1. Giả thuyết thực nghiệm

3.3.2. Cách tổ chức thực nghiệm

3.3.3. Cách chọn đối tượng thực nghiệm

3.4. Thời gian, đối tượng, quy trình và phương pháp đánh giá thực nghiệm sư phạm

3.4.1. Thời gian thực nghiệm sư phạm

3.4.2. Đối tượng thực nghiệm sư phạm

3.4.3. Quy trình tổ chức thực nghiệm sư phạm

3.4.4. Phương pháp đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm

3.5. Tiến trình thực nghiệm sư phạm

3.5.1. Thực nghiệm sư phạm vòng 1

3.5.2. Thực nghiệm sư phạm vòng 2

3.6. Sự tương quan giữa kết quả học tập và kĩ năng siêu nhận thức

3.7. Kết luận chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức cho học sinh

Kỹ năng siêu nhận thức là khả năng tự giám sát và điều chỉnh quá trình tư duy của bản thân. Việc rèn luyện kỹ năng này cho học sinh không chỉ giúp các em nâng cao khả năng học tập mà còn phát triển tư duy phản biện và sáng tạo. Trong bối cảnh giáo dục hiện đại, việc trang bị cho học sinh những kỹ năng này là vô cùng cần thiết.

1.1. Kỹ năng siêu nhận thức là gì

Kỹ năng siêu nhận thức bao gồm khả năng nhận thức về quá trình tư duy của chính mình. Điều này giúp học sinh hiểu rõ hơn về cách thức học tập và giải quyết vấn đề.

1.2. Tại sao cần rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức

Rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức giúp học sinh phát triển khả năng tự học, tự điều chỉnh và nâng cao hiệu quả học tập. Điều này đặc biệt quan trọng trong môn Giải tích, nơi mà tư duy trừu tượng và logic là rất cần thiết.

II. Những thách thức trong việc rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức

Mặc dù việc rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong quá trình thực hiện. Các giáo viên và học sinh cần nhận thức rõ về những khó khăn này để có thể tìm ra giải pháp hiệu quả.

2.1. Khó khăn trong việc áp dụng phương pháp dạy học mới

Nhiều giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại, dẫn đến việc không thể rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức cho học sinh một cách hiệu quả.

2.2. Thiếu sự hỗ trợ từ gia đình và nhà trường

Sự thiếu hụt trong việc hỗ trợ từ gia đình và nhà trường có thể làm giảm động lực học tập của học sinh, từ đó ảnh hưởng đến quá trình rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức.

III. Phương pháp rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức cho học sinh

Để rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức cho học sinh, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực và sáng tạo. Những phương pháp này không chỉ giúp học sinh hiểu bài mà còn phát triển tư duy độc lập.

3.1. Phương pháp lập kế hoạch học tập

Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập chi tiết, giúp các em nhận thức rõ hơn về quá trình học của mình và điều chỉnh khi cần thiết.

3.2. Phương pháp giám sát và điều chỉnh

Học sinh cần được khuyến khích giám sát quá trình học tập của mình, từ đó phát hiện và điều chỉnh những sai sót trong tư duy và giải quyết vấn đề.

3.3. Phương pháp đánh giá quá trình nhận thức

Giáo viên có thể tổ chức các hoạt động đánh giá quá trình nhận thức của học sinh, giúp các em nhận ra điểm mạnh và điểm yếu trong tư duy của mình.

IV. Ứng dụng thực tiễn của kỹ năng siêu nhận thức trong học tập

Kỹ năng siêu nhận thức không chỉ có giá trị trong học tập mà còn trong cuộc sống hàng ngày. Việc áp dụng những kỹ năng này giúp học sinh tự tin hơn trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn.

4.1. Tăng cường khả năng giải quyết vấn đề

Học sinh có thể áp dụng kỹ năng siêu nhận thức để giải quyết các vấn đề phức tạp trong học tập và cuộc sống, từ đó nâng cao khả năng tư duy phản biện.

4.2. Phát triển tư duy sáng tạo

Kỹ năng siêu nhận thức giúp học sinh phát triển tư duy sáng tạo, từ đó có thể đưa ra những giải pháp mới mẻ và hiệu quả hơn trong học tập và công việc.

V. Kết luận về tương lai của kỹ năng siêu nhận thức trong giáo dục

Kỹ năng siêu nhận thức sẽ ngày càng trở nên quan trọng trong giáo dục hiện đại. Việc rèn luyện kỹ năng này cho học sinh không chỉ giúp các em thành công trong học tập mà còn trong cuộc sống sau này.

5.1. Xu hướng phát triển kỹ năng siêu nhận thức

Trong tương lai, việc phát triển kỹ năng siêu nhận thức sẽ trở thành một phần không thể thiếu trong chương trình giáo dục, giúp học sinh tự tin hơn trong việc học tập và giải quyết vấn đề.

5.2. Vai trò của giáo viên trong việc rèn luyện kỹ năng siêu nhận thức

Giáo viên sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và hỗ trợ học sinh phát triển kỹ năng siêu nhận thức, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và kết luận, nội dung luận án dự kiến gồm 3 chương. Cơ sở lí luận và thực tiễn Chương 2. Một số biện pháp rèn luyện kĩ năng siêu nhận thứccho học sinh trong dạy học Giải tích ở trường Trung học phổ thông. Thực nghiệm sư phạm 6 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.

Tổng quan lịch sử nghiên cứu về siêu nhận thức 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về siêu nhận thức 1. Nghiên cứu về nguồn gốc của khái niệm siêu nhận thức Từ những năm 1690, John Locke (1632 - 1704) nhà triết học, chính trị học người Anh đã đề cập đến khả năng tự phản ánh của trẻ em trong quá trình tư duy. Tuy nhiên, cho đến năm 1960 những nghiên cứu cụ thể về quá trình tư duy được tiến hành rộng rãi và năm 1963, J.

Flavell giới thiệu ý tưởng của mình về “siêu kí ức” và tiến hành nghiên cứu đầu tiên dựa trên kí ức trẻ em. Flavell đưa ra khái niệm “siêu trí nhớ (metamemory) là khả năng quản lý và điều khiển việc đưa vào, lưu trữ, tìm kiếm và truy xuất các nội dung trong bộ nhớ riêng của mình (J. Qua đó, ông đã tạo ra một HĐnghiên cứu vô cùng sâu rộng gắn với việc nghiên cứu các khái niệm tương tự (các năng lực siêu ngôn ngữ, siêu trí nhớ, siêu động cơ. Đến năm 1976, khái niệm SNT được ông khái quát lên như là tư duy về tư duy, nhận thức về nhận thức(thinkingaboutthinking, cognition of cognition) của bản thân một con người (J.

Nói cách khác SNT là suy nghĩ của từng cá nhân về chính suy nghĩ của họ. Cùng với việc đưa ra thuật ngữ SNT, ông còn đưa ra một số thành phần và so sánh chúng với nhau. Đồng thời, ông cũng khẳng định SNTcó vai trò quan trọng trong giáo dục. Ông định nghĩa SNT như sau: SNT là kiến thức của một người liên quan đến quy trình và sản phẩm hoặc bất cứ điều gì liên quan đến nhận thức của mình [125, tr.

Với việc đưa ra thuật ngữ "SNT" và công bố những nghiên cứu đầu tiên, Flavell đã tạo ra một xu hướng nghiên cứu mới được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm hơn. Brown khẳng định rằng trẻ em cũng có thể tự đánh giá khả năng của mình trong việc nhớ lại những dữ kiện đơn giản và mới chỉ đề cập đến một vài khía cạnh của SNT [104]. Brown đã cung cấp những ý tưởng SNT trong việc đọc và phân biệt giữa nhận thức và SNT. Nghiên cứu này đã xác định quá trình SNT là quá trình độc giả điều khiển các chiến lược bao gồm lựa chọn và nghiên cứu những phần quan trọng của văn bản, chọn ý chính, kết quả và chuẩn bị sẵn sàng cho việc kiểm tra, đánh giá [105].

Hơn nữa trong nghiên cứu này Brown còn cho rằng những gì quan tâm chính là kiến thức về nhận thức của chính mình chứ không phải là bản thân nhận thức. Bà định nghĩa SNT như những kĩ năng điều hành, góp phần dự đoán, 8 kiểm tra, giám sát, kiểm tra thực tế, phối hợp và kiểm soát các nỗ lực cố ý để tìm hiểu hoặc GQVĐ, và việc sử dụng chúng đúng lúc và đúng chỗ. Bà đã nhận định SNT và xác định một số yếu tố chính của vấn đề này: “SNT là sự linh hoạt về kiến thức và sự điều khiển quá trình nhận thức của một người [105]. Schoenfeld đã đưa ra phân tích toàn diện nhất về SNT, theo Schoenfeld (1987, 1992), SNT là suy nghĩ về suy nghĩ của chúng ta và nó bao gồm ba khía cạnh quan trọng sau đây: kiến thức về quá trình của chúng ta suy nghĩ, kiểm soát hoặc tự điều chỉnh, niềm tin và trực giác.

Trong quá trình giải quyết một vấn đề, họ phải được giám sát và theo dõi sự tiến bộ đến một giải pháp. Khi quyết định làm việc, họ nên cố gắng lựa chọn thay thế khác hoặc thực hiện một số điều chỉnh. Sau khi, có quyết định để đi đến lựa chọn thay thế mới, thực hiện công việc không cần nên bỏ đi. Luôn luôn có một nguy cơ rằng các nỗ lực cắt giảm có thể dẫn tới thành công.

Theo Franz Emanuel Weinert (1998) khái niệm SNT được hiểu là các kiến thức, kĩ năng và thái độ hiện có, cần thiết và có tác dụng hỗ trợ để đề ra những quyết định chiến lược (tiềm ẩn hay biểu lộ ra bên ngoài) trong khi học tập và tư duy khởi phát, tổ chức và kiểm tra việc thực hiện theo hành động của chúng (theo [98, tr. Đầu thế kỷ XXI, John Dewey (2013) trong “How we think” (Cách ta nghĩ) đã nêu ra khái niệm “Reflective thinking” (tư duy phản tỉnh, tư duy phản thân) là “những suy tính, đắn đo, tích cực, bền bỉ và cẩn trọng đối với bất cứ niềm tin hoặc hình thức nào của tri thức dưới sự soi tỏ của những căn cứ nâng đỡ nó và những kết luận mà nó có xu hướng giải phóng”. Trên cơ sở đó Dewey cho rằng: “duy trì trạng thái hoài nghi và liên tục tra vấn một cách có hệ thống - đây chính là những thành tố cơ sở của tư duy. Một trong những tác giả có những nghiên cứu về nhận thức đó là Jean Piaget, ông nhận định: “Tri thức không phải sự sao chép hiện thực” [63].

Tất cả các học sinh (HS) cần tương tác với giáo viên (GV) và HS khác để kiểm tra tư duy của mình, để được thử thách, để nhận phản hồi và để xem người khác giải quyết vấn đề (GQVĐ) như thế nào.Piaget quan tâm đến nghiên cứu về trí tuệ, đặc biệt là tư duy của trẻ em đang ngồi trên ghế nhà trường. Theo ông, “sự phát sinh, phát triển của các chức năng trí tuệ là quá trình tổ chức sự thích nghi của cơ thể, thông qua các HĐ đồng hóa và điều ứng nhằm tạo lập các trạng thái cân bằng tạm 9 thời giữa hai quá trình này. Đó chính là quá trình hình thành và tổng hợp các sơ đồ trí tuệ của cá nhân” [65]. Ngoài ra, SNT còn được Wellman định nghĩa là: “một hình thức của nhận thức, là quá trình tư duy bậc hai hay cấp độ tư duy cao hơn, nó liên quan đến hoạt động điều khiển bên ngoài quá trình nhận thức.

Siêu nhận thức cũng có thể được hiểu là tư duy về tư duy hay nhận thức về nhận thức của một người (Wellman, 1985). Như vậy, qua nghiên cứu cho thấy trước năm 1976 những nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế giới tuy chưa đưa ra khái niệm SNT song đã đặt cơ sở cho những nghiên cứu về vấn đề này. Những nghiên cứu về SNT đã nâng những nghiên cứu về nhận thức lên một tầm cao mới khi đối tượng của nhận thức không chỉ là thế giới khách quan tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức mà giờ đây nó còn nằm bên trong chủ thể. Hay SNT là suy nghĩ về quá trình nhận thức, nó kiểm soát, chỉ đạo các thao tác tư duy của con người.

Một sốnghiên cứu về siêu nhận thức trong giáo dục Qua kết quả nghiên cứu ở phần trên có thể thấy, SNT được quan tâm nghiên cứu từ những năm 1096, tuy nhiên những nghiên cứu để vận dụng nó vào trong nhà trường được bắt đầu khá muộn. Có thể kể đến các công trình như: Schneider, Wolfgang, và Pressley, Michael (1987) nghiên cứu về quá trình học kĩ năng SNT của HS. Nghiên cứu của các tác giả dã chỉ ra rằng, khi học một kĩ năng SNT, HS thường đi qua các bước sau đây (xem [149]): i) HS thiết lập một động lực để học hỏi một quá trình SNT. Điều này xảy ra khi bản thân hoặc người nào đó mang lại cho họ lý do để tin rằng sẽ có một số lợi ích khi biết làm thế nào để áp dụng quá trình này.

ii) HS tập trung sự chú ý vào những gì về SNT hữu ích. Điều này thích hợp tập trung sự chú ý đặt các thông tin cần thiết vào bộ nhớ làm việc. Đôi khi điều này tập trung sự chú ý có thể xảy ra thông qua các mô hình, và đôi khi nó xảy ra trong kinh nghiệm cá nhân. iii) HSnói chuyện với mình về quá trình SNT, nói chuyện này có thể phát sinh trong quá trình tương tác của họ với những người khác, nhưng đó là chuyện của họ với chính họ đó là điều cần thiết.

Tự nói chuyện này phục vụ nhiều mục đích: Nó làm cho HShiểu và mã hóa quá trình; nó cho phép họ thực hành quá trình; nó cho phép họ có được thông tin phản hồi và có những điều chỉnh liên quan đến họ sử dụng hiệu quả của quá trình; nó cho phép họ chuyển quá trình với các tình huống mới ngoài những người trong đó nó đã được sử dụng. 10 iv) Cuối cùng, HS bắt đầu sử dụng quá trình này mà không hề nhận thức được rằng họ đang làm như vậy. Borkowski và Muthukrishma (1992) đã nghiên cứu và chỉ ra rằng lý thuyết SNTcó thể hỗ trợ đắc lực cho GV trong việc tạo ra môi trường lớp học mà trọng tâm ở việc học các chiến lược bao gồm cả sự linh hoạt và sáng tạo. Trong đó, ý nghĩa của việc học nằm giữa mục đích của cá nhân và kết quả đạt được, ýnghĩa đó có liên quan mật thiết với ý thức về bản thân: ý thức về ý thức, là tư duy của tư duy, là ý thức về ý đồ của mình.

Công trình cũng đã nêu lên vai trò của SNTvới việc học tập của HS. Artz và Armour-Thomas (1998) đãnghiên cứu ảnh hưởng của khả năng SNT của giáo viên đến HS sau một thời gian dạy học Toán. Sau một học kỳ quan sát bảy giáo viên Toán mới vào nghề, dựa trên quan sát, kế hoạch bài học và băng ghi hình/ghi âm của cuộc phỏng vấn có cấu trúc, họ kết luận rằng SNT của giáo viên có ảnh hưởng đến khả năng giải quyết vấn đề của học sinh. Nói cách khác, một người giáo viên phải nắm rõ các chiến lược SNTvà có kĩ năng SNT thì mới có thể dạy học sinh của mình một cách hiệu quả[100].

Phakiti (2003) đã nghiên cứu ở hai phương diện của SNT: chiến lược lên kế hoạch và chiến lược giám sát. Chiến lược đầu tiên giúp xác định nguồn để giải quyết nhiệm vụ, thiết lập kế hoạch hoàn thành nhiệm vụ. Chiến lược thứ hai giúp nhận ra đặc điểm của nhiệm vụ, kiểm tra tiến độ, đánh giá tiến trình và dự đoán kết quả.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ