Luận văn ThS Nguyễn Thành Long: Rèn luyện Kỹ năng Hợp tác cho HS Lớp 10 THPT môn Toán

Khám phá luận văn thạc sĩ về rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho học sinh lớp 10 THPT trong dạy hàm số, phương trình, bất phương trình. Nghiên cứu sâu về phương pháp giáo dục hiệu...

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

107
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Mục đích nghiên cứu

3. Đối tượng nghiên cứu

4. Nhiệm vụ nhiên cứu

5. Giả thuyết khoa học

6. Phương pháp nghiên cứu

7. Cấu trúc của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở khoa học của học hợp tác

1.2. Cơ sở tâm lý học

1.3. Cơ sở xã hội học

1.4. Cơ sở lý luận dạy học

1.5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.5.1. Nghiên cứu ở nước ngoài

1.5.2. Nghiên cứu ở Việt Nam

1.6. Tìm hiểu về chương trình giáo dục phổ thông mới

1.7. Những khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài

1.7.1. Kỹ năng học hợp tác

1.8. Thực trạng vận dụng dạy học hợp tác và việc rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho học sinh

1.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG HỌC HỢP TÁC CHO HỌC SINH LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG DẠY HỌC HÀM SỐ, PHƯƠNG TRÌNH VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH

2.1. Một số nguyên tắc xây dựng những biện pháp rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho học sinh

2.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích

2.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính kế thừa

2.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

2.1.4. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn

2.1.5. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

2.2. Các bước của hoạt động rèn luyện kỹ năng học hợp tác

2.3. Các biện pháp rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho học sinh lớp 10 trong dạy học hàm số, phương trình và bất phương trình

2.3.1. Biện pháp 1: Thiết kế bài học theo mô hình học hợp tác

2.3.2. Biện pháp 2: Xây dựng môi trường học hợp tác

2.3.3. Biện pháp 3: Thành lập nhóm học hợp tác phù hợp

2.3.4. Biện pháp 4: Tổ chức hoạt động nhóm học hợp tác hiệu quả

2.4. Mối liên hệ giữa các biện pháp

2.5. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Tổng quát quá trình thực nghiệm sư phạm

3.1.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm

3.1.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm

3.1.3. Phương pháp thực nghiệm

3.1.4. Tổ chức thực nghiệm

3.2. Thời gian thực nghiệm

3.3. Đối tượng thực nghiệm

3.4. Tổ chức thực nghiệm

3.5. Biện pháp xứ lý kết quả thực nghiệm

3.6. Đánh giá kết quả thực nghiệm

3.6.1. Đánh giá về mặt định tính

3.6.2. Đánh giá về mặt định lượng

3.7. Một số thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm

3.8. Đề xuất phương án giải quyết

3.9. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tầm Quan trọng Rèn luyện Kỹ năng Hợp tác cho Học sinh Lớp 10 THPT môn Toán

Trong bối cảnh giáo dục toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế tri thức, việc rèn luyện kỹ năng hợp tác đã trở thành một yêu cầu cấp thiết, đặc biệt đối với học sinh lớp 10 THPT môn Toán. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới năm 2018 đặc biệt nhấn mạnh việc phát triển phẩm chất và năng lực, trong đó kỹ năng giao tiếp và hợp tác được xem là một năng lực chung cốt lõi. Sự đổi mới trong phương pháp dạy học (PPDH) không chỉ nhằm truyền thụ kiến thức mà còn hướng tới việc hình thành những kỹ năng mềm cho học sinh cấp 3 thiết yếu, giúp các em chủ động, tích cực trong học tập và hội nhập xã hội.

Dạy học hợp tác môn Toán không còn là một lựa chọn mà đã trở thành xu thế tất yếu để nâng cao chất lượng giáo dục. PPDH này khuyến khích phát triển kỹ năng làm việc nhóm, tạo ra một môi trường học tập dân chủ, nơi mỗi học sinh có cơ hội thể hiện bản thân, phát triển khả năng và hình thành các kỹ năng xã hội học sinh quan trọng. Học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức một cách thụ động mà còn tham gia vào quá trình chia sẻ kiến thức Toán, thảo luận và cùng nhau giải quyết vấn đề nhóm Toán học. Điều này giúp các em nhận ra sức mạnh của sự đoàn kết, tôn trọng lợi ích tập thể và ý thức về trách nhiệm cá nhân trong thành công chung [tr 1-2].

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc tham gia tích cực vào các hoạt động nhóm môn Toán THPT mang lại nhiều lợi ích của học tập hợp tác, không chỉ nâng cao hiệu quả học tập môn Toán mà còn cải thiện khả năng giao tiếp và làm việc nhóm. Điều này khác biệt so với lối học tập cá nhân truyền thống, nơi thành công thường chỉ mang lại lợi ích cho riêng mỗi cá nhân. Việc rèn luyện kỹ năng hợp tác giúp thay đổi cách nhìn của học sinh, nhận thấy giá trị của việc hợp tác với mọi người. Do đó, việc đầu tư vào việc xây dựng và củng cố kỹ năng hợp tác cho học sinh lớp 10 THPT môn Toán là một định hướng chiến lược, góp phần tạo nên thế hệ công dân toàn diện, năng động và sáng tạo trong kỷ nguyên mới.

Đổi mới giáo dục đang là nhu cầu cấp thiết và xu thế toàn cầu, yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Phương pháp giảng dạy tích cực như dạy học hợp tác góp phần phát huy tính tích cực và khả năng tự học của học sinh, điều hết sức cần thiết ở mọi cấp học hiện nay. Nó giúp rèn luyện kỹ năng hợp tác hiệu quả, đồng thời hình thành cho học sinh khả năng tự chủ trong học tập và phát triển các kỹ năng giao tiếp xã hội cần thiết [tr 12-13].

1.1. Bản chất và ý nghĩa của kỹ năng hợp tác trong giáo dục hiện đại

Kỹ năng hợp tác được định nghĩa là khả năng phối hợp hành động có hiệu quả giữa các cá nhân, dựa trên sự tác động tích cực qua lại nhằm đạt được mục đích chung của nhóm và mục tiêu cá nhân [tr 24]. Bản chất của hợp tác nằm ở việc cùng chung sức, trợ giúp qua lại, chia sẻ nguồn lực và thông tin, đồng thời có trách nhiệm cá nhân cao. Trong giáo dục hiện đại, kỹ năng hợp tác đóng vai trò then chốt, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục Toán theo định hướng phát triển năng lực.

Dạy học hợp tác môn Toán tạo ra một môi trường học tập hợp tác dân chủ, nơi học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn rèn luyện khả năng giao tiếp, thảo luận và giải quyết vấn đề nhóm Toán học. Việc này giúp học sinh phát triển tư duy phản biện Toán học, biết lắng nghe, tiếp thu ý kiến của người khác và bảo vệ quan điểm cá nhân một cách có cơ sở. Ý nghĩa của kỹ năng hợp tác không chỉ dừng lại ở việc cải thiện kết quả học tập mà còn xây dựng nhân cách, giúp học sinh nhận thức được bản thân và người khác, từ đó hình thành các mối quan hệ xã hội tốt đẹp. Đây là một trong bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI: “Học để biết; học để làm; học để cùng chung sống; học để làm người” [tr 24]. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “Hợp tác là chung sức, trợ giúp qua lại với nhau” [24; tr 747].

1.2. Lợi ích của học tập hợp tác đối với sự phát triển toàn diện học sinh

Việc rèn luyện kỹ năng hợp tác thông qua dạy học hợp tác môn Toán mang lại nhiều lợi ích của học tập hợp tác đáng kể cho sự phát triển toàn diện của học sinh. Đối với học sinh, thành tích học tập được nâng cao nhờ quá trình học tập tích cực, chủ động và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Các em được hình thành và phát triển kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp trong học Toán, cùng với các kỹ năng xã hội học sinh khác như lắng nghe, chia sẻ, và giải quyết xung đột [tr 19]. Học sinh cũng xây dựng được những mối quan hệ thân thiện với giáo viên và bạn bè, sớm định hướng nghề nghiệp tương lai.

Đối với nhà trường, DHHT tạo nên một môi trường giáo dục dân chủ, bình đẳng, nâng cao hiệu quả giáo dục nhân cách và phẩm chất của học sinh. Nó cải thiện các mối quan hệ xã hội trong đời sống nhà trường, giúp học sinh biết cách xây dựng quan hệ thân thiện. Đối với giáo viên, phương pháp này giúp truyền thụ kiến thức hiệu quả hơn, giáo dục nhân cách qua quá trình học tập và cải thiện thái độ học tập của học sinh. Giáo viên có nhiều thời gian hơn để hướng dẫn và giám sát hoạt động học tập, giúp học sinh trở thành trung tâm của quá trình học tập [tr 19]. Nhờ đó, hiệu quả học tập môn Toán được tối ưu hóa, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài của học sinh.

II. Thách Thức Hiện Tại Hạn Chế Khi Rèn luyện Kỹ năng Hợp tác môn Toán Lớp 10

Mặc dù tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng hợp tác đã được công nhận, quá trình triển khai phương pháp này trong dạy học hợp tác môn Toán cho học sinh lớp 10 THPT môn Toán vẫn đối mặt với nhiều thách thức đáng kể. Nhiều giáo viên nhận thấy việc thiết kế nội dung và tổ chức hoạt động nhóm môn Toán THPT tốn nhiều thời gian và công sức. Thực tế cho thấy, việc tổ chức các hoạt động học hợp tác theo nhóm có thể ảnh hưởng đến tiến trình bài học, khiến giáo viên ngại đổi mới do áp lực về điểm số và thành tích [tr 2].

Khả năng giao tiếp, thảo luận và trình bày của học sinh còn hạn chế cũng là một trở ngại lớn. Một số học sinh có thái độ học tập thụ động, không tích cực tham gia, hoặc thực hiện mang tính đối phó. Tình trạng này làm giảm hiệu quả học tập môn Toán khi áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực. Điều kiện cơ sở vật chất ở nhiều trường học chưa đáp ứng kịp thời cũng là một yếu tố ảnh hưởng, đặc biệt là khi cần một môi trường học tập hợp tác linh hoạt và có không gian riêng cho từng nhóm [tr 18-19].

Hiện nay, đa số giáo viên trung học phổ thông vẫn chủ yếu sử dụng các PPDH truyền thống như thuyết trình, trực quan, vấn đáp, trong khi các phương pháp giảng dạy tích cực như dạy học theo nhóm hoặc theo dự án ít khi được sử dụng [tr 31-32]. Mục đích chính của giáo viên khi sử dụng DHHT thường là giúp học sinh tiếp thu kiến thức mới, mà ít chú trọng đến việc hình thành và rèn luyện kỹ năng hợp tác hay các kỹ năng mềm cho học sinh cấp 3 khác [tr 32]. Điều này cho thấy sự thiếu đồng bộ trong nhận thức và thực hành PPDH tại các cơ sở giáo dục.

Ngoài ra, việc chia nhóm hoạt động còn khá đơn điệu, mang tính máy móc, không tạo ra được sự phụ thuộc tích cực, khiến học sinh thường trông chờ và ỷ lại vào người khác [tr 33]. Sĩ số lớp đông cũng là một vấn đề, gây khó khăn cho giáo viên trong việc thành lập nhóm, giám sát và điều khiển hoạt động của tất cả các nhóm, dẫn đến tình trạng một số nhóm hoạt động kém hiệu quả. Những hạn chế này đòi hỏi sự thay đổi toàn diện từ nhận thức đến hành động để việc rèn luyện kỹ năng hợp tác cho học sinh lớp 10 THPT môn Toán đạt được kết quả mong muốn.

2.1. Thực trạng vận dụng dạy học hợp tác môn Toán của giáo viên

Thực trạng vận dụng dạy học hợp tác môn Toán của giáo viên (GV) hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế. Mặc dù GV đã được bồi dưỡng về đổi mới PPDH, khả năng vận dụng trong thực tế giảng dạy vẫn chưa thành thạo. Theo khảo sát, các PPDH truyền thống như thuyết trình (98,72%), trực quan (80,21%), vấn đáp (78,34%) vẫn chiếm ưu thế, trong khi dạy học hợp tác môn Toán qua phương pháp dạy học theo nhóm (11,48%) và theo dự án (5,32%) ít được sử dụng [tr 32].

Nguyên nhân là do hoạt động nhóm môn Toán THPT đòi hỏi GV mất nhiều thời gian và công sức chuẩn bị, đồng thời quá trình HS hoạt động cũng tốn thời gian trên lớp, có thể ảnh hưởng đến tiến trình bài học. Nhiều GV không thường xuyên lựa chọn hình thức học tập nhóm mà thường giao nhiệm vụ cho cả lớp hay cá nhân hoạt động. Mục đích chủ yếu của GV khi sử dụng PPDH hợp tác là giúp HS tiếp thu kiến thức mới (96,54%), luyện tập và củng cố kiến thức, kỹ năng (84,31%), nhưng việc hình thành và rèn luyện kỹ năng hợp tác khác chưa được quan tâm đúng mức [tr 32]. Sự thiếu linh hoạt trong việc tổ chức DHHT cũng làm giảm hiệu quả học tập môn Toán, bởi nếu vận dụng một cách máy móc sẽ không đạt được kết quả mong đợi.

2.2. Những khó khăn của học sinh lớp 10 THPT trong phát triển kỹ năng làm việc nhóm

Học sinh lớp 10 THPT đối mặt với nhiều khó khăn trong việc phát triển kỹ năng làm việc nhómkỹ năng hợp tác. Một bộ phận học sinh chưa được làm quen hoặc ít có cơ hội được rèn luyện kỹ năng hợp tác (90,37% HS ít được rèn luyện) [tr 34]. Các em vẫn giữ thói quen học tập thụ động, trông chờ vào giáo viên hoặc ỷ lại vào các bạn khác trong nhóm. Nhiều học sinh còn rụt rè, thiếu tự tin trong việc kỹ năng giao tiếp trong học Toán, bày tỏ quan điểm cá nhân, hoặc gặp khó khăn trong việc giải quyết vấn đề nhóm Toán học và phối hợp với thành viên khác. Điều này dẫn đến hiệu quả hoạt động nhóm không cao, đặc biệt khi các nhóm cố định xuất hiện tình trạng ỷ lại [tr 34-35].

Trong quá trình hoạt động nhóm môn Toán THPT, các học sinh khá, giỏi thường hoàn thành nhiệm vụ sớm nhưng chưa biết cách hỗ trợ học tập Toán cho các bạn gặp khó khăn. Ngược lại, những học sinh yếu hơn dễ bị động, không kịp thích nghi với môi trường học tập hợp tác. Những kỹ năng thành phần của kỹ năng hợp tác như kỹ năng phân chia công việc, kỹ năng xây dựng niềm tin, và kỹ năng giải quyết mâu thuẫn ít có cơ hội được rèn luyện, củng cố một cách hiệu quả [tr 35]. Việc thiếu các kỹ năng này làm giảm khả năng tương tác học sinh môn Toán, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng của quá trình học tập hợp tác.

III. Phương Pháp Đổi Mới Cách Thiết Kế Bài Học Rèn luyện Kỹ năng Hợp tác Hiệu Quả

Để vượt qua các thách thức và tối ưu hóa việc rèn luyện kỹ năng hợp tác cho học sinh lớp 10 THPT môn Toán, việc áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực và đổi mới trong thiết kế bài học là vô cùng quan trọng. Giáo viên cần xây dựng một giáo án môn Toán theo nhóm chi tiết, định hướng rõ ràng cho các hoạt động nhóm môn Toán THPT. Quá trình này đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng từ việc xác định mục tiêu đến lựa chọn nội dung và thiết kế các tình huống học tập cụ thể. Theo Nguyễn Văn Hồng, quá trình thiết kế tình huống học hợp tác diễn ra theo bốn bước cơ bản [8, tr. 48], đảm bảo tính hệ thống và mục đích.

Đầu tiên, mục tiêu bài học không chỉ dừng lại ở việc lĩnh hội kiến thức mà còn phải bao gồm việc phát triển kỹ năng làm việc nhóm và các kỹ năng mềm cho học sinh cấp 3 khác. Nội dung được chọn cần có khả năng khơi gợi hứng thú, đặt ra vấn đề cần sự hợp tác để giải quyết vấn đề nhóm Toán học, và có thể phân công nhiệm vụ rõ ràng trong thời gian yêu cầu. Điều này khuyến khích tương tác học sinh môn Toánchia sẻ kiến thức Toán, giúp học sinh phát triển tư duy phản biện Toán học khi đối mặt với nhiều hướng giải quyết khác nhau [tr 21].

Việc tổ chức hoạt động nhóm môn Toán THPT phải đảm bảo tính phụ thuộc tích cực giữa các thành viên, nơi thành công của cá nhân gắn liền với thành công của tập thể. Giáo viên cần khuyến khích sự tương tác mạnh mẽ giữa học sinh, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân của mỗi thành viên. Mỗi học sinh cần ý thức được rằng đóng góp của mình là quan trọng và nếu không làm tốt sẽ ảnh hưởng đến cả nhóm [tr 21-22]. Đây là Cách thức hiệu quả để rèn luyện kỹ năng hợp táckỹ năng giao tiếp trong học Toán một cách tự nhiên và bền vững. Việc thiết kế các tình huống học tập hợp tác không chỉ là vạch ra đề cương bài học, mà còn là dự kiến những khả năng xảy ra, giúp giáo viên chủ động điều chỉnh và dẫn dắt học sinh đạt được mục tiêu học tập [tr 20].

3.1. Xác định mục tiêu và lựa chọn nội dung bài học theo mô hình dạy học hợp tác

Trong việc thiết kế giáo án môn Toán theo nhóm theo mô hình dạy học hợp tác môn Toán, việc xác định mục tiêu và lựa chọn nội dung là nền tảng. Mục tiêu cần rõ ràng, không chỉ tập trung vào kiến thức mà còn hướng đến việc rèn luyện kỹ năng hợp táckỹ năng mềm cho học sinh cấp 3. Các em cần lĩnh hội kiến thức đồng thời rèn luyện kỹ năng học tập cần thiết [tr 21].

Nội dung bài học phải được lựa chọn cẩn thận để đảm bảo tính hấp dẫn và khả năng kích thích phát triển kỹ năng làm việc nhóm. Các vấn đề đưa ra cần gây hứng thú, tạo nhu cầu hợp tác để giải quyết vấn đề nhóm Toán học. Nhiệm vụ phải vừa sức, có thể phân công rõ ràng và hoàn thành trong thời gian quy định, khuyến khích chia sẻ kiến thức Toán. Đặc biệt, nội dung nên có nhiều mức độ và nhiều hướng giải quyết khác nhau, tạo điều kiện cho các cuộc tranh luận và phát triển tư duy phản biện Toán học [tr 21]. Việc này giúp học sinh chủ động tìm hiểu, khám phá tri thức thay vì tiếp thu thụ động, từ đó nâng cao hiệu quả học tập môn Toán.

3.2. Hoạt động nhóm môn Toán THPT Hướng dẫn tổ chức và điều khiển hiệu quả

Để tổ chức hoạt động nhóm môn Toán THPT hiệu quả, giáo viên cần tuân thủ các nguyên tắc nhất định. Đầu tiên, cần đảm bảo tính phụ thuộc tích cực giữa các thành viên trong nhóm, giúp học sinh nhận ra lợi ích cá nhân gắn liền với lợi ích tập thể. Mỗi học sinh có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ cá nhân và sẵn sàng hỗ trợ học tập Toán cho bạn bè [tr 21-22].

Thứ hai, tăng cường tính tương tác học sinh môn Toán thông qua trao đổi tích cực giữa các thành viên. Quá trình này kích thích kỹ năng giao tiếp trong học Toánkỹ năng xã hội học sinh cần thiết. Thứ ba, giáo viên phải khiến học sinh ý thức được trách nhiệm cá nhân, tránh tình trạng ỷ lại. Tất cả thành viên phải đóng góp công sức vào công việc chung [tr 22].

Cuối cùng, việc rèn luyện kỹ năng hợp tác đòi hỏi giáo viên phải đánh giá hoạt động nhóm ngay sau khi kết thúc. Đánh giá không chỉ về kết quả mà còn về quá trình làm việc, giúp học sinh tự nhận ra những hạn chế và rút kinh nghiệm. Giáo viên có thể đưa ra những câu hỏi phụ, hướng dẫn kịp thời để quá trình hoạt động diễn ra suôn sẻ, đảm bảo xây dựng một môi trường học tập hợp tác tích cực.

IV. Yếu Tố Nền Tảng Xây Dựng Môi Trường Học Tập Hợp Tác và Đánh Giá

Việc rèn luyện kỹ năng hợp tác cho học sinh lớp 10 THPT môn Toán đòi hỏi một nền tảng vững chắc, bao gồm việc xây dựng một môi trường học tập hợp tác thuận lợi và hệ thống đánh giá khách quan, toàn diện. Môi trường học tập hợp tác cần được thiết kế để khuyến khích sự tương tác, chia sẻ kiến thức Toánhỗ trợ học tập Toán giữa các học sinh. Điều này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả học tập môn Toán mà còn fosters phát triển kỹ năng làm việc nhóm và các kỹ năng mềm cho học sinh cấp 3 khác [tr 22-23].

Đối với học sinh, điều kiện tiên quyết là mọi thành viên phải ý thức được bản thân là một phần của nhóm và phụ thuộc lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung. Các em cần tích cực trao đổi ý tưởng, tài liệu học tập, nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ và giúp đỡ lẫn nhau. Việc tự đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động nhóm môn Toán THPT giúp các em nhận ra lợi ích cá nhân khi hợp tác và những hạn chế cần khắc phục [tr 22]. Điều này tạo nền tảng vững chắc cho sự tương tác học sinh môn Toán có chất lượng.

Đối với giáo viên, cần được bồi dưỡng thường xuyên về phương pháp giảng dạy tích cực, trong đó có dạy học hợp tác môn Toán. Nâng cao nhận thức về ý nghĩa của rèn luyện kỹ năng hợp tác trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh là cần thiết. Giáo viên cần chủ động lựa chọn nội dung phù hợp, xác định các kỹ năng hợp tác cần rèn luyện, và thiết kế tình huống cũng như cách chia nhóm linh hoạt. Việc đánh giá không chỉ kết quả chung của nhóm mà còn vai trò của từng cá nhân, rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động, là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả học tập môn Toán [tr 23].

Điều kiện cơ sở vật chất cũng đóng vai trò quan trọng. Lớp học cần đảm bảo đủ ánh sáng, không khí, bàn ghế sắp xếp thuận tiện để học sinh dễ dàng di chuyển, tạo lập nhóm và có không gian riêng để hoạt động, tránh ảnh hưởng đến các nhóm khác. Những điều kiện này là then chốt để việc rèn luyện kỹ năng hợp tác cho học sinh lớp 10 THPT môn Toán đạt được thành công bền vững.

4.1. Nguyên tắc thiết lập môi trường học tập hợp tác tích cực cho HS

Việc thiết lập một môi trường học tập hợp tác tích cực cho học sinh tuân thủ nhiều nguyên tắc quan trọng. Thứ nhất, học sinh cần nhận thấy lợi ích của các kỹ năng hợp tác và sự cần thiết của chúng trong quá trình học tập. Điều này tạo động lực cho các em kiên trì rèn luyện kỹ năng hợp tác. Học tập theo nhóm giúp học sinh chia sẻ kiến thức Toán, kinh nghiệm, và cùng nhau vượt qua khó khăn, tạo hứng thú và động lực học tập [tr 28].

Thứ hai, giáo viên cần đổi mới phương pháp đánh giá, không chỉ dựa trên kết quả bài kiểm tra mà còn đánh giá cả quá trình học tập của học sinh, ghi nhận sự cố gắng và thay đổi tích cực trong thái độ, mối quan hệ với bạn bè. Giáo viên không chỉ dạy kiến thức mà còn dạy cách học, hình thành và rèn luyện kỹ năng hợp tác [tr 28]. Thứ ba, điều kiện cơ sở vật chất cần được nâng cao. Lớp học cần được trang bị và bố trí linh hoạt để thuận tiện cho hoạt động nhóm môn Toán THPT, đặc biệt với sĩ số lớp đông, giúp giáo viên dễ dàng hướng dẫn và giám sát hoạt động của các nhóm.

4.2. Tiêu chí và phương pháp đánh giá kỹ năng giao tiếp trong học Toán và hợp tác

Kỹ năng hợp tác của học sinh được đánh giá thông qua nhiều tiêu chí, bao gồm kỹ năng tạo lập nhóm, kỹ năng giao tiếp trong học Toán, và khả năng xây dựng, duy trì không khí hoạt động nhóm tích cực. Học sinh được đánh giá ở mức yếu khi chỉ biết tạo lập nhóm cơ bản nhưng còn chậm, giao tiếp hạn chế, và không khí nhóm không sôi nổi. Các em gặp khó khăn trong việc chia sẻ kiến thức Toán và phối hợp [tr 29].

Ở mức khá, học sinh có kỹ năng tạo lập nhóm và kỹ năng giao tiếp trong học Toán tốt hơn, có khả năng truyền đạt thông tin trực tiếp, thể hiện ý tưởng và tiếp nhận quan điểm của bạn bè. Các kỹ năng tiếp nhận giúp học sinh thu nhận thông tin, từ đó đưa ra phản hồi để duy trì giao tiếp [tr 29-30].

Ở mức tốt, học sinh thành thạo kỹ năng thành lập nhóm và giao tiếp, đồng thời có khả năng xây dựng và duy trì bầu không khí tin tưởng lẫn nhau. Các em thể hiện sự cởi mở trong suy nghĩ, cảm nhận, và thông tin, bày tỏ ý muốn hợp tác thường xuyên hơn, trung thực và nỗ lực hơn. Niềm tin vào sự đóng góp chung cho sự tiến bộ của nhóm, không chỉ lợi ích cá nhân, là minh chứng cho kỹ năng hợp tác ở mức tốt [tr 30]. Phương pháp đánh giá cần linh hoạt, kết hợp định tính và định lượng để đo lường toàn diện sự tương tác học sinh môn Toánhiệu quả học tập môn Toán.

V. Kết Quả Thực Tiễn Minh Chứng Hiệu Quả Khi Rèn luyện Kỹ năng Hợp tác

Các nghiên cứu và thực nghiệm sư phạm đã cung cấp những minh chứng rõ ràng về hiệu quả học tập môn Toán khi triển khai rèn luyện kỹ năng hợp tác cho học sinh lớp 10 THPT môn Toán. Giả thuyết khoa học cho rằng, nếu các hoạt động rèn luyện kỹ năng học hợp tác được tổ chức hiệu quả, học sinh sẽ phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập; kỹ năng giao tiếp trong học Toánkỹ năng hợp tác sẽ được hình thành và rèn luyện, góp phần nâng cao hiệu quả của quá trình dạy và học [tr 3-4]. Kết quả thực nghiệm tại trường THPT Lương Tài 1 đã xác nhận giả thuyết này, cho thấy sự tiến bộ đáng kể ở nhóm thực nghiệm so với nhóm đối chứng.

Trong các bài kiểm tra, nhóm học sinh được áp dụng dạy học hợp tác môn Toán đã đạt được kết quả cao hơn, minh chứng cho sự cải thiện rõ rệt trong việc lĩnh hội kiến thức và giải quyết vấn đề nhóm Toán học, đặc biệt trong các nội dung hàm số, phương trình và bất phương trình. Việc phát triển kỹ năng làm việc nhóm không chỉ giúp học sinh hiểu sâu hơn về kiến thức mà còn tăng cường khả năng ứng dụng lý thuyết vào thực hành. Môi trường học tập hợp tác đã thúc đẩy tương tác học sinh môn Toán, giúp các em tự tin hơn trong việc bày tỏ quan điểm và chia sẻ kiến thức Toán [tr 76-80].

Đánh giá định tính cũng cho thấy những thay đổi tích cực về thái độ học tập và kỹ năng xã hội học sinh. Học sinh trở nên hứng thú, chủ động hơn, giảm tình trạng thụ động, ỷ lại. Các em học được cách lắng nghe, chấp nhận ý kiến khác biệt và cùng nhau tìm ra giải pháp tối ưu. Những thành công trong hoạt động nhóm môn Toán THPT không chỉ nâng cao thành tích cá nhân mà còn củng cố tinh thần tập thể, tạo động lực mạnh mẽ cho toàn bộ lớp học [tr 81].

Các kết quả này khẳng định vai trò quan trọng của rèn luyện kỹ năng hợp tác trong việc đổi mới giáo dục Toán và phát triển toàn diện học sinh. Đây là tiền đề để tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện các biện pháp và áp dụng rộng rãi phương pháp giảng dạy tích cực này trong các cơ sở giáo dục khác.

5.1. Ảnh hưởng của dạy học hợp tác môn Toán đến kết quả học tập của HS

Thực nghiệm sư phạm đã chứng minh rằng dạy học hợp tác môn Toán có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả học tập môn Toán của học sinh lớp 10 THPT. Thông qua các bài kiểm tra được tiến hành (ví dụ: bài kiểm tra số 1 và số 2), kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm – nhóm được áp dụng các biện pháp rèn luyện kỹ năng hợp tác – có điểm số trung bình cao hơn và sự phân bố điểm cũng tốt hơn so với nhóm đối chứng. Điều này thể hiện sự tiến bộ rõ rệt của học sinh trong việc nắm vững kiến thức các chủ đề như hàm số, phương trình và bất phương trình [tr 76-80].

Bên cạnh việc cải thiện điểm số, dạy học hợp tác môn Toán còn giúp phát triển kỹ năng làm việc nhóm và khả năng giải quyết vấn đề nhóm Toán học. Học sinh trong nhóm thực nghiệm chủ động hơn trong việc tìm kiếm thông tin, chia sẻ kiến thức Toán, và thảo luận để đưa ra phương án giải quyết tối ưu. Sự tương tác học sinh môn Toán thường xuyên đã góp phần củng cố kiến thức, khắc sâu tư duy, và phát huy khả năng tư duy phản biện Toán học của các em. Đây là minh chứng cho thấy phương pháp giảng dạy tích cực này không chỉ nâng cao kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết cho học sinh.

5.2. Bài học kinh nghiệm và đề xuất cho đổi mới giáo dục Toán THPT

Từ kết quả thực nghiệm về rèn luyện kỹ năng hợp tác cho học sinh lớp 10 THPT môn Toán, nhiều bài học kinh nghiệm quý báu đã được rút ra và các đề xuất nhằm đổi mới giáo dục Toán được đưa ra. Một trong những thuận lợi lớn là sự đồng thuận từ ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên, và học sinh đối với việc dạy học hợp tác môn Toán. Tuy nhiên, vẫn tồn tại những khó khăn như việc giáo viên còn lúng túng trong thiết kế hoạt động nhóm, học sinh chưa quen với môi trường học tập hợp tác, và sĩ số lớp đông gây khó khăn trong quản lý [tr 81].

Để khắc phục những hạn chế này, cần đề xuất các giải pháp như tăng cường bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên về phương pháp giảng dạy tích cựckỹ năng hợp tác, đặc biệt là trong việc tổ chức dự án học tập Toánhoạt động nhóm môn Toán THPT. Cần chú trọng việc hình thành và rèn luyện kỹ năng hợp tác ngay từ những cấp học dưới, giúp học sinh có nền tảng vững chắc khi lên THPT. Ngoài ra, việc cải thiện cơ sở vật chất, đầu tư vào công nghệ hỗ trợ dạy học như STEM trong dạy học Toán sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc triển khai DHHT. Việc linh hoạt kết hợp DHHT với các PPDH khác, đồng thời nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của kỹ năng mềm cho học sinh cấp 3, sẽ góp phần đáng kể vào sự thành công của công cuộc đổi mới giáo dục Toán toàn diện.

VI. Hướng Tới Tương Lai Nâng Cao Kỹ Năng Hợp Tác Cho Học Sinh Thời Đại Mới

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp 4.0, việc rèn luyện kỹ năng hợp tác cho học sinh lớp 10 THPT môn Toán không chỉ là một yêu cầu của chương trình giáo dục hiện hành mà còn là định hướng chiến lược để chuẩn bị cho học sinh một tương lai bền vững. Giáo dục thế kỷ XXI không chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức mà còn tập trung vào việc hình thành năng lực sáng tạo và kỹ năng hợp tác để chung sống với người khác [tr 9]. Phương pháp dạy học hợp tác môn Toán đã khẳng định ưu thế của mình, trở thành một trong những phương pháp giảng dạy tích cực phù hợp với yêu cầu của thời đại.

Việc liên tục phát triển kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao tiếp trong học Toánkỹ năng xã hội học sinh là chìa khóa để học sinh tự tin hòa nhập vào thị trường lao động cạnh tranh và trở thành công dân có trách nhiệm. Để làm được điều này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, giáo viên và gia đình trong việc tạo ra một môi trường học tập hợp tác xuyên suốt và nhất quán. Các dự án học tập Toán theo nhóm, các hoạt động ngoại khóa tích hợp STEM trong dạy học Toán sẽ là những sân chơi lý tưởng để học sinh củng cố và ứng dụng các kỹ năng hợp tác đã học [tr 9].

Nâng cao hiệu quả học tập môn Toán thông qua rèn luyện kỹ năng hợp tác không chỉ mang lại lợi ích về mặt học thuật mà còn trang bị cho học sinh những kỹ năng mềm cho học sinh cấp 3 thiết yếu cho cuộc sống. Các em sẽ học cách chia sẻ kiến thức Toán, hỗ trợ học tập Toán, và giải quyết vấn đề nhóm Toán học một cách hiệu quả. Đây là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực không ngừng từ cả giáo viên và học sinh. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một thế hệ học sinh không chỉ giỏi về kiến thức mà còn vững vàng về kỹ năng, sẵn sàng đối mặt và thành công trong mọi thử thách của cuộc sống [tr 36].

6.1. Phát huy tư duy phản biện Toán học và kỹ năng xã hội học sinh

Việc rèn luyện kỹ năng hợp tác thông qua dạy học hợp tác môn Toán đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy tư duy phản biện Toán họckỹ năng xã hội học sinh. Trong các hoạt động nhóm môn Toán THPT, học sinh được khuyến khích trình bày quan điểm cá nhân, lắng nghe ý kiến của bạn bè và tham gia tranh luận để giải quyết vấn đề nhóm Toán học. Quá trình này giúp các em phân tích thông tin, đánh giá các lập luận, và đưa ra quyết định có căn cứ, từ đó củng cố khả năng tư duy phản biện Toán học.

Đồng thời, sự tương tác học sinh môn Toán trong nhóm còn là cơ hội để phát triển các kỹ năng xã hội học sinh như kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, chia sẻ, và giải quyết xung đột [tr 25-26]. Học sinh học cách làm việc trong tập thể, tôn trọng sự đa dạng về quan điểm và cùng nhau hướng tới mục tiêu chung. Việc này không chỉ nâng cao hiệu quả học tập môn Toán mà còn giúp các em hình thành những phẩm chất cần thiết để trở thành công dân có trách nhiệm, biết hòa nhập và đóng góp tích cực cho cộng đồng. Môi trường học tập hợp tác thúc đẩy sự phát triển toàn diện, vượt xa khuôn khổ kiến thức sách vở.

6.2. Định hướng phát triển kỹ năng làm việc nhóm bền vững trong chương trình Toán lớp 10

Để đảm bảo phát triển kỹ năng làm việc nhóm bền vững cho học sinh lớp 10 THPT trong chương trình Toán lớp 10, cần có một định hướng rõ ràng và nhất quán. Việc này đòi hỏi sự tích hợp kỹ năng hợp tác vào mọi khía cạnh của quá trình dạy học, không chỉ dừng lại ở các bài tập nhóm riêng lẻ. Các dự án học tập Toán quy mô lớn hơn, cùng với việc lồng ghép STEM trong dạy học Toán, sẽ cung cấp cơ hội để học sinh áp dụng và củng cố kỹ năng làm việc nhóm một cách toàn diện và thực tế hơn [tr 36].

Giáo viên cần được hỗ trợ liên tục thông qua các chương trình tập huấn về phương pháp giảng dạy tích cực và cách xây dựng giáo án môn Toán theo nhóm phù hợp với yêu cầu của đổi mới giáo dục Toán. Cần có cơ chế đánh giá linh hoạt, không chỉ đo lường kết quả học tập mà còn cả quá trình rèn luyện kỹ năng hợp táckỹ năng mềm cho học sinh cấp 3. Việc khuyến khích chia sẻ kiến thức Toán và tạo điều kiện cho tương tác học sinh môn Toán thường xuyên sẽ xây dựng một nền văn hóa học tập hợp tác mạnh mẽ, giúp học sinh phát triển toàn diện và sẵn sàng cho những thách thức trong tương lai.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông trong dạy học hàm số phương trình và bất phương trình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở khoa học của học hợp tác 1. Cơ sở tâm lý học Về đặc điểm tâm lý học lứa tuổi thì HS trung học phổ thông là lứa tuổi thanh niên. Các em đã gần trưởng thành, cơ thể có sự phát triển hài hòa, không có nhiều biến động và mâu thuẫn như lứa tuổi HS trung học cơ sở nhưng các em vẫn chưa đạt sự trưởng thành về mặt xã hội.

Ở lứa tuổi thanh niên HS, các em đã có những trưởng thành về mặt tâm lý. Các em đã có khả năng tự ý thức và đánh giá bản thân mình, ý thức về tính người lớn của các em ngày càng phát triển, các em có nhu cầu được tôn trọng và được đối xử bình đẳng, sẵn sàng chứng tỏ bản thân và mong muốn được mọi người công nhận. Phạm vi giao tiếp của HS trung học phổ thông ngày càng được mở rộng, tính độc lập trong giao tiếp với người lớn ngày càng tăng, GV có cách nhìn khác so với khi các em còn ở trường trung học cơ sở. HS trung học phổ thông có thể tự quản lý thời khóa biểu, quản lý sinh hoạt hàng ngày, tự học tập nghiên cứu và có những đánh giá về các vấn đề liên quan đến học tập mà không còn quá phụ thuộc vào thầy cô giáo.

Các mối quan hệ giữa HS với các bạn học khác và với GV có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình hình thành, phát triển trí tuệ và nhân cách của HS. Tác giả Lê Văn Hồng cho rằng công tác giáo dục phải tạo điều kiện cho HS giao tiếp với nhau, từ đó giúp các em nhận thức được bản thân mình và người khác, đồng thời qua đó phát triển một số kỹ năng như kỹ năng so sánh, phân tích khái quát hành vi của bạn và của bản thân. Cơ sở xã hội học Trong cuộc sống, không cá nhân nào tồn tại một cách hoàn toàn độc lập. Các mối quan hệ xã hội của người học với gia đình, với bạn bè, với thầy cô và 5 download by : skknchat@gmail.com những mối quan hệ xã hội khác tạo nên một mạng lưới thông tin đa dạng và phức tạp.

Theo tác giả Thái Duy Tuyên, hợp tác đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống con người, nó quyết định sự thành bại của mỗi cá nhân trong xã hội. Ông cũng cho rằng cần rèn luyện cho HS các kỹ năng hợp tác từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, cần chú trọng việc dạy kỹ năng hợp tác như việc dạy kiến thức và kỹ năng cơ bản khác.[23] DHHT là một PPDH mang tính cộng đồng cao, trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của mối quan hệ giữa những người học với nhau. Sự hợp tác và kết hợp ý tưởng, trí tuệ của nhiều người tạo nên sức mạnh tập thể. Trong quá trình học tập và nghiên cứu, những kiến thức mà mỗi người học thu được không phải chỉ là kết quả hoạt động của riêng cá nhân người học mà còn gồm những điều người học rút ra thông qua quá trình tiếp xúc, trao đổi ý kiến, cùng phối hợp giải quyết vấn đề hay tranh luận phản biện.

Cơ sở lý luận dạy học Dạy học theo hướng lấy người học làm trung tâm là một trong những tư tưởng quan trọng trong quá trình đổi mới PPDH ở các nhà trường hiện nay. Để giúp cho người học trở thành trung tâm của quá trình học tập thì cần phát huy tinh thần dân chủ trong quá trình dạy và học. Người học cần hiểu rõ mục đích và nhiệm vụ học tập của mình để tự giác cố gắng hoàn thiện bản thân, trở thành con ngoan trò giỏi, vững vàng về tư tưởng, đạo đức, phấn đấu vì ngày mai lập nghiệp. Để quá trình dạy và học diễn ra một cách dân chủ thì bản thân người học phải chủ động, tích cực hoàn thành những kế hoạch học tập, nỗ lực vượt qua khó khăn.

Đồng thời GV cần hình thành và rèn luyện cho HS khả năng độc lập suy nghĩ, không quá phụ thuộc vào thầy cô, chủ động nghiên cứu tài liệu, tiếp thu tri thức một cách có chọn lọc, những vấn đề còn gặp khó khăn có thể mang ra cùng trao đổi, thảo luận. Quá trình trao đổi, tiếp xúc hàng ngày giúp xây dựng nên mối quan hệ thân thiết, gắn bó giữa giữa thầy với trò và giữa các trò với nhau. 6 download by : skknchat@gmail.com Các mối quan hệ trong nhà trường sẽ trở nên tốt đẹp hơn khi người thầy có niềm tin ở HS, tin vào những phẩm chất và năng khiếu riêng biệt của mỗi HS, tôn trọng những suy nghĩ, ý kiến cá nhân của HS, biết nắm bắt tâm lý của HS để giúp đỡ HS giải quyết những vấn đề khó khăn, từ đó giúp động viên tinh thần học tập của HS. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.

Nghiên cứu ở nước ngoài Từ thế kỷ XVIII, các nhà giáo dục ở các nước tư bản phương Tây đã có những nghiên cứu về DHHT. Đối lập với phong cách học tập mang tính cá nhân và cạnh tranh theo kiểu truyền thống, các nhà giáo dục thời kì này đã đưa ra các lý thuyết về dạy DHHT. Theo đó DHHT là một mô hình dạy học mang mang tính xã hội mà ở đó HS cùng nhau chia sẻ nhiệm vụ và thành quả học tập, cùng nghiên cứu và giúp đỡ lẫn nhau, nhận ra niềm vui từ quá trình làm việc tập thể khiến việc học không còn nhàm chán. Ở nước Anh, Joseph Lancaster và Andrew Bell đã tiến hành nghiên cứu và tổ chức thực nghiệm DHHT.

Những nghiên cứu cho thấy mô hình DHHT giúp thúc đẩy người học học tập, nâng cao hiệu quả dạy học và mô hình DHHT được triển khai ngày càng rộng rãi. John Dewey đã viết cuốn sách có tựa đề “Democracy and Education” (Nền dân chủ và giáo dục), trong đó ông đã chỉ ra rằng con người có thói quen sống theo cộng đồng, hợp tác với nhau để cùng giải quyết các vấn đề khó khăn. Lớp học phải phản ánh được thực tế xã hội và HS cần được dạy sống hợp tác ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. HS được học các nguyên tắc dân chủ thông qua những hành động như: tự lựa chọn thời khóa biểu, chọn cách học phù hợp với bản thân, tự chuẩn bị cho quá trình học tập nghiên cứu,… Trong tác phẩm “Sự làm việc đồng đội”, Albert Bandura nghiên cứu về những năng lực của người học.

Theo ông thì khi người học cùng nhau học tập, hoạt động hướng tới mục tiêu chung thì các cá nhân người học có sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau, thúc đẩy mỗi các nhân tích cực hoạt động hướng tới mục tiêu 7 download by : skknchat@gmail.com học tập. Quá trình cùng nhau học tập cũng sẽ làm xuất hiện những mâu thuẫn giữa các cá nhân người học và giữa các nhóm người học với nhau. Những mâu thuẫn này được Jean Piaget nhắc đến trong nghiên cứu “Sự giải quyết mâu thuẫn”. Theo đó ông cho rằng những nhóm HS có quan điểm đối lập với nhau về cách giải quyết vấn đề khi cùng nhau hoạt động, tranh luận phản biện rồi dẫn tới thống nhất câu trả lời chung thì có thể tìm ra phương án giải quyết vấn đề một cách đúng đắn và sẽ tự nhận ra những thiếu sót, sai lầm của cá nhân.

Carl Ransom Rogers là một nhà tâm lý học người Mỹ và là một trong số những người sáng lập nên thuyết tiếp cận nhân văn trong tâm lý học, tập trung vào việc hiểu biết nhân cách và mối quan hệ giữa con người với con người. Đến những năm 1960, ông đã ứng dụng những học thuyết nghiên cứu của mình vào giáo dục với chiến lược lấy HS làm trung tâm. Những hoạt động học tập được thiết kế với mục đích nhằm tạo ra một môi trường học mang tính hợp tác, thuận lợi cho việc học tập của HS. GV cần tổ chức một môi trường học tập thoải mái, thuận lợi cho việc trao đổi giữa HS với nhau và với GV.

HS có thể lựa chọn phương pháp giải quyết vấn đề phù hợp với năng lực của mình, học cách lắng nghe và trao đổi với nhau về các vấn đề. GV cần lắng nghe và tôn trọng những ý kiến của HS, tất cả những ý kiến mâu thuẫn đối lập đều góp phần xây dựng bài học, tạo cơ hội để HS có thể nói lên được quan điểm cá nhân hay những điều họ đang suy nghĩ. Lý thuyết của Carl Ransom Rogers tập trung vào mối quan hệ giữa con người với con người thông qua sự hợp tác giữa các người học với nhau và với GV. Học thuyết “Tâm lý học văn hóa - lịch sử” của nhà tâm lý học Liên Xô Lev Semyonovich Vygotsky cho rằng chất lượng học tập của HS phụ thuộc rất nhiều vào việc thiết kế và tổ chức các hoạt động dạy học của GV.

GV cần phải xác định được trình độ hiện tại của người học và khả năng phát triển của họ để từ đó quyết định khi nào thì để người học hoạt động độc lập và khi nào thì cần sự giúp đỡ, hướng dẫn để từ đó lựa chọn những phương pháp dạy học phù hợp. 8 download by : skknchat@gmail.com Từ cuối thế kỉ XX, trật tự thế giới thay đổi và một cộng đồng mang tính toàn cầu dần hình thành. Và trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu rộng yêu cầu giáo dục phải có những thay đổi. Nền giáo dục hiện đại không chỉ tập trung chú trọng vào việc giáo dục con người mà còn cần hình thành cho người học những phẩm chất và năng lực cần thiết.

Từ đó các hoạt động ngoại khóa trong trường học được quan tâm và xuất hiện ngày càng nhiều như: các hoạt động văn nghệ thể thao chào mừng các ngày lễ lớn, các câu lạc bộ thể thao, câu lạc bộ âm nhạc mỹ thuật,… Những nghiên cứu của nhà tâm lý học chuyên nghiên cứu về giáo dục Robert Slavin đã chỉ ra rằng những HS tích cực tham gia và có thành tích tốt trong các hoạt động ngoại khóa như thể dục thể thao hay văn hóa văn nghệ thường được các bạn học khác đánh giá cao, có nhiều các mối quan hệ xã hội, các kỹ năng giao tiếp và khả năng làm việc tập thể phát triển trong khi những HS chỉ tập trung học tập, có kết quả học tập tốt lại gặp một số khó khăn về giao tiếp trong các mối quan hệ với bạn bè. Robert Slavin đã lý giải rằng những thành công trong các hoạt động tập thể mang lại lợi ích cho tất cả mọi người trong khi thành công trong học tập thường chỉ mang lại lợi ích cho riêng mỗi cá nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ