Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.Trên thế giới Nghiên cứu về đánh giá đồng đẳng có nhiều tác giả trên thế giới đã đề cập đến. Theo Piaget (1971), đánh giá đồng đẳng dựa trên triết lý học tập tích cực; Theo Cross (1981), giáo dục dành cho người lớn; Theo Vygotsky (1962) có thể được xem như là sự biểu hiện của kiến tạo xã hội trong đó bao gồm việc xây dựng các thông tin thông qua sự tương tác lẫn nhau. Theo Sluijsman, Gruwel, Van Merrrienboer và Bastiaens (2003), những đánh giá cần dựa trên sự kiến tạo, xem xét HS là một cá nhân đang hoạt động – là người chia sẻ trách nhiệm, cộng tác, những người luôn trong cuộc đối thoại với GV và nó cung cấp một sự thống nhất hơn cách tiếp cận với giáo dục.
Hai yếu tố này đóng một vai trò quan trọng trong đánh giá đồng đẳng. Đây là những tiêu chuẩn được sử dụng trong đánh giá quá trình và phản hồi mà các bạn học trao cho nhau sau khi đánh giá [26]. Theo David Boud, Ruth Cohen & Jane Sampson (2006), nhận thấy rằng học sinh dự kiến sẽ nỗ lực nhiều hơn trong học tập thông qua việc tham gia vào các hoạt động đánh giá đồng đẳng, thì có lẽ nỗ lực này cần phải được công nhận thông qua sự thay đổi tương xứng trong đánh giá. Học sinh có thể giúp đỡ lẫn nhau để hiểu được những lỗ hổng trong học tập và hiểu biết của họ và để nắm bắt được quá trình học tập tinh vi hơn.
Cuộc trò chuyện xung quanh quá trình đánh giá được tăng cường. Bằng chứng nghiên cứu chỉ ra rằng phản hồi đánh giá đồng đẳng có thể được sử dụng rất hiệu quả trong việc phát triển kỹ năng viết của sinh viên. Học sinh tham gia bình luận về công việc của người khác có thể nâng cao năng lực phán đoán và đưa ra lựa chọn trí tuệ. Học sinh nhận được phản hồi từ các bạn học của mình có thể nhận được nhiều ý tưởng hơn về công việc của họ để thúc đẩy sự phát triển và cải tiến.
8 Đánh giá đồng đẳng giúp giảm bớt sự mất cân bằng quyền lực giữa giáo viên và học sinh và có thể nâng cao vị thế của học sinh trong quá trình học tập. Trọng tâm của phản hồi đánh giá đồng đẳng có thể là quá trình, khuyến khích học sinh làm rõ, xem xét và chỉnh sửa ý tưởng của họ. - Có thể đưa ra phản hồi ngay lập tức, vì vậy việc học tập có thể được tăng cường. Các quy trình đánh giá đồng đẳng có thể giúp học sinh học cách nhận và đưa ra phản hồi, một phần quan trọng của hầu hết các bối cảnh công việc [27].
Tác giả cũng đưa ra nhận định về những lợi ích mà đánh giá đồng đẳng mang lại đối với việc cải thiện thành tích học tập của học sinh: - Phản hồi của đánh giá đồng đẳng có thể khuyến khích học tập hợp tác thông qua trao đổi về những gì tạo nên công việc tốt. - Nếu khóa học muốn thúc đẩy học tập và cộng tác theo những cách khác, thì các nhiệm vụ đánh giá cần phải phù hợp với điều này. Nó là cũng quan trọng để nhận ra công việc làm thêm mà các hoạt động đánh giá đồng đẳng có thể yêu cầu từ học sinh thông qua đánh giá. Các nghiên cứu về quy trình đánh giá đồng đẳng.
Falchikov và Goldfinch (2000) nhấn mạnh rằng, các mức độ của tiêu chí cần được thiết kế tốt để đạt được kết quả nhất quán và hiệu quả cáo trong đánh giá đồng đẳng. Các tác giả cũng đề xuất quy trình rèn luyện đánh giá đồng đẳng gồm: - Xác định mức độ chất lượng của sản phẩm HS sẽ được đánh giá, giải thích chúng cho HS và đưa ra đề xuất. - Cung cấp cho HS tham gia việc cải thiện và làm rõ các tiêu chí đánh giá. - Nhận xét những người tham gia và điều chỉnh các mối quan hệ.
- Thực hành dạy học: đưa ví dụ và luyện tập. 9 - Qui trình đánh giá đồng đẳng và hướng dẫn qui trình. - Kiểm tra chất lượng các phản hồi của bạn. - Làm cho phản hồi có giá trị và đáng tin cậy ở môt mức độ mong muốn.
- Định giá trị đánh giá đồng đẳng và đem lại cho HS thông tin phản hồi [29]. Có thể nói đây là gợi ý cần thiết cho các GV khi muốn rèn luyện năng lực này cho HS. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ liệt kê các bước, chưa có sự giải thích và hướng dẫn cụ thể về các bước trong quy trình. Topping (2009) đã xem đánh giá đồng đẳng như là một cơ chế nhằm giúp người học xác định và kiểm tra mức độ, giá trị hoặc chất lượng của một sản phẩm hay việc thực hiện công việc của bạn học khác cùng cấp độ, có thể nói rằng các hoạt động đánh giá đồng đẳng có thể được áp dụng trong các lĩnh vực khác nhau về chương trình và đối tượng người học.
Sản phẩm khác nhau và kết quả đầu ra bao gồm các bài viết, hồ sơ học tập, bài thuyết trình, làm bài kiểm tra và các kỹ năng khác có thể được đánh giá bởi các bạn học. Vị trí của những người tham gia có thể khác nhau: những người đánh giá và người được đánh giá có thể là trong các nhóm và các cặp đôi [30]. Van Zundert, Sluijsman và Van Merrrienboer (2010) xác định, có nhiều hình thức khác nhau của đánh giá đồng đẳng chấm điểm thông qua việc nghiên cứu báo cáo của bạn học, đưa ra thông tin phản hồi về chất lượng các bài thuyết trình của các bạn cùng lớp hoặc đánh giá việc thực hiện công việc chuyên môn của bạn học; các hình thức này đã trở nên phổ biến rộng rãi trong các lĩnh vực giáo dục [31]. Các nghiên cứu trên của các tác giả đã nêu lên được vai trò, mục đích, qui trình rèn luyện ĐGĐĐ cho HS, vai trò của thông tin phản hồi và các hình thức khác nhau trong ĐGĐĐ.
Đây là những gợi ý quan trọng cho chúng tôi trong việc nghiên cứu về vấn đề này. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ nói một cách khái quát mang tính chất liệt kê, chưa có nghiên cứu nào đi sâu hướng dẫn chi tiết việc rèn luyện kĩ năng ĐGĐĐ cho HS về cả lý thuyết và thực hành. Vì lý do này, chúng 10 tôi nhận thấy cần có nghiên cứu sâu về cả lý thuyết và thực hành ĐGĐĐ cho HS trong dạy học là cần thiết. Ở Việt Nam Ở Việt Nam, các tác giả Dự án Việt Bỉ (2006) về “Dạy và học tích cực – một số phương pháp và kỹ thuật dạy học” đã đưa ra quan niệm, bản chất, cách tổ chức và những lợi ích vô cùng quan trọng của đánh giá đồng đẳng trong dạy học tích cực: - Đánh giá đồng đẳng giúp học sinh làm việc hợp tác, tự đánh giá công việc của nhau, học cách áp dụng các tiêu chí một cách khách quan.
Đánh giá đồng đẳng đòi hỏi kĩ năng giao tiếp tốt. Các em cần đưa ra phản hồi cho các bạn bên cạnh các nhận định mang tính tích cực[3]: - Đánh giá đồng đẳng cho phép học sinh tham gia nhiều hơn vào quá trình học tập và đánh giá. Đánh giá đồng đẳng không chỉ cung cấp thông tin về kết quả học sinh sau khi được đánh giá, mà còn phản ánh được năng lực của người đánh giá về sự trung thực và sáng tạo, linh hoạt, trí tưởng tượng, sự đồng cảm… Đánh giá đồng đẳng tạo thêm động lực cho các em: các em sẽ học cách để học kiến thức mới chứ không chỉ tập trung vào vấn đề điểm số cao, đánh giá đồng đẳng giúp việc học tập diễn ra ở mức sâu hơn. Cả người đánh giá và người được đánh giá đều được hưởng lợi từ việc phát triển các kĩ năng quan hệ liên nhân, trách nhiệm, tính tự chủ và khả năng giải quyết vấn đề.
Các kĩ năng xã hội cũng đồng thời được xác định và phát triển dễ dàng hơn. Bởi vì thông qua hình thức làm việc nhóm, học sinh sẽ học được cách đóng góp hiệu quả cho thành công của nhóm. Thông qua việc đánh giá tích cực và thường xuyên lẫn nhau, những lợi ích của làm việc nhóm sẽ được khai thác ở mức tối ưu. - Áp dụng đánh giá đồng đẳng là một bước quan trọng để học sinh tiến dần đến kĩ năng tự đánh giá bản thân.
Nguyễn Lâm Sung (2013) trong nghiên cứu “Quy trình đánh giá đồng đẳng trong dạy học theo góc môn Vật lý Trung học cơ sở”, tác giả đã đưa ra khái quát 11 các bước đánh giá đồng đẳng. Qua đây sẽ giúp HS tăng cường tính tích cực, tự lực, sáng tạo và sự hợp tác trong học tập theo góc [4]. Ở đây tác giả cũng chỉ mới dừng lại đánh giá đồng đẳng trong học tập theo góc, tuy nhiên việc đánh giá đồng đẳng có thể tiến hành trong suốt quá trình học tập và với nhiều phương pháp học tập khác (dạy học dự án, dạy học khám phá, dạy học giải quyết vấn đề …). Nguyễn Lâm Sung (2013) trong nghiên cứu “Xây dựng công cụ đánh giá đồng đẳng trong dạy học theo góc môn Vật lý, góp phần đánh giá năng lực học tập của HS theo hướng đánh giá quá trình”, tác giả đã đưa ra các mẫu Rubrics để HS trong cùng góc học tập (cùng phong cách học) đánh giá lẫn nhau bằng cách cho điểm ở mỗi tiêu chí [5].
Tuy vậy, tác giả chỉ mới nghiên cứu về Rubrics, nhưng công cụ dùng trong đánh giá đồng đẳng không chỉ dừng lại ở Rubrics mà còn nhiều công cụ khác như Checklist, hồ sơ học tập, dự án học tập, bài thực hành, bản báo cáo thực nghiệm… Trong Tài liệu tập huấn dạy học môn Toán THPT (2014), các tác giả đã xây dựng một số công cụ đánh giá đồng đẳng về hoạt động nhóm. Trong đó, đã chỉ ra cách thức xây dựng các công cụ để thực hiện đánh giá đồng đẳng trong dạy học như hệ số đánh giá đồng đẳng, chia điểm số…[6]. Tuy nhiên, các nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng các công cụ chấm điểm chứ chưa xây dựng được các công cụ ra lệnh trong dạy học. Các nghiên cứu về công cụ đánh giá đồng đẳng chưa nhiều, nghiên cứu chỉ mang tính chất chung chung, giới thiệu về công cụ phục vụ cho đánh giá đồng đẳng.