CHƯƠNG I. KHÁI NIỆM VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC 1.Khái niệm rào cản kỹ thuật trong thương mại Thương mại quốc tế ngày càng phát triển, không chỉ giới hạn ở thương mại hàng hóa mà còn mở rộng ra các lĩnh vực khác, đem lại lợi ích cho rất nhiều các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, do trình độ phát triển kinh tế- xã hội không đồng đều mà các biện pháp bảo hộ thuế quan và phi thuế quan ra đời nhằm bảo hộ nền sản xuất nội địa. Bởi vậy, trong thương mại quốc tế hiện nay tồn tại hai loại rào cản chính, đó là: Hàng rào thuế quan (Custom duties barriers) và hàng rào phi thuế quan (Non-tariff-Trade barriers).
Tuy nhiên hiện nay xu hướng mới xuất hiện ở nhiều quốc gia và dần trở nên phổ biến, đó là việc giảm bớt, tiến tới dần xóa bỏ hoàn toàn những rào cản thuế quan. Chính vì thế, để duy trì mục tiêu bảo vệ thị trường nội địa, nhiều quốc gia bắt đầu tăng cường sử dụng những quy định và các yêu cầu thị trường về an toàn, sức khỏe, chất lượng và các vấn đề về môi trường và xã hội. Các quy định này được gọi chung là các rào cản kỹ thuật trong thương mại. Nói cách khác, trong thương mại quốc tế, các “rào cản kỹ thuật đối với thương mại” (technical barriers to trade) thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hóa nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó.
Về nguyên tắc, nếu hàng nhập khẩu không đạt một trong các tiêu chuẩn được đưa ra đều không được nhập khẩu vào lãnh thổ nước nhập hàng. Thông thường, khi chưa gia nhập vào các tổ chức thương mại khu vực hay quốc tế, các nước thường áp dụng ba loại hàng rào nhằm bảo vệ thị trường nội địa, nhằm hạn chế sức cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài với hàng hóa trong nước: thuế quan, hạn ngạch và rảo cản kỹ thuật. Tuy nhiên, một trong những yêu cầu đối với các nước khi tham gia hội nhập, đó là phải xóa bỏ hạn ngạch, thuế xuất nhập khẩu bằng không hoặc áp dụng cùng một loại thuế suất đối với một loại hay một nhóm hàng. Do đó, hiện nay, rào cản kỹ thuật là biện pháp rất quan trọng và được LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 các nước sử dụng ngày càng nhiều.
Các tiêu chuẩn hàng hóa của mỗi nước lại được quy định khác nhau.Phân loại Rào cản kỹ thuật thuộc nhóm rào cản phi thuế quan. Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại của WTO phân biệt 3 loại biện pháp kỹ thuật sau đây: 2. Quy chuẩn kỹ thuật (technical regulations) Quy chuẩn kỹ thuật là những yêu cầu kỹ thuật có giá trị áp dụng bắt buộc đối với các doanh nghiệp. Quy chuẩn kỹ thuật bao gồm những quy định về đăc tính của sản phâm hoặc quy trình cùng các phương pháp sản xuất chế biến sản phâm có ảnh hưởng tới đặc tính của sản phẩm, gồm những yêu cầu về thuật ngữ chuyên môn, các biểu tượng, yêu cầu bao bì, kẻ ký mã hiệu hoặc nhãn mác.
Các quy định này mang tính pháp lý và bắt buộc thực hiện. Ví dụ như chủng loại sản phẩm chịu sự chi phối của các chỉ thị có liên quan đến “cách tiếp cận mới với hệ thống hài hòa kỹ thuật” yêu cầu cần phải có nhãn CE mới được phép bán trên thị trường EU. Tiêu chuẩn kỹ thuật (technical standards) Tiêu chuẩn kỹ thuật là các yêu cầu kỹ thuật được một tổ chức công nhận chấp thuận nhưng không có tính chất bắt buộc thực hiện như quy chuẩn kỹ thuật. Nói cụ thể hơn, tiêu chuẩn kỹ thuật gồm các quy tắc, hướng dẫn hoặc đặc tính của sản phẩm, các quy trình và phương pháp sản xuất sản phẩm đó.
Tiêu chuẩn kỹ thuật cũng có thể bao gồm tất cả hoặc một số các yếu tố liên quan như thuật ngữ chuyên môn, biểu tượng, yêu cầu về bao bì, mã hiệu, nhãn mác. Ví dụ một số mặt hàng rau quả xuất khẩu sang Nhật Bản phải đáp ứng các quy định của nước này về phẩm cấp, kích thước, chất lượng và độ chín.3 Quy trình đánh giá sự phù hợp của một loại hàng hóa với các quy định tiêu chuẩn kỹ thuật (conformity assessment procedure) Quy trình đánh giá sự phù hợp là các thủ tục áp dụng trực tiếp và gián tiếp nhằm mục đích xác định xem các yêu cầu có liên quan trong các quy định kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn có được thực hiện hay không. Các thủ tục thuộc quy trình đánh giá sự phù hợp gồm thủ tục về chọn mẫu, thử nghiệm và kiểm tra, đánh giá, thẩm định và đảm bảo phù hợp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.4 Các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, an toàn vệ sinh dịch tễ Các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuối cùng, các phương pháp sản xuất và chế biến, các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp nhận, những quy định và các phương pháp thống kê, thủ tục chọn mẫu và các phương pháp đánh giá rủi ro liên quan.
đều được áp dụng dựa trên các quy định cơ quan chức năng đặt ra cho sản phẩm. Mục tiêu của các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật về an toàn vệ sinh dịch tễ là nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.5 Các tiêu chuẩn về môi trường Các tiêu chuẩn này quy định các sản phẩm cần được sản xuất theo quy cách nào, được chế biến và tiêu hủy ra sao để không gây tổn hại đến môi trường. Các tiêu chuẩn về môi trường được áp dụng đặc biệt và phổ biến nhất trong giai đoạn sản xuất với mục đích nhằm hạn chế các chất thải gây ô nhiễm và lãng phí nguồn tài nguyên không tái tạo.6 Các yêu cầu về nhãn mác Các quy định thuộc loại rào cản này được quy định một cách khá chặt chẽ thông qua các văn bản và chính sách pháp luật, trong đó nhà sản xuất phải có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin về nhãn mác trên bao bì, đảm bảo đầy đủ các thông tin cơ bản nhất như tên sản phẩm, danh mục thành phần, trọng lượng, ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, bảo quản, xuất xứ, nước sản xuất, nơi bán, mã số vạch, cách sử dụng, điều kiện bảo quản.7 Phí môi trường Phí môi trường là một trong các rào cản kỹ thuật được sử dụng phổ biến hiện nay, bao gồm: phí khí thải (áp dụng đối với các chất gây ô nhiễm thoát vào không khi, nước và đất) ; phí hành chính (áp dụng đối với các quy định về chi phí dịch vụ của chính phủ nhằm bảo vệ môi trường) và phí sản phẩm (áp dụng cho các sản phẩm gây ô nhiễm, có chứa các hóa chất độc hại hoặc có một số thành phần gây kho khắn trong việc xử lý sau sử dụng).8 Nhãn sinh thái Nhằm đánh gia mức độ ảnh hưởng của sản phẩm đến môi trường trong các giai đoạn khác nhau, các quy định về nhãn sinh thái được tạo nên trên cơ sở phân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tích những đặc điểm riêng biệt về chu kỳ sống của sản phẩm trong cả một quá trình từ giai đoạn tiền sản xuất đến sau sử dụng. Mục tiêu chính của nhãn sinh thái nhằm thông báo cho người tiêu dùng về mức giá trị của sản phẩm xét trên các tiêu chí về môi trường.9 Các yêu cầu về đóng gói bao bì Đây là các quy định liên quan đến bao bì như những quy định về tái sinh, xử ký và thu gom sau quá trình sử dụng, những nguyên vật liệu dùng làm bao bì.
Các quy định được xây dựng trên cơ sở quan sát và phân tích những đặc tính tự nhiên của sản phẩm đảm bảo bao bì sản phẩm là phù hợp, đúng quy cách và không gây hại tới người sử dụng. Sơ đồ áp dụng rào cản kỹ thuật 3.Một vài đặc điểm của rào cản kỹ thuật TMQT Thứ nhất, tiêu chuẩn và các quy định trong rào cản kỹ thuật thương mại mang lại hiệu quả xã hội cao hơn so với thuế và hạn ngạch thương mại. Các rào cản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 thương mại cổ điển đó gồm các loại thuế kém hiệu quả và phân biệt đánh vào các nguồn lực kinh tế nước ngoài, đồng thời điều này cũng làm tăng chi phí đối với người tiêu dùng và người sử dụng đầu vào, phân bổ một cách không hiệu quả các nguồn lực, và bảo hộ các thế lực thị trường trong nước. Có một số tiêu chuẩn đem lại lợi ích kinh tế lớn mà nếu như xóa bỏ sẽ tạo ra một tổn thất lớn cho xã hội, chẳng hạn các tiêu chuẩn rác thải và yêu cầu sử dụng nhiên liệu hiệu quả có thể giúp làm sạch không khí hơn, yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm có thể cải thiện sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
Thứ hai, rào cản kỹ thuật tác động hai mặt tới thương mại quốc tế. Cácu qy định và tiêu chuẩn kỹ thuật một mặt đảm bảo cho thương mại (chất lượng thương mại) vì chúng ra đời từ mối quan tâm chung của cả Chính phủ và người tiêu dùng đối với vấn đề sức khỏe, an toàn và chất lượng môi trường. Nhưng mặt khác mạnh hơn, chúng có tác động cản trở thương mại quốc tế. Bởi thực tế cho thấy các nước có thể đưa ra những quy định nhằm phục vụ các mục đích khác nhau, chứ không phải mục đích bảo vệ xã hội, bảo vệ người tiêu dùng.
Thứ ba, từ đặc điểm trên, có thể thấy rằng hiện này, nếu như đối với các nước phát triển, rào cản kỹ thuật là một công cụ chính sách thương mại hữu hiệu phục vụ việc bảo vệ thị trường nội địa, thì ngược lại, rào cản kỹ thuật đang trở thành mối quan tâm, lo ngại đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Không chỉ các tiêu chuẩn trong rào cản thương mại liên quan đến chi phí mà ngay cả các thủ tục đánh giá tính tuân thủ và sự trì hoãn đi kèm cũng gây tốn kém, và đặc biệt là chi phí còn phát sinh do sự khác biệt của các tiêu chuẩn ở các thị trường xuất khẩu khác nhau và sự thay đổi tiêu chuẩn theo thời gian. Thứ tư, việc sử dụng các rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế được điều chỉnh thông qua hiệp định thương mại của WTO.