Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ RÀO CẢN GIA NHẬP NGÀNH NGÂN HÀNG 1. Cơ sở lý thuyết về rào cản gia nhập ngành 1. Khái niệm rào cản gia nhập “Rào cản gia nhập là một thuật ngữ kinh tế mô tả một nhóm các nhân tố làm cản trở hoặc ngăn chặn chủ thể mới gia nhập thị trường của một quốc gia hoặc một ngành công nghiệp như: chi phí gia nhập thị trường, những qui định, luật lệ hoặc rào cản ngăn chặn đối thủ cạnh tranh tham gia thị trường” (Adam Haya, 2022) Theo Kinh tế học: “Rào cản gia nhập là những trở ngại hoặc cản trở khiến các công ty mới khó gia nhập vào một thị trường nhất định. Chúng có thể bao gồm những thách thức về công nghệ, quy định của chính phủ, chi phí khởi động hoặc các yêu cầu về giáo dục và cấp phép” Rào cản gia nhập thị trường bao gồm những yếu tố sau: 1.
Nhãn hiệu, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp theo quy định của pháp luật 2. Rào cản về tài chính như chi phí sản xuất, vận hành, xúc tiến thương mại 3. Quyết định hành chính của cơ quan quản lý nhà nước. Các quy định về cấp phép kinh doanh, sử dụng hàng hóa, dịch vụ; các chuẩn mực nghề nghiệp.
Thuế nhập khẩu và hạn ngạch nhập khẩu. Tập quán của người tiêu dùng. Phân loại các rào cản 1. Rào cản gia nhập tự nhiên Rào cản gia nhập tự nhiên còn gọi là rào cản cấu trúc, sẽ có những đặc tính sau: Thứ nhất, tính kinh tế theo quy mô: Nếu một thị trường có quy mô kinh tế đáng kể đã được các doanh nghiệp hiện tại khai thác ở mức độ lớn, thì các doanh nghiệp mới gia nhập sẽ bị cản trở.
Thứ hai, về hiệu ứng mạng (còn gọi là hiệu ứng đám đông): Tại một thị trường đã có khách hàng nhất định trung thành tuyệt đối với sản phẩm, khi có một doanh SVTH: Võ Thị Như Tâm GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Huyền Trang 10 nghiệp mới gia nhập cũng bán sản phẩm tương tự thì khả năng lượng khách hàng đó mua sản phẩm của doanh nghiệp mới gia nhập là rất thấp. Thứ ba, chi phí nghiên cứu và phát triển cao: Trong thị trường hiện tại đã tồn tại các công ty lớn đầu tư nhiều vào nghiên cứu và phát triển. Điều này làm cho các chủ thể sắp gia nhập thị trường cho rằng các công ty đó có tiềm lực tài chính rất lớn, nên để có thể gia nhập thị trường và cạnh tranh với các công ty đó đòi hỏi doanh nghiệp mới này phải có năng lực tài chính tốt, ngang bằng hoặc lớn hơn mức chi tiêu của các công ty trước đó Thứ tư, về các khoản chi phí không thể thu hồi như: chi phí cố định & chi phí tiếp thị… dù doanh nghiệp rời khỏi thị trường thì vẫn không được hoàn lại. Rào cản gia nhập nhân tạo Rào cản gia nhập nhân tạo bao gồm một số đặc tính như sau: Thứ nhất, một công ty có thể cố tình hạ giá trong thời gian dài để buộc các đối thủ cạnh tranh rời khỏi thị trường.
Có thể mua lại cổ phần để giành được quyền kiểm soát đối thủ cạnh tranh, tuy nhiên điều này không xảy ra phổ biến. Thứ hai, khi các công ty đề ra chiến lược bán với giá thấp và sản lượng cao để những doanh nghiệp cùng ngành không thể kiếm được lợi nhuận ở mức đó. Thứ ba, các công ty uy tín lâu đời càng đầu tư mạnh vào quảng cáo thì các công ty mới thành lập trong ngành rất khó để cạnh tranh, khó tạo được niềm tin cho khách hàng vì họ đã quen dùng sản phẩm của công ty cũ. Thứ tư, các khoản chi phí chuyển đổi, là những chi phí mà khách hàng phải trả khi chuyển đổi nhà cung cấp, bao gồm chi phí mua và lắp đặt các thiết bị mới, mất thời gian chờ để thay đổi sang nhà cung cấp mới.
Nguồn gốc phát sinh rào cản thể chế 1. Nhân tố khách quan Mặt trái của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế chính là những nhân tố khách quan sinh ra các rào cản thể chế kinh tế đối với tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. SVTH: Võ Thị Như Tâm GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Huyền Trang 11 Hiện nay, đa số các quốc gia trên thế giới đều hoạt động dựa trên cơ chế thị trường hướng tới phát triển kinh tế. Cơ chế này dựa trên những nguyên tắc cơ bản là đa sở hữu, cạnh tranh tự do và lợi nhuận.
Những nguyên tắc này cũng vừa tạo động lực cho kinh tế phát triển, nhưng cũng vừa tạo ra những rào cản về thể chế kinh tế. Trong nền kinh tế hiện nay, thể chế kinh tế chịu tác động rất lớn của hội nhập quốc tế. Tiến trình cải cách hội nhập quốc tế thúc đẩy quốc gia phát triển thương mại quốc tế. Tuy nhiên, hội nhập quốc tế cũng tạo ra những rào cản kinh tế đối với các nước.
Nhân tố chủ quan Bên cạnh những nhân tố khách quan do mặt trái của hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường, rào cản thể chế kinh tế còn do các nhân tố chủ quan sinh ra. Xét về tầm quan trọng thì các nhân tố chủ quan lại có vai trò quyết định đối với rào cản thể chế kinh tế. Có nhiều yếu tố chủ quan sinh ra rào cản thể chế kinh tế như: sự tương đồng thể chế chính trị và thể chế kinh tế, tư duy và quan hệ lợi ích xuất phát chung từ lợi ích của đất nước, năng lực trình độ của bộ máy cầm quyền theo kịp yêu cầu quản lý nền kinh tế. Cơ sở lý thuyết về rào cản gia nhập ngành ngân hàng 1.
Một số khái niệm 1. Ngân hàng thương mại Theo khoản 3, điều 4, Luật Các tổ chức tín dụng 2010, NHTM là loại hình kinh doanh thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng và các hoạt động kinh doanh tài chính khác nhằm mục đích lợi nhuận.(Quốc hội, 2010) NHTM được tổ chức dưới 02 hình thức theo khoản 1 và khoản 2 điều 6 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 bao gồm hình thức công ty cổ phần và hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. NHTM là tổ chức tín dụng thu lợi nhuận dựa trên việc nhận tiền từ người gửi và cho các công ty và cá nhân vay lại. Tiến trình kinh doanh của NHTM gắn liền với các sự phát triển của các chủ thể kinh tế.
Trong quá trình đó ngành ngân hàng giữ vai SVTH: Võ Thị Như Tâm GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Huyền Trang 12 trò tham gia điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế thông qua các chức năng của mình, biểu hiện các mối quan hệ giữa NHTM với các tổ chức kinh tế cá nhân về mặt tín dụng, tiền mặt, đảm bảo hoạt động của nền kinh tế được diễn ra bình thường. Căn cứ vào khái niệm trên thì hoạt động của NHTM có thể được nhận dạng thông qua một số đặc điểm sau: Thứ nhất, NHTM là loại hình kinh doanh với mục đích thu lợi nhuận dựa trên 2 hình thức chủ yếu là dòng tiền và kinh doanh loại hình dịch vụ ngân hàng Thứ hai, NHTM là loại hình hoạt động có điều kiện, nghĩa là chỉ khi nào NHTM thoả mãn những điều kiện khắt khe do pháp luật quy định (vốn pháp định, phương án kinh doanh.) thì mới được cấp giấy phép hoạt động. Thứ ba, hoạt động NHTM là loại hình kinh doanh với độ rủi ro cao, mang tính chất dây chuyền đối với nền kinh tế. Thứ tư, nguồn vốn kinh doanh phần lớn đến từ tiền gửi của các chủ thể trong nền kinh tế.
Thứ năm, sản phẩm của ngân hàng là hình thức dịch vụ, mang hình thái phi vật chất, quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm với sự tham gia của nhiều yếu tố Thứ sáu, khách hàng là những người đóng vai trò hai mặt đối với Ngân hàng 1. Ngân hàng thương mại nước ngoài Ngân hàng nước ngoài là một loại công ty con được thành lập tại nước ngoài với 100% vốn đầu tư nước ngoài. Từ năm 2006, sau khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đã được ban hành Luật Các tổ chức tín dụng vào năm 2010 để điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực tài chính, tín dụng và ngân hàng, nhằm đảm bảo tuân thủ cam kết quốc tế. Theo đó, ngân hàng nước ngoài được xem là một chủ thể chính và phải tuân thủ các quy định của Luật.
Do đó, ngân hàng nước ngoài và các tổ chức tín dụng khác tại Việt Nam đều hoạt động tuân thủ dưới sự quản lý của pháp luật ngân hàng, chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và dưới sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Khái niệm rào cản gia nhập ngành ngân hàng SVTH: Võ Thị Như Tâm GVHD: Th.S Nguyễn Thanh Huyền Trang 13 Theo David A. Alhadeff đã viết trong cuốn sách Barriers to Bank entry: “Rào cản gia nhập ngành ngân hàng là những yếu tố làm cho việc gia nhập ngành ngân hàng vào một thị trường mới trở nên khó khăn và tốn kém hơn. Rào cản đó có thể bao gồm lợi thế cạnh tranh của các ngân hàng đã tồn tại so với ngân hàng mới, những qui định của nhà nước về ngành ngân hàng và một số khó khăn mà ngân hàng gặp phải để phát triển và tồn tại trong thị trường Việt Nam”.
Phân loại ngân hàng thương mại 1. Phân loại ngân hàng thương mại dựa vào hình thức sở hữu Ngân hàng thương mại quốc danh: Là ngân hàng được thành lập bằng vốn thuộc Ngân sách Nhà nước, đây là ngân hàng đóng vai trò trụ cột của nền kinh tế. Ví dụ: Ngân hàng TMCP VietinBank. Ngân hàng thương mại cổ phần: Là ngân hàng được thành lập dựa trên vốn góp của nhiều cổ đông.
Hệ thống ngân hàng TMCP bao gồm: ngân hàng TMCP đô thị và ngân hàng TMCP nông thôn. Ví dụ: ngân hàng TMCP SeaBank, Ngân hàng TMCP ACB, ngân hàng TMCP SacomBank, ngân hàng TMCP Techcombank. Ngân hàng liên doanh: Là ngân hàng do các bên liên doanh góp vốn, tỷ lệ đóng góp của các đối tác nước ngoài dưới 50% vốn điều lệ. Ví dụ: Ngân hàng liên doanh ShinhanVina, Ngân hàng liên doanh Indovina… Ngân hàng 100% vốn nước ngoài: Là ngân hàng được thành lập theo pháp luật Việt Nam do chủ sở hữu nước ngoài cấp 100% vốn; được cung cấp tất cả các dịch vụ ngân hàng cho thị trường Việt Nam; thời gian hoạt động không vượt quá 99 năm.
Ví dụ: ngân hàng ANZ Việt Nam, Ngân hàng HSBC Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam.