Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam 2014" do sinh viên Hồ Văn Hải (lớp PL2201K, Khoa Luật, Trường Đại học Quản lý và Công nghệ Hải Phòng) thực hiện năm 2022 dưới sự hướng dẫn của ThS. Vũ Thị Thanh Lan.
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng và môi trường đầu tiên hình thành, giáo dục nhân cách con người. Mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái là quan hệ pháp lý và đạo đức thiêng liêng, dựa trên yếu tố huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng. Trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội hiện nay, mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình đô thị hóa cùng áp lực "cơm áo gạo tiền" đã dẫn đến nhiều biến đổi tiêu cực: sự xói mòn chuẩn mực đạo đức, lối sống thực dụng, sự thờ ơ vô trách nhiệm của một bộ phận cha mẹ, tư tưởng trọng nam khinh nữ còn sót lại, và sự gia tăng của các vụ bạo hành, ngược đãi trẻ em. Việc nghiên cứu các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con là đòi hỏi cấp thiết nhằm củng cố nhận thức lý luận và đề xuất các giải pháp khắc phục bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm ba nội dung:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận, ý nghĩa và tầm quan trọng của các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con;
- Phân tích, làm rõ nội dung của các quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con theo Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam;
- Phân tích, đánh giá những bất cập còn tồn tại trong thực tiễn thực hiện đối với những quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con, qua đó đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện.
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, các văn bản quy phạm pháp luật liên quan và thực tiễn thi hành.
- Phạm vi nghiên cứu: Không gian nghiên cứu trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam (gắn liền với địa bàn thực tập tại Văn phòng Công chứng Trần Bằng); thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (từ năm 2015 đến năm 2022), có kết hợp khảo cứu lịch sử lập pháp qua các thời kỳ (1945, 1959, 1986, 2000).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng khoa học pháp lý hôn nhân gia đình, luật dân sự và hệ thống điều ước quốc tế về quyền con người, quyền trẻ em. Các khái niệm nền tảng bao gồm: "quyền", "nghĩa vụ", "quyền và nghĩa vụ nhân thân", "quyền và nghĩa vụ tài sản", "suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con", "mang thai hộ vì mục đích nhân đạo", "cấp dưỡng" và "hạn chế quyền của cha mẹ".
| Nhóm nguồn tư liệu |
Văn bản và điều ước cụ thể được trích dẫn |
| Văn bản pháp luật trong nước |
- Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001); - Luật Hôn nhân và gia đình các năm: 1959, 1986, 2000, 2014; - Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Hình sự, Luật Nuôi con nuôi 2010, Pháp lệnh Người tàn tật; - Sắc lệnh 97-SL (1950), Sắc lệnh 159-SL (1950); Thông tư 60/TATC (1978), Chỉ thị 69/TATC (1979); - Nghị định 12/2003/NĐ-CP, Nghị định 167/2013/NĐ-CP, Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP, Thông tư 02/2020/TT-TANDTC. |
| Điều ước và văn kiện quốc tế |
- Tuyên ngôn Genève về quyền trẻ em năm 1924; - Tuyên ngôn về quyền trẻ em năm 1959 (LHQ); - Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (Việt Nam phê chuẩn ngày 20/02/1990); - Quy tắc Bắc Kinh 1985; Công ước La Hay 1993/1995 về bảo vệ trẻ em và con nuôi quốc tế; - Công ước 182 của ILO (1999); Công ước CEDAW (1979); Công ước chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia (2000). |
Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp quy phạm pháp luật để làm rõ cấu trúc quyền - nghĩa vụ;
- Phương pháp so sánh luật học nhằm đối chiếu Luật Hôn nhân và gia đình 2014 với Luật năm 2000, năm 1986, năm 1959 và các văn kiện quốc tế;
- Phương pháp phân tích tình huống thực tiễn và án văn nhằm nhận diện các vướng mắc, lỗ hổng lập pháp.
Nguồn dữ liệu của đề tài bắt nguồn từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định, tài liệu án lệ, báo cáo xét xử của ngành Tòa án, số liệu thực tiễn và tư liệu ghi nhận từ các cơ quan báo chí chính thống (24h, Baomoi...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con
Chương 1 tập trung phân tích bản chất pháp lý, đặc điểm, căn cứ xác lập và tiến trình phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con.
Tác giả xác định khái niệm: Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con là tổng hợp những quy định mà pháp luật cho phép cha mẹ được hưởng, được làm, được đòi hỏi và những điều buộc cha mẹ phải làm vì lợi ích của con, bao gồm nhóm quyền - nghĩa vụ về nhân thân và nhóm quyền - nghĩa vụ về tài sản.
Chương này chỉ ra 5 đặc điểm cốt lõi của quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con:
- Căn cứ phát sinh dựa trên sự kiện đặc biệt là huyết thống hoặc nuôi dưỡng, mang tính chất lâu dài, bền vững;
- Tuân thủ nguyên tắc bình đẳng (bình đẳng giữa vợ và chồng trong nuôi dạy con; bình đẳng giữa các con, không phân biệt con đẻ, con nuôi, con trong hay ngoài giá thú, con trai hay con gái);
- Quyền và nghĩa vụ có mối quan hệ gắn bó hữu cơ, tương ứng và không thể tách rời (trong quyền có nghĩa vụ và ngược lại);
- Xuất phát từ tình cảm gia đình, không mang tính chất đền bù ngang giá và gắn liền với nhân thân không thể chuyển giao;
- Được thực hiện trực tiếp và chung giữa vợ và chồng.
Về căn cứ xác lập quan hệ cha mẹ - con, văn bản phân tích:
- Sự kiện sinh đẻ tự nhiên: Nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha mẹ con theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 (con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân, trong hạn 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt, hoặc con sinh ra trước đăng ký kết hôn được cha mẹ thừa nhận; con ngoài giá thú);
- Can thiệp y học: Kỹ thuật hỗ trợ sinh sản (thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm theo Nghị định 12/2003/NĐ-CP và Khoản 21 Điều 3 Luật HN&GĐ 2014) và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Khoản 22 Điều 3, Điều 98);
- Sự kiện nhận nuôi con nuôi: Xác lập quan hệ pháp lý cha mẹ - con theo Luật Nuôi con nuôi 2010.
Lịch sử lập pháp quốc tế được phân tích từ Tuyên ngôn Genève 1924, Tuyên ngôn 1959 đến Công ước về Quyền trẻ em 1989 (Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và nước đầu tiên ở châu Á phê chuẩn vào ngày 20/02/1990). Lịch sử lập pháp Việt Nam được phân kỳ qua 5 giai đoạn: trước Cách mạng tháng Tám (tồn tại đa thê, phụ quyền, phân biệt con trai - con gái, con giá thú - ngoài giá thú), giai đoạn 1945-1960 (Hiến pháp 1946, Sắc lệnh 97-SL, Sắc lệnh 159-SL), giai đoạn 1960-1987 (Luật HN&GĐ 1959), giai đoạn 1987-2001 (Luật HN&GĐ 1986), giai đoạn 2001-2015 (Luật HN&GĐ 2000) và từ 2015 đến nay (Luật HN&GĐ 2014).
Chương 2: Nội dung quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Chương 2 luận giải chi tiết các quy định thực định trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 theo 4 nguyên tắc định hướng: (1) Quyền gắn liền với nghĩa vụ; (2) Bình đẳng giữa các con; (3) Bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của con; (4) Quyền và nghĩa vụ được thực hiện chung, liên tục và trực tiếp.
Nội dung cụ thể được phân thành các nhóm chế định:
- Quyền và nghĩa vụ về nhân thân:
- Khai sinh, đặt họ tên, xác định dân tộc, quốc tịch, tôn giáo, nơi cư trú của con (Điều 30 Bộ luật Dân sự 2015);
- Thương yêu, trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con (Điều 69);
- Giáo dục con (Điều 72): bổ sung quy định cha mẹ phải tôn trọng quyền của con được tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội;
- Đại diện cho con (Điều 73 Luật HN&GĐ 2014, Điều 134, 137 BLDS 2015): cha mẹ là người đại diện theo pháp luật đương nhiên của con chưa thành niên; đại diện cho con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.
- Quyền và nghĩa vụ về tài sản:
- Quyền có tài sản riêng của con và quản lý, định đoạt tài sản riêng (Điều 75, 76): Xác định nguồn hình thành tài sản riêng của con (thừa kế, tặng cho, thu nhập từ lao động, hoa lợi, lợi tức và tài sản hình thành từ tài sản riêng); con từ đủ 15 tuổi trở lên có quyền tự mình quản lý hoặc nhờ cha mẹ quản lý tài sản riêng;
- Nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con gây ra (Điều 74 Luật HN&GĐ 2014 viện dẫn Điều 586, Điều 599 BLDS 2015);
- Nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng (Điều 71, Điều 107, Điều 116, Điều 119): phân định giữa nghĩa vụ nuôi dưỡng (khi sống chung) và nghĩa vụ cấp dưỡng (khi không sống chung, cha mẹ ly hôn, ly thân).
- Các trường hợp đặc thù: Quyền và nghĩa vụ của bố dượng, mẹ kế đối với con riêng của vợ/chồng; quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ chồng/vợ đối với con dâu/rể khi cùng chung sống (Điều 80 - điểm mới của Luật 2014); quyền nghĩa vụ của cha mẹ nuôi (Điều 78) và chế định hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên (Điều 85).
Chương 3: Thực tiễn thực hiện những quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con theo Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Chương 3 đánh giá thực trạng áp dụng luật trên cả hai phương diện: ưu điểm và tồn tại, đồng thời phân tích 8 nhóm bất cập pháp lý và đề xuất kiến nghị sửa đổi.
Về mặt tích cực, đại bộ phận cha mẹ đã nâng cao nhận thức, chăm lo toàn diện cho con cái về học tập, sức khỏe, kéo dài thời gian hỗ trợ con học nghề, đại học; tôn trọng quyền tự chủ nghề nghiệp của con; thực hiện thỏa thuận cấp dưỡng và trách nhiệm bồi thường khi con gây thiệt hại.
Về mặt hạn chế, tác giả dẫn chứng các bất cập xã hội nghiêm trọng:
- Áp lực mưu sinh khiến cha mẹ xao nhãng quản lý con, dẫn đến tình trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật gia tăng;
- Chênh lệch vùng miền: tỷ lệ tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi (Tây Nguyên, Tây Bắc) còn ở mức cao; định kiến trọng nam khinh nữ khiến trẻ em gái ở vùng sâu phải nghỉ học sớm;
- Bạo lực gia đình và xâm hại trẻ em: Tác giả phân tích các vụ án điển hình như vụ Nguyễn Trung Huyên (sinh năm 1992, tại Thạch Thất, Hà Nội) dùng 9 chiếc đinh găm vào sọ não bé gái Đ.A (sinh năm 2018) vào đầu năm 2022; vụ Lê Thành Công (43 tuổi, tại Bắc Từ Liêm, Hà Nội) dùng đũa gỗ và thanh tre dài 50cm đánh con gái ruột dẫn đến tử vong ngoại viện vào tháng 09/2021.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và phân định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do con gây ra căn cứ theo các nhóm độ tuổi và năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật:
| Nhóm đối tượng |
Nguồn tài sản bồi thường và trách nhiệm của cha mẹ/người giám hộ |
Căn cứ pháp lý |
| Con dưới 15 tuổi |
Cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Nếu tài sản của cha mẹ không đủ mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản của con để bù phần thiếu (trừ trường hợp trường học, bệnh viện có lỗi theo Điều 599). |
Khoản 2 Điều 586, Điều 599 BLDS 2015 |
| Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi |
Bồi thường bằng tài sản riêng của con; nếu không đủ thì cha mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của cha mẹ. |
Khoản 2 Điều 586 BLDS 2015 |
| Con từ đủ 18 tuổi trở lên |
Tự bồi thường bằng tài sản của mình (kể cả phần tài sản được trích từ khối tài sản chung gia đình do công sức đóng góp). |
Khoản 1 Điều 586 BLDS 2015 |
| Con mất NLHVDS |
Người giám hộ dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu không đủ thì người giám hộ bồi thường bằng tài sản của mình (trừ khi chứng minh không có lỗi). |
Khoản 3 Điều 586 BLDS 2015 |
Tác giả đề xuất 8 nhóm kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Tiêu chí răn dạy con: Ban hành hướng dẫn cụ thể về ranh giới giữa biện pháp giáo dục, răn dạy với các hành vi hành hạ, ngược đãi, xúc phạm con cái.
- Quyết định vấn đề quan trọng của con: Quy định thẩm quyền cho Tòa án hoặc cơ quan quản lý nhà nước về gia đình ra quyết định khi cha mẹ không thống nhất được ý kiến đối với vấn đề hệ trọng của con chưa thành niên.
- Giám định gen xác định cha con ngoài giá thú: Quy định người được xác định là cha phải chịu hoặc chia sẻ một nửa chi phí giám định ADN; xây dựng cơ chế miễn giảm chi phí giám định cho bà mẹ đơn thân có hoàn cảnh khó khăn.
- Chế tài và mức cấp dưỡng: Quy định rõ tiêu chí hành vi "trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng"; bổ sung chế tài cưỡng chế (khấu trừ thu nhập, kê biên, phong tỏa tài sản); chuẩn hóa mức cấp dưỡng tối thiểu gắn với mức lương tối thiểu vùng hoặc mức sống thực tế tại địa phương.
- Định đoạt tài sản của con mất năng lực hành vi dân sự: Bổ sung quy định cho phép cha mẹ được định đoạt tài sản riêng của con thành niên mất năng lực hành vi dân sự vì lợi ích của chính người con đó.
- Bồi thường thiệt hại: Bổ sung trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần (công khai xin lỗi) khi con chưa thành niên gây ra; quy định rõ trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuộc về bên trực tiếp nuôi dưỡng hoặc bên quản lý tài sản của con khi cha mẹ đã ly hôn.
- Hạn chế quyền của cha mẹ: Quy định Tòa án có trách nhiệm chủ động xem xét ra quyết định hạn chế quyền của cha mẹ khi xét xử các vụ án hình sự có hành vi bạo hành con; thiết lập cơ chế chuyển giao trẻ vào các cơ sở bảo trợ xã hội có điều kiện khi cả cha và mẹ đều bị hạn chế quyền mà không có người giám hộ đủ điều kiện (cha mẹ phải chịu toàn bộ chi phí).
- Tuyên truyền và giám sát: Tăng cường phổ biến pháp luật hôn nhân gia đình, nâng cao hiệu lực giám sát của các tổ chức xã hội nhằm phát hiện sớm các hành vi vi phạm.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài chủ yếu tiếp cận dưới góc độ phân tích quy phạm pháp luật thực định và nghiên cứu lý luận; các số liệu minh họa thực tiễn dựa trên các báo cáo tổng quan, vụ án xét xử điển hình trên phương tiện truyền thông và hoạt động công chứng tại địa phương, chưa thực hiện khảo sát xã hội học pháp luật quy mô lớn hoặc thống kê đầy đủ toàn bộ các bản án hôn nhân gia đình trên toàn quốc.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế phối hợp liên ngành trong việc thực thi các biện pháp khẩn cấp tạm thời bảo vệ trẻ em bị bạo lực gia đình; nghiên cứu chuyên sâu về hoàn thiện quy trình thi hành án dân sự đối với nghĩa vụ cấp dưỡng sau ly hôn.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Luật, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự trong việc nghiên cứu chế định quan hệ giữa cha mẹ và con cái;
- Cán bộ tư pháp, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư, Công chứng viên khi giải quyết các tranh chấp về quyền nuôi con, cấp dưỡng, phân chia và định đoạt tài sản của con chưa thành niên;
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan bảo vệ trẻ em trong quá trình sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật nhất nằm ở hệ thống phân định nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo độ tuổi (Điều 74 Luật HN&GĐ 2014 và Điều 586 BLDS 2015) cùng 8 nhóm giải pháp hoàn thiện khung pháp lý tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con theo Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 được quy định như thế nào?
Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con chung. Trường hợp cha mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định.
2. Độ tuổi nào con có quyền tự mình quản lý tài sản riêng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014?
Theo Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi hoặc con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý và phải bàn giao lại khi con đủ 15 tuổi trở lên hoặc khôi phục đủ năng lực hành vi dân sự.
3. Pháp luật quy định trách nhiệm bồi thường ra sao khi con dưới 15 tuổi gây thiệt hại cho người khác?
Căn cứ Khoản 2 Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015, cha mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường mà con có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu (trừ trường hợp thiệt hại xảy ra trong thời gian trường học, bệnh viện trực tiếp quản lý và các cơ sở này có lỗi).
4. Điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về quan hệ giữa cha mẹ chồng/vợ với con dâu/rể là gì?
Điều 80 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 lần đầu tiên ghi nhận: trường hợp con dâu, con rể sống chung với cha mẹ chồng, cha mẹ vợ thì giữa các bên phát sinh quyền, nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau và thực hiện các quyền, nghĩa vụ tương ứng quy định tại các Điều 69, 70, 71 và 72 của Luật.
5. Tác giả đề xuất giải pháp gì nhằm tháo gỡ khó khăn về chi phí giám định ADN cho người mẹ đơn thân khi xác định cha cho con ngoài giá thú?
Tác giả kiến nghị pháp luật cần quy định người được xác định là cha đứa trẻ phải có trách nhiệm chịu toàn bộ hoặc san sẻ một nửa chi phí giám định gen; đồng thời xây dựng quy chế miễn, giảm chi phí giám định tư pháp đối với các đương sự thực sự có hoàn cảnh kinh tế khó khăn.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Hồ Văn Hải đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, tiến trình lập pháp và các nguyên tắc cốt lõi về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tác giả đã phân tích sâu sắc cấu trúc quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản, đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn thực tiễn thông qua các vụ án bạo lực gia đình và tranh chấp dân sự điển hình. Công trình đóng góp 8 nhóm giải pháp hoàn thiện lập pháp có giá trị thực tiễn cao, góp phần củng cố hành lang pháp lý nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong xã hội hiện đại.