Quyền Ứng Cử Đại Biểu Quốc Hội và Hội Đồng Nhân Dân Các Cấp Từ Thực Tiễn Thành Phố Hồ Chí Minh

Khám phá quyền ứng cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp tại thành phố Hồ Chí Minh qua thực tiễn và những thách thức hiện nay.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

89
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quyền ứng cử đại biểu Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh

Quyền ứng cử đại biểu Quốc hội là một trong những quyền cơ bản của công dân, thể hiện sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, quyền này không chỉ mang tính pháp lý mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Việc thực hiện quyền ứng cử giúp người dân có cơ hội thể hiện nguyện vọng và lựa chọn những người đại diện cho mình trong cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước.

1.1. Khái niệm và bản chất quyền ứng cử đại biểu Quốc hội

Quyền ứng cử đại biểu Quốc hội được hiểu là khả năng của công dân được pháp luật quy định để tự mình hoặc được giới thiệu ứng cử vào vị trí đại biểu. Quyền này không chỉ là một quyền chính trị mà còn là biểu hiện của dân chủ trong xã hội.

1.2. Điều kiện để trở thành ứng cử viên đại biểu Quốc hội

Để trở thành ứng cử viên đại biểu Quốc hội, công dân cần đáp ứng một số điều kiện nhất định như độ tuổi, trình độ học vấn và các tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật. Những điều kiện này nhằm đảm bảo chất lượng của các ứng cử viên.

II. Thực trạng quyền ứng cử đại biểu Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh

Thực trạng quyền ứng cử đại biểu Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù có những tiến bộ nhất định, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức trong việc thực hiện quyền này. Việc thiếu thông tin và sự tham gia của người dân vào các cuộc bầu cử là một trong những vấn đề nổi bật.

2.1. Những thuận lợi trong việc thực hiện quyền ứng cử

Thành phố Hồ Chí Minh có một nền tảng kinh tế phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện quyền ứng cử. Sự quan tâm của chính quyền địa phương cũng góp phần thúc đẩy quyền này được thực hiện hiệu quả hơn.

2.2. Những hạn chế trong thực hiện quyền ứng cử

Mặc dù có nhiều thuận lợi, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế trong việc thực hiện quyền ứng cử. Sự thiếu hụt thông tin và sự tham gia của người dân vào các hoạt động chính trị là những vấn đề cần được khắc phục.

III. Phương pháp cải thiện quyền ứng cử đại biểu Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh

Để cải thiện quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Việc nâng cao nhận thức của người dân về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong quá trình bầu cử là rất quan trọng. Đồng thời, cần cải cách quy trình ứng cử để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các ứng cử viên.

3.1. Nâng cao nhận thức của người dân về quyền ứng cử

Cần tổ chức các chương trình tuyên truyền để nâng cao nhận thức của người dân về quyền ứng cử. Việc này sẽ giúp người dân hiểu rõ hơn về quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong quá trình bầu cử.

3.2. Cải cách quy trình ứng cử đại biểu Quốc hội

Cần xem xét và cải cách quy trình ứng cử để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các ứng cử viên. Việc đơn giản hóa thủ tục và tăng cường sự minh bạch trong quy trình sẽ giúp thu hút nhiều ứng cử viên hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền ứng cử

Nghiên cứu về quyền ứng cử đại biểu Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Việc thực hiện quyền này không chỉ giúp nâng cao chất lượng đại biểu mà còn góp phần vào sự phát triển của nền dân chủ tại địa phương.

4.1. Kết quả thực tiễn từ việc thực hiện quyền ứng cử

Việc thực hiện quyền ứng cử đã mang lại nhiều kết quả tích cực, như sự gia tăng số lượng ứng cử viên và sự tham gia của người dân vào các hoạt động chính trị.

4.2. Những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn

Từ thực tiễn, có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu trong việc thực hiện quyền ứng cử. Những bài học này sẽ giúp cải thiện quy trình và nâng cao chất lượng của các cuộc bầu cử trong tương lai.

V. Kết luận và tương lai của quyền ứng cử đại biểu Quốc hội

Quyền ứng cử đại biểu Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Để phát triển quyền này, cần có những chính sách và giải pháp phù hợp nhằm đảm bảo quyền lợi của công dân được thực hiện đầy đủ và hiệu quả.

5.1. Tương lai của quyền ứng cử tại Thành phố Hồ Chí Minh

Tương lai của quyền ứng cử đại biểu Quốc hội tại Thành phố Hồ Chí Minh phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm sự quan tâm của chính quyền và sự tham gia của người dân.

5.2. Đề xuất giải pháp cho việc thực hiện quyền ứng cử

Cần có những giải pháp cụ thể để cải thiện việc thực hiện quyền ứng cử, từ việc nâng cao nhận thức của người dân đến cải cách quy trình ứng cử.

02/07/2025
Quyền ứng cử đbqh và hđnd các cấp từ thực tiễn thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ U N VÀ PHÁP VỀ QUYỀN ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP 1. Kh i niệm ản chất quyền ng ử ại biểu Qu c hội và Hội ồng nhân dân các cấp 1. ề Trước tiên, thuật ngữ "bầu c " được s dụng để chỉ sự tham gia của c tri (đại c tri, đại diện c tri hoặc chính c tri) trong một cuộc bầu c do nhà nước tổ chức và c tri bằng chính lá phiếu của m nh để lựa chọn một chính đảng hay một ứng c viên cho một chức danh trong bộ máy nhà nước. Đây cũng là sự phân biệt bầu c với phương pháp hác thành lập một chức danh, một cơ quan nhà nước như bổ nhiệm, phê chuẩn việc bổ nhiệm hoặc chuyển giao quyền lực thông qua đảo chính (bằng bạo lực hoặc phi bạo lực) hoặc truyền ngôi (mang tính h nh thức, nghi lễ).

Chế định hay thể chế bầu c là tổng thể các quy định của pháp luật về bầu c gồm các nguyên tắc, cùng tất cả các quan hệ được h nh thành trong quá tr nh tiến hành bầu c từ lúc công dân ghi tên trong danh sách bầu c đến lúc các lá phiếu được bỏ vào thùng phiếu và xác định ết quả bầu c [31, tr. Ngoài những cuộc bầu c mang tính pháp lý (thành lập cơ quan nhà nước), bầu c còn được s dụng trong tổ chức và hoạt động của các chính đảng, tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, doanh nghiệp, tập đoàn inh tế, câu lạc bộ.Khác với cuộc bầu c được s dụng trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức đảng, đoàn thể, tổ chức xã hội hoặc các vương triều. Bầu c thành lập cơ quan nhà nước hay một chức danh nhà nước được điều chỉnh bởi Hiến pháp và pháp luật bầu c do nhà nước ban hành. Có thể nói, chế độ bầu c là cơ chế (hay phương thức) với những quy định cụ thể về quyền bầu c , thẩm quyền, tr nh tự, thủ tục tổ chức một cuộc bầu c để người dân bằng lá phiếu của m nh quyết định lựa chọn một chính đảng hay một cá nhân nắm giữ các chức danh nhà nước thuộc chính quyền trung ương hay địa 8 phương; là phương thức, thủ tục thành lập cơ quan nhà nước hay chức danh nhà nước.

Đây là cơ chế phổ quát mà các nền dân chủ hiện đại dùng để phân bổ chức danh trong bộ máy nhà nước ở trung ương và địa phương. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đã tuyên bố: ''Mọi công dân, không có bất kỳ sự phân biệt nào.và không có bất kỳ sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và cơ hội để: a) Tham gia điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện do họ tự do lựa chọn; b) Bầu c và ứng c trong các cuộc bầu c định kỳ, chân thực bằng phổ thông đầu phiếu, b nh đẳng và bỏ phiếu kín, nhằm đảm bảo cho c tri được tự do bày tỏ ý nguyện của mình'' [7]. Hiện nay, hi nói đến quyền bầu c có thể xem xét dưới hai h nh thức: quyền bầu c chủ động (quyền giới thiệu ứng c viên, quyền bỏ phiếu bầu ) và quyền bầu c thụ động (quyền được giới thiệu ứng c , quyền tự ứng c ). Quyền bầu c được hiểu là khả năng của công dân được nhà nước bảo đảm thông qua những quy định của pháp luật tham gia vào việc bầu c thành lập các cơ quan nhà nước ở Trung ương và cơ quan chính quyền địa phương [31, tr.

Quyền bầu c được thực hiện theo các nguyên tắc phổ thông, b nh đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu ín. Đây cũng chính là những nguyên tắc cơ bản xuyên suốt quá trình bầu c. Quyền ứng c là khả năng công dân được pháp luật quy định về việc thể hiện nguyện vọng của m nh được bầu làm đại biểu, cụ thể là quyền chấp nhận sự đề c của cá nhân, tổ chức khác hoặc tự mình ứng c. Riêng đối với Việt Nam, mọi công dân đều có quyền ứng c hi đủ hai mươi mốt tuổi trở lên và đáp ứng thêm được một số điều kiện hác (theo quy định của pháp luật) với yêu cầu chắc chắn cao hơn so với quyền bầu c.

Hay nói cách khác, quyền bầu c không chỉ là quyền bỏ phiếu mà còn bao gồm quyền đề c , tức là khả năng chủ động trong lựa chọn những người có khả năng thay mặt m nh trong cơ quan đại diện. Cũng có hi “quyền bầu c ” được dùng với nghĩa bầu c nói chung bao gồm cả quyền đề c , bỏ phiếu và quyền được bầu 9 vào cơ quan đại diện. Nếu dùng khái niệm này thì phải phân biệt quyền bầu c chủ động (quyền đề c , bỏ phiếu) và quyền bầu c thụ động (quyền được giới thiệu ứng c , quyền tự ứng c ). Về nguyên tắc, người có quyền bầu c chủ động thì mới có quyền bầu c thụ động, nhưng cũng có những trường hợp một cá nhân có quyền bỏ phiếu nhưng hông có quyền ứng c như theo quy định luật bầu c đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015: người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc thì họ được quyền bỏ phiếu bầu ĐBQH và đại biểu HĐND cấp tỉnh, nhưng họ chắc chắn không có được quyền ứng c (khoản 5, Điều 29).

Ở các nhà nước hiện đại đều xem quyền bầu c và quyền ứng c là một trong những quyền cơ bản về chính trị của công dân và luôn luôn được nhà nước đảm bảo thực hiện. Điểm tiến bộ, đáng ghi nhận của Việt Nam trong việc hiến định trách nhiệm của nhà nước và những bảo đảm của nhà nước về ghi nhận, tôn trọng, thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo nguyên tắc “Quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” và “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Hiến pháp năm 2013 (Điều 27) và Luật bầu c đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 (Điều 2) đều quy định theo hướng “công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu c và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng c vào Quốc hội, HĐND các cấp”. Những công dân này hông phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, tr nh độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú đều được ghi tên vào danh sách c tri để bầu c hoặc ứng c.

Tuy nhiên, cũng có những trường hợp công dân đủ các điều iện trên nhưng hông được ghi tên vào danh sách c tri hoặc ứng c viên. Đó là: Người đang bị tước quyền ứng c theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người đang chấp hành hình phạt tù, người bị hạn 10 chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự; Người đang bị khởi tố bị can; Người đang chấp hành bản án, quyết định hình sự của Tòa án; Người đã chấp hành xong bản án, quyết định hình sự của Tòa án nhưng chưa được xóa án tích; Người đang chấp hành biện pháp x lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngoài ra, những người sau đây cũng hông được tham gia ứng c ĐBQH gồm: Những người chưa đủ hai mươi mốt tuổi tính đến ngày bầu c được công bố và tất yếu những người hông được tham gia bầu c th đương nhiên hông được quyền ứng c. Đó là “Người đang bị tước quyền bầu c theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, người bị kết án t h nh đang trong thời gian chờ thi hành án, người đang chấp hành hình phạt tù mà hông được hưởng án treo, người mất năng lực hành vi dân sự th hông được ghi tên vào danh sách c tri” (Điều 30 Luật bầu c đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015).

Hiện nay, một vấn đề cần xem xét là nhà nước ta chưa tổ chức được cho công dân Việt Nam đang công tác, học tập ở nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bỏ phiếu; cũng như chưa chấp nhận và tạo điều iện người Việt Nam có hai quốc tịch được quyền ứng c. Khi nghiên cứu về quyền ứng c của công dân Việt Nam tại thời điểm này th cũng cần đặt “nó” trong tổng thể các quyền của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp hiện hành. Chúng ta nhận thấy lần đầu tiên giới hạn của các quyền đã được quy định thành nguyên tắc trong Hiến pháp. Cụ thể, Hiến pháp năm 2013, theo tinh thần của các công ước quốc tế đã quy định tại Điều 14: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết v lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức hỏe của cộng đồng”.

Nghĩa là, từ nay hông ai được tùy tiện cắt xén, hạn chế các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền ứng c ngoại trừ các trường hợp cần thiết nói trên do luật định há r ràng. Quyền ứng c là một quyền do Hiến pháp ghi nhận và chỉ có công dân mới có toàn quyền định đoạt. Chúng chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong những trường hợp đặc biệt, chứ 11 hông phải chung chung như “theo quy định của pháp luật” - một cách làm luật “mở” hông giới hạn trong ỹ thuật lập pháp của nước ta thời trước đây. Quyền ứng c được xem như là quyền tham gia quản lý nhà nước chỉ dành cho những cá nhân có tư cách công dân (mang quốc tịch Việt Nam và đạt đến độ tuổi quy định, đảm bảo năng lực hành vi dân sự, hông bị tước hoặc hạn chế một hoặc một số quyền công dân) và hông được có sự phân biệt giữa các công dân v lý do dân tộc, giới tính, tôn giáo, thời gian cư trú, tài sản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ