Chương I của bản Hiến pháp khẳng định nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Bên 11 cạnh đó, tại Điều 56 Hiến pháp này còn quy định: “Công dân có quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội.” [18] Hiến pháp năm 1992 trong thời điểm mà sự nghiệp đổi mới từ năm 1986 đang đòi hỏi việc tiếp tục với nội dung sâu sắc và toàn diện hơn, nhằm đưa đất nước ta tiến tới một giai đoạn phát triển mới và giành được những thành tựu tuy mới bước đầu nhưng rất quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. So với bản Hiến pháp 1980 rõ ràng Hiến pháp 1992 là một bản đổi mới, hoàn thiện, có kế thừa và bổ sung một cách hoàn chỉnh hơn. Đó là sự hoàn thiện về các điều luật nói chung và quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân nói riêng, như tại Điều 53 của bản Hiến pháp: “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước, biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” [19].
Cuối cùng, tại bản Hiến pháp hiện hành của nước ta - Hiến pháp 2013, được ra đời trên cơ sở Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam; nhằm thể chế hóa hơn, sâu sắc hơn quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đề cao chủ quyền nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và đảm bảo tất cả các quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Theo đó Hiến pháp năm 2013 ra đời trên cơ sở kế thừa, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 nhưng quy định cụ thể, chặt chẽ hơn về các quyền chính trị của công dân. [20] Qua sự hình thành và phát triển của 5 bản Hiến pháp, ta nhận thấy cơ sở căn bản của Quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân xuất phát từ bản chất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, công bằng dân chủ, đặt dân lên trên hết. Hai là, xu hướng dân chủ trong hoạt động chính trị Nhà nước Việt Nam với bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, đây hơn hết còn là mục tiêu, là động lực phát triển của quốc gia.
Sự tuyệt đối của chủ nghĩa xã hội so với tư bản không chỉ là việc xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, không phân hóa giai cấp, vượt qua dân chủ tự sản thể hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Cũng bởi lẽ đó xu hướng ngày càng dân chủ trong hoạt động chính trị nói chung, quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân ngày càng được đề cao và chú ý. 12 Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật được tôn trọng và đặt lên hàng đầu mọi hành vi của tổ chức và cá nhân đều phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật. Tập trung xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, hiện đại, khả thi, công khai, minh bạch, công bằng., phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đứng dưới cơ sở đó nhân dân càng chắc chắn hơn về quyền lợi của mình.
Thực hiện quyền giám sát các hoạt động của cơ quan một cách chặt chẽ hơn, đồng thời về phía các cơ sở lãnh đạo cũng cần thực hiện một cách công khai đi kèm theo sự minh bạch, thực chất, trách nhiệm để phát huy tối đa sự hiệu quả của nhiệm vụ. Ba là, quyền con người ngày càng được đề cao Thế giới đang ngày càng phát triển bởi vậy đi kèm với sự bùng nổ của nền kinh tế chính là sự ngày một hoàn thiện của đời sống xã hội. Theo đó xu hướng quyền con người ngày càng được đề cao. Đứng trước sự phát triển của nền văn hóa phẩm chất con người ngày càng biết và hiểu nhiều hơn về quyền của mình: Nền văn hóa phẩm chất là một yếu tố quan trọng để nâng cao quyền con người, bởi đó là những gì đang phát triển tích cực bên trong mỗi cá nhân người dân chúng ta, nhận thức rõ đâu là quyền lợi đâu là trách nhiệm.
Điều đó cung cấp cho cộng đồng một sự hiểu biết về quyền và nghĩa vụ trách nhiệm của mình. Làm đẹp cho bản thân không chỉ ở bên ngoài mà làm đẹp cho cả con người bên trong mình. Không thể không kể đến sự đóng góp lớn mạnh của kinh tế đã thúc đẩy xu hướng quyền con người được nâng cao. Nền kinh tế càng tự do phát triển công dân càng có thể tự do hơn trong việc sử dụng quyền lợi của mình.
Đặc biệt khi công dân nắm trong tay nền kinh tế tự do, họ sẽ tự tin hơn đứng lên đòi lại quyền lợi cũng như bảo vệ nó một cách tốt hơn. Bên cạnh đó sự phát triển của chính trị chính là một chất xúc tác giúp cho quyền con người ngày càng được đề cao và bảo vệ. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, nhân dân ngày càng được quan tâm, đời sống xã hội của nhân dân ngày càng được chú trọng. Đảng và Nhà nước đưa ra rất nhiều những chính sách phát triển để nâng cao quyền lợi của nhân dân, bởi lẽ đó mà xu hướng quyền con người càng được nâng cao.
Sự phát triển của giáo dục cũng giúp cho xu hướng về quyền con người bùng nổ. Nền giáo dục nước nhà phát triển mạnh mẽ, không chỉ vậy mà còn phát triển trên nhiều hình thức, giáo dục qua nhiều phương tiện, kênh thông tin khác nhau đã giúp cho công dân ngày càng hiểu rõ hơn về quyền con người. Biết mình có 13 quyền gì, biết quyền của mình được thực thi và bảo đảm như thế nào giúp công dân có thể bảo vệ chính mình một cách tốt hơn, từ đó quyền con người đối với công dân luôn quen thuộc và sâu sắc hơn. Cuối cùng, dưới sự tham gia của cộng đồng, của truyền thông đại chúng những trường hợp liên quan đến quyền của công dân được lan truyền nhanh chóng, được nhiều người biết tới.
một khi quyền con người bị xâm phạm hoặc bị giải quyết một cách không thỏa đáng cộng đồng sẽ tích cực tham gia vào việc bảo vệ quyền con người. Chính bởi những yếu tố trên, xu hướng phát triển nhằm nâng cao quyền con người nói chung và quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân nói riêng ngày càng được chú trọng. Điều này đóng vai trò cơ sở để thực hiện, bảo đảm thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay. Nội dung quyền tham gia quản lý nhà nƣớc của công dân Quyền tham gia quản lý Nhà nước của công dân được thực hiện thông qua nhiều hình thức khác nhau, gồm hình thức tham gia trực tiếp và hình thức gián tiếp.
Các quyền cụ thể bao gồm: Một là, quyền bầu cử và quyền ứng cử Điều 27 Hiến pháp Việt Nam 2013 quy định: “Công dân từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định” [20]. Điều 2 Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân 2015 quy định: “Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy luật của Luật này.” [21] Có thể thấy, quyền bầu cử là quyền của công dân thực hiện quyền lựa chọn người đại biểu của mình vào cơ quan quyền lực nhà nước. Quyền bầu cử bao gồm việc đề cử giới thiệu người ứng cử và bỏ phiếu, tức là quyền chủ động trong lụa chọn người đại diện cho mình của công dân.
Quyền bầu cử không chỉ là quyền của công dân mà còn như một nghĩa vụ, trách nhiệm của công dân. Bởi nếu công dân không thực hiện quá trình bầu cử thì không thể thành lập các cơ quan lập pháp, hành pháp như luật định. Nếu không có bầu cử thì không có đại biểu Quốc hội từ đó không thể thành lập các cơ quan, không 14 thể thực hiện việc bầu các chức danh khác theo pháp luật, không thể hình thành Nhà nước. Không có nhà nước thì không thể thực hiện các nhiệm vụ đối nội, đối ngoại, cũng như phát triển đất nước, không đảm bảo được nguyên tắc là nhà nước: “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”.
Quyền ứng cử là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo đảm để một công dân có thể tự ghi tên vào danh sách ứng cử viên để được bầu trong cuộc bầu cử làm đại biểu của cơ quan dân cử hoặc làm lãnh đạo cơ quan, tổ chức, đoàn thể xã hội. Công dân có đủ điều kiện thể hiện nguyện vọng của mình được ứng cử đại biểu Quốc hội, ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân. Hai là, quyền khiếu nại, quyền tố cáo và quyền giám sát Khiếu nại được xem là quyền cơ bản của công dân, cá nhân có quyền khiếu nại khi có căn cứ, bằng chứng cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tại khoản 1, Điều 30, Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân” [20].
Căn cứ tại Điều 2, Luật khiếu nại 2011 quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [22].