Chương 1 cơ sở lý luận của quyền sử dụng đất và pháp luật về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vực đặc biệt chỉ chịu phụ thuộc ý chí và cá nhân của họ.một biểu tượng pháp lý về chế độ sở hữu tư nhân tự do về ruộng đất chỉ xuất hiện ở thế giới cổ đại vào thời kỳ tan rã của xã hội hữu cơ, còn trong thế giới hiện nay chỉ với sự phát triển của nền sản xuất Tư bản chủ nghĩa” [14a - Tập II, tr. Mặt khác, không thể đồng nhất quan điểm về chế độ sở hữu ruộng đất ở các thời đại lịch sử khác nhau. Mác viết: “trong mỗi thời đại lịch sử, chế độ sở hữu và phát triển một cách khác nhau và trong một loạt những quan hệ xã hội khác nhau. Nếu như định nghĩa chế độ sở hữu như là một quan niệm độc lập, một phạm trù riêng biệt, một ý niệm trừu tượng và vĩnh viễn thì chỉ có thể là một ảo tưởng của khoa siêu hình học hay khoa pháp luật học mà thôi.
Vì vậy khi nghiên cứu mỗi chế độ sở hữu ruộng đất cụ thể cần phân tích kỹ điều kiện tồn tại của nó gắn với thời đại; không thể dùng quan niệm sở hữu của thời đại này để giải thích sự tồn tại của một chế độ sở hũu ruộng đất tồn tại ở một thời đại khác. Đối với sự phát triển nông nghiệp hàng hoá, khi nghiên cứu về chủ nghĩa Tư bản (CNTB), Mác cho rằng một trong hai công lao của chủ nghĩa Tư bản là “tách quyền sở hữu ruộng đất khỏi quyền kinh doanh trên ruộng đất, biến sở hữu ruộng đất thành sở hữu thuần túy kinh tế” - và ngay dưới con mắt tư sản đi nữa thì cũng phải thấy đó là “một vật thừa vô dụng và phi lý” [14b - tr.244-245]; Mác vẫn khẳng định: “quyền tư hữu ruộng đất là hoàn toàn vô lý. Nói đến quyền tư hữu về ruộng đất chẳng khác gì nói đến quyền sở hữu cá nhân đối với người đồng loại của mình. Trong chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thì chế độ tư hữu về ruộng đất là vô lý nhất”, và “.toàn thể xã hội, một nước và thậm chí tất thảy các xã hội cùng sống trong một thời đại hợp lại, cũng đều không phải là kẻ sở hữu đất đai.
Họ chỉ là người có đất đai ấy, họ chỉ được phép sử dụng đất đai ấy và phải truyền lại cho thế hệ tương Pháp luật về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 18 Luận văn thạc sĩ luật học - cao học khoá V - đại học quốc gia hà nội, 1999 - 2003 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 1 cơ sở lý luận của quyền sử dụng đất và pháp luật về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài lai sau khi đã làm cho đất đai ấy tốt hơn lên như những người cha hiền vậy” [16 - tr. Chính vì chấp nhận sự “vô lý” này mà trong hệ thống pháp luật về đất đai của nhiều quốc gia buộc phải thông qua nhiều quy chế “vô lý” phát sinh theo. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về vấn đề ruộng đất của các nước tư bản phát triển Anh, Pháp, Mỹ, Đức sau Thế kỷ 19, Các Mác đi đến khẳng định tính tất yếu của cách mạng vô sản sau chủ nghĩa tư bản phát triển đến mức tột cùng của nó. Ông đã dự báo rằng: “vận động xã hội sẽ quyết định là ruộng đất chỉ có thể là sở hữu của Nhà nước.
Sự tập trung toàn quốc những tư liệu sản xuất sẽ trở thành cơ sở toàn quốc của một xã hội gồm những tổ chức liên hợp của những người sản xuất bình đẳng và tự do, tiến hành lao động theo một kế hoạch chung và hợp lý. Đó là mục tiêu nhân đạo của sự vận động kinh tế vĩ đại của thế kỷ XIX đang dẫn đến” [13a - Tập IV, tr. Các nhà nghiên cứu về phương Đông đều có chung quan điểm là vấn đề sở hữu ruộng đất ở phương Đông trước CNTB vẫn còn là vấn đề thời sự của Sử học. Mác - Ăng ghen dựa vào thành tựu nghiên cứu đương thời về châu á đã đưa ra nhận định: ở phương Đông trước CNTB không có chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất.
Mác viết: “Trong hình thức á châu (ít ra là trong hình thức thường thấy của nó) không có sở hữu cá nhân riêng rẽ mà chỉ có chiếm hữu cá nhân; người sở hữu thực tế, chân chính là công xã; do đó, sở hữu chỉ tồn tại với tư cách là sở hữu tập thể về ruộng đất mà thôi” [15b - tr. Ngày 2/6/1853, Mác đã viết trong thư gửi Ăng ghen: “Béc-nie đã nhận thấy một cách hoàn toàn đúng đắn rằng tình trạng không có chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất là cơ sở của toàn bộ trật tự phương Đông (ý chỉ các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và Iduxtan); và trả lời cho bức thư này, ngày 6/6/1853, Ăng ghen viết: “tình trạng không có chế độ sở hữu ruộng đất thực sự là chìa khoá để Pháp luật về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 19 Luận văn thạc sĩ luật học - cao học khoá V - đại học quốc gia hà nội, 1999 - 2003 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 1 cơ sở lý luận của quyền sử dụng đất và pháp luật về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hiểu toàn bộ các nước phương Đông; trong đó có cả cơ sở của lịch sử, chính trị và tôn giáo” [13b]. ở Việt Nam, ngay từ các xã hội sơ khai, vấn đề sở hữu đất đai đã giữ một vai trò cốt lõi; đất đai là thuộc về các lạc vương, lạc hầu, lạc tướng - ruộng đất từ chỗ sở hữu chung của công xã trở thành sở hữu riêng của vua chúa, chủ nô, gia tướng. Tiếp đến chế độ sở hữu ruộng đất phong kiến nhưng ở Việt Nam nó mang những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt (hơn 1.000 năm đô hộ của phong kiến nước ngoài với một chế độ bóc lột hà khắc, gần 1.000 năm phong kiến độc lập với nhiều thăng trầm phức tạp rồi sau đó, gần 100 năm là dưới ách đô hộ của chế độ thực dân tư bản nước ngoài với một quá trình đấu tranh liên tục dành độc lập dân tộc.) đã làm cho quan hệ ruộng đất của xã hội phong kiến Việt Nam có nhiều nét đặc thù.
Có thể kể ra những nét đặc thù chủ yếu sau: - Sở hữu nhà nước (Vua) hình thành sớm và tồn tại lâu dài nhưng mạnh yếu có lúc khác nhau vì vừa phụ thuộc vào sự phát triển của sức sản xuất (tuy rất trì trệ), vừa phụ thuộc vào sự anh minh của từng vị Vua và cũng là sức mạnh của từng Nhà nước với những chính sách cụ thể. Nhưng xu thế chung là yếu dần ngoài mong muốn của nhà Vua phong kiến; - Sở hữu làng xã tồn tại gần như song song với sở hữu nhà nước và tương đối ổn định phản ánh tính tự chủ và tự quản rất cao của các làng xã nông thôn Việt Nam, đây là một đặc điểm về cơ chế và cơ cấu xã hội mà không một nhà nước nào bỏ qua (kể cả nhà nước thực dân cũ và thực dân mới sau này) khi tính đến một chiến lược chính trị ổn định lâu dài. Từ chế độ sở hữu này, đã hình thành một hệ thống quy chế, quy ước theo điều kiện cụ thể của từng làng - xã để vừa thu được thuế nộp cho Pháp luật về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 20 Luận văn thạc sĩ luật học - cao học khoá V - đại học quốc gia hà nội, 1999 - 2003 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 1 cơ sở lý luận của quyền sử dụng đất và pháp luật về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài triều đình, vừa đảm bảo mọi sinh hoạt công cộng của làng xã lại vừa duy trì được cuộc sống tối thiểu của người dân; - Sở hữu tư nhân về ruộng đất thời phong kiến ở Việt Nam được hình thành sau và “ở giữa” hai hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu làng xã. Ban đầu là thuộc tầng lớp quan lại, quý tộc - trở thành một nguồn gốc gây xung đột xã hội giữa nông dân và nhà nước phong kiến - có lúc nhà nước buộc phải có chính sách điều chỉnh (hạn điền, quân điền, đồn điền.) nhưng xu thế chung là ngày càng tăng làm cho ruộng đất thuộc các hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu làng xã bị giảm cho đến khi hình thành một giai cấp địa chủ có cả thế và lực ở nông thôn.
Tóm lại, Cho dù thuộc hình thức sở hữu nào về đất đai, và trong từng thời kỳ lịch sử các hình thức sở hữu về đất đai mạnh, yếu có khác nhau, thì nhà nước vẫn luôn luôn can thiệp rất sâu vào các quan hệ đất đai, xem đây là một trong những biện pháp quan trọng để đảm bảo an ninh xã hội, ổn định nguồn thu ngân sách và củng cố quyền lực nhà nước. Sự can thiệp này không chỉ bằng các biện pháp về hành chính, pháp lý (điều tra, đăng ký, lập địa bạ, xây dựng chế độ pháp lý, chính sách.) mà cả việc hình thành một hệ thống quy ước xã hội để thành tập quán ngay từ cơ sở làng xã trong việc sử dụng đất. Như vậy có thể nói QSDĐ là một quyền tự nhiên của con người, khi con người chiếm hữu đất đai, thì họ sẽ thực hiện hành vi sử dụng đất cụ thể là khai thác tính năng sử dụng của đất đai. Thông qua hành vi sử dụng đất mà con người có thể thoả mãn nhu cầu của mình và làm ra của cải cho xã hội.
Cơ sở chính trị - pháp lý Đối với mỗi chế định trong hệ thống tổ chức nhà nước đều phải có sơ sở pháp lý, được quy định ngay tại hoặc xuất phát từ các quy định của Hiến pháp. “Quyền sở hữu đất đai” và “quyền sử dụng đất” ở Việt Nam là các quy Pháp luật về quyền sử dụng đất của tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 21 Luận văn thạc sĩ luật học - cao học khoá V - đại học quốc gia hà nội, 1999 - 2003 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.