Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài "Quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện về yêu cầu khởi kiện trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam" do tác giả Trần Thị Như Quỳnh thực hiện tại Khoa Luật Hành chính, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh (niên khóa 2019 – 2023, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Hoàng Yến). Đề tài được triển khai trong bối cảnh toàn Đảng và toàn dân thực hiện Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Việc đẩy mạnh công cuộc cải cách và hoàn thiện hệ thống tư pháp nhằm tăng cường nhận thức pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Trong tố tụng hành chính, người khởi kiện là bên chịu sự tác động trực tiếp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính quyền lực công, do đó thường ở vị thế yếu thế hơn so với người bị kiện là cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Nhằm bảo đảm sự công bằng và tạo công cụ pháp lý bảo vệ quyền lợi cho công dân, quyền quyết định và tự định đoạt đã được ghi nhận là một nguyên tắc đặc thù của người khởi kiện. Quyền này được quy định xuyên suốt các giai đoạn tố tụng, trong đó giai đoạn xét xử sơ thẩm giữ vai trò nền tảng đầu tiên xác định phạm vi thụ lý và giải quyết vụ việc của Tòa án.
Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), việc thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt về yêu cầu khởi kiện trong xét xử sơ thẩm còn bộc lộ nhiều bất cập. Người khởi kiện còn lúng túng hoặc thực hiện quyền chưa đúng quy định; Tòa án trong nhiều trường hợp giải quyết không đúng hoặc không đầy đủ phạm vi yêu cầu; các quy định pháp luật về giới hạn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến các sai sót trong hoạt động xét xử và làm bản án bị hủy, sửa ở cấp xét xử tiếp theo.
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ các vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng hành chính liên quan đến quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện về yêu cầu khởi kiện trong xét xử sơ thẩm, đánh giá thực tiễn áp dụng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất, nghiên cứu, làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện về yêu cầu khởi kiện trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam; phân tích các nội dung cụ thể của quyền này.
- Thứ hai, trình bày thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng thực tiễn thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện về yêu cầu khởi kiện trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam.
- Thứ ba, đưa ra quan điểm khoa học và các kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính về quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện về yêu cầu khởi kiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm.
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện về yêu cầu khởi kiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Tập trung vào các hành vi thể hiện quyền định đoạt yêu cầu khởi kiện trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, bao gồm quyền đưa ra yêu cầu khởi kiện, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu khởi kiện.
- Văn bản quy phạm: Phân tích các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015, có đối chiếu với Luật Tố tụng hành chính năm 2010 và Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Thời gian và tư liệu: Phân tích các báo cáo tổng kết công tác chuyên môn của ngành Tòa án nhân dân và các bản án sơ thẩm, quyết định giám đốc thẩm từ năm 2016 đến năm 2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Khung lý luận và cơ sở pháp lý của đề tài bao gồm:
- Khái niệm và học thuyết pháp lý: Tác giả phân tích khái niệm quyền quyết định và tự định đoạt từ góc độ ngôn ngữ học (Từ điển Tiếng Việt, Từ điển Từ và Ngữ Việt Nam, Từ điển Luật học năm 2006) đến khoa học pháp lý. Tác giả tiếp thu quan điểm của TS. Nguyễn Quang Hiền (2013) làm định nghĩa nền tảng: "Quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là quyền mà theo đó, đương sự tự lựa chọn và quyết định các hành vi được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tham gia giải quyết vụ việc dân sự và vụ án hành chính". Đối với khái niệm xét xử sơ thẩm, tác giả lựa chọn cách tiếp cận theo nghĩa rộng của TS. Nguyễn Thị Hà (2017), xác định đây là hoạt động xét xử ở cấp thứ nhất do Tòa án có thẩm quyền thực hiện từ khi thụ lý vụ án cho đến khi hoàn thành các thủ tục sau phiên tòa.
- Hệ thống văn bản pháp luật áp dụng: Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022; Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) với các điều khoản trọng tâm như Điều 8 (nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt), Điều 173 (thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm), Điều 6, Điều 15, Điều 193; Nghị quyết số 02/2011/NQHĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về nhập hoặc tách vụ án hành chính.
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Tại Chương 1: Kết hợp phương pháp phân tích quy phạm, so sánh pháp luật và chứng minh lý luận để làm sáng tỏ các đặc điểm, ý nghĩa và nội dung luật định.
- Tại Chương 2: Sử dụng phương pháp thống kê dữ liệu ngành Tòa án, phân tích - tổng hợp số liệu, nghiên cứu hồ sơ vụ án thực tế (phương pháp bình luận án) và đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật.
- Nguồn dữ liệu:
- Báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án qua các năm 2018, 2019, 2020, 2021 và 2022 của Tòa án nhân dân tối cao.
- Báo cáo đánh giá mô hình thí điểm hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020 (Chương trình hợp tác giữa Tòa án nhân dân tối cao và EU JULE).
- Các bản án hành chính sơ thẩm cụ thể tại các địa phương (Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lâm Đồng, Hà Nội) và thông báo rút kinh nghiệm xét xử của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện về yêu cầu khởi kiện trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính tại Việt Nam
Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận và phân tích các quy định pháp luật thực định về quyền tự định đoạt yêu cầu khởi kiện của cá nhân, tổ chức.
Tác giả hệ thống hóa 5 yếu tố thể hiện quyền quyết định và tự định đoạt theo Giáo trình Luật Tố tụng hành chính Việt Nam (Trường ĐH Luật TP.HCM và Trường ĐH Luật Hà Nội): (1) Quyền tự quyết định việc khởi kiện; (2) Quyền tự quyết định nội dung và phạm vi yêu cầu khởi kiện; (3) Quyền quyết định thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu; (4) Quyền kháng cáo, thay đổi hoặc rút kháng cáo; (5) Quyền tiếp tục hoặc dừng việc giải quyết vụ án khi người bị kiện sửa đổi, hủy bỏ quyết định hành chính bị khởi kiện.
Khóa luận làm rõ 4 đặc điểm cơ bản của quyền quyết định và tự định đoạt về yêu cầu khởi kiện trong xét xử sơ thẩm:
- Thứ nhất, đây là quyền đặc thù của người khởi kiện: Trong tố tụng hành chính, đối tượng tranh chấp là tính hợp pháp của quyết định, hành vi hành chính mang tính quyền lực công. Pháp luật không áp dụng cơ chế tự thỏa thuận, hòa giải thuần túy như tố tụng dân sự mà thiết lập thủ tục đối thoại; người khởi kiện ở vị thế yếu thế nên việc trao quyền định đoạt giúp họ chủ động bảo vệ quyền lợi.
- Thứ hai, là một nội dung cấu thành của quyền quyết định và tự định đoạt nói chung: Được ghi nhận tại Điều 8 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, Tòa án chỉ thụ lý giải quyết trong phạm vi yêu cầu của người khởi kiện.
- Thứ ba, phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật: Mọi hành vi định đoạt chỉ có giá trị pháp lý khi được Tòa án chấp thuận. Trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, người khởi kiện có quyền tự định đoạt tuyệt đối nếu còn thời hiệu; tại phiên tòa sơ thẩm, quyền thay đổi, bổ sung bị giới hạn "không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu" (Điều 173).
- Thứ tư, nội dung quyền bao gồm quyền đưa ra, thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu khởi kiện: Đây là phương thức phản kháng pháp lý hợp pháp của công dân trước hoạt động quản lý nhà nước.
Về mặt ý nghĩa, quyền này giúp người khởi kiện nâng cao tính chủ động, trách nhiệm và tiết kiệm chi phí, thời gian; đồng thời giúp Tòa án xác định chính xác giới hạn xét xử, nâng cao tính khách quan, chuyên nghiệp trong việc ra phán quyết.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt về yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam và giải pháp bảo đảm
Chương 2 phân tích kết quả đạt được, chỉ ra các tồn tại thông qua số liệu thống kê xét xử toàn quốc và án văn thực tế.
Số liệu thống kê công tác xét xử án hành chính của Tòa án nhân dân các cấp (2018 - 2022):
| Năm |
Tổng số vụ thụ lý |
Tổng số vụ đã giải quyết, xét xử |
Tỷ lệ giải quyết (%) |
Số vụ thụ lý sơ thẩm |
Tỷ lệ án bị hủy (%) |
Tỷ lệ án bị sửa (%) |
Số vụ án quá hạn luật định |
| 2018 |
10.195 |
6.657 |
62,58% |
7.880 |
4,43% |
3,94% |
02 vụ |
| 2019 |
10.782 |
7.142 |
66,22% |
7.969 |
4,16% |
3,40% |
0 vụ |
| 2020 |
12.470 |
8.582 |
68,80% |
Không nêu tách bạch |
3,26% |
2,92% |
0 vụ |
| 2021 |
10.728 |
5.693 |
53,10% |
Không nêu tách bạch |
3,30% |
2,81% |
0 vụ |
| 2022 |
11.746 |
8.524 |
72,60% |
8.807 |
3,80% |
3,30% |
0 vụ |
Dữ liệu cho thấy số lượng vụ án hành chính thụ lý và giải quyết có xu hướng tăng qua các năm, tỷ lệ giải quyết năm 2022 đạt 72,6% (vượt 7,6% chỉ tiêu ngành). Tỷ lệ án bị hủy giảm từ 4,43% (năm 2018) xuống 3,8% (năm 2022); án bị sửa giảm từ 3,94% xuống 3,3%; đặc biệt từ năm 2019 đến 2022 không còn vụ án để quá thời hạn luật định. Về cơ chế đối thoại, mô hình thí điểm tại Hải Phòng năm 2018 đạt tỷ lệ thành công 76,2%; năm 2022 toàn ngành ghi nhận 429 vụ đối thoại thành (chiếm 7,09% tổng số 6.049 vụ giải quyết theo Luật Tố tụng hành chính), dẫn đến việc người khởi kiện tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện.
Thực tiễn áp dụng và các bất cập qua các vụ án điển hình:
- Thực hiện quyền đúng quy định:
- Bản án số 26/2021/HC-ST của TAND TP. Hải Phòng (vụ chị Nguyễn Thị Minh T kiện UBND quận H): Hội đồng xét xử chấp nhận việc người khởi kiện thay đổi, bổ sung yêu cầu tại phiên tòa vì chỉ yêu cầu hủy một phần quyết định phê duyệt giá đất bồi thường, không vượt quá phạm vi ban đầu.
- Bản án số 44/2022/HC-ST của TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vụ ông Phạm Xuân T kiện UBND TP. Vũng Tàu): Tòa án đình chỉ giải quyết đối với phần yêu cầu hủy quyết định thu hồi đất do đương sự tự nguyện rút yêu cầu sau đối thoại.
- Tòa án giải quyết không đúng hoặc không đầy đủ yêu cầu khởi kiện:
- Thông báo số 38/TB-VC2-V3 của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng: Trong vụ án ông Trần Văn D kiện UBND xã T, ông D chỉ yêu cầu xác nhận nguồn gốc và thời gian sử dụng 1.462,5m2 đất để làm căn cứ bồi thường, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại phán quyết "buộc UBND xã công nhận diện tích trên là đất nuôi trồng thủy sản", vượt quá phạm vi yêu cầu ban đầu khiến bản án bị cấp giám đốc thẩm hủy để xét xử lại.
- Bản án số 320/2019/HC-ST của TAND TP. Hà Nội: Vụ bà Nghiêm Thị L kiện UBND quận N, Tòa án cấp sơ thẩm từ chối xem xét yêu cầu khởi kiện bổ sung tại phiên tòa về việc hủy Quyết định bồi thường số 5101/QĐ-UBND, vi phạm Điều 6, Điều 15, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính và Điều 7 Nghị quyết số 02/2011/NQHĐTP.
- Không thống nhất trong áp dụng quy định "vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu" (Điều 173):
- Bản án số 25/2023/HC-ST của TAND tỉnh Lâm Đồng: Chấp nhận việc ông Nguyễn Văn N thay đổi yêu cầu từ "buộc đính chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" sang "buộc thực hiện hành vi hành chính giải quyết hồ sơ đính chính".
- Bản án số 01/2017/HC-ST của TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội: Bác yêu cầu bổ sung hủy Quyết định cưỡng chế số 449/QĐ-CC của ông Nguyễn Văn K vì cho rằng vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu đối với quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu chính:
- Tổng hợp bức tranh toàn cảnh về hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hành chính giai đoạn 2018 - 2022 với các chỉ số định lượng cụ thể từ báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao.
- Hệ thống hóa các dạng vi phạm và xung đột tố tụng phổ biến liên quan đến quyền định đoạt của người khởi kiện tại cấp sơ thẩm, đặc biệt là lỗi thụ lý thiếu, giải quyết vượt quá yêu cầu hoặc từ chối giải quyết các yêu cầu bổ sung có liên quan mật thiết đến quyết định hành chính bị khởi kiện.
- Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Hoàn thiện các văn bản hướng dẫn áp dụng Luật Tố tụng hành chính, làm rõ tiêu chí xác định hành vi "vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu" tại Điều 173 để tạo sự thống nhất áp dụng pháp luật giữa các cấp Tòa án.
- Nâng cao kỹ năng điều hành phiên tòa, phân định rõ phạm vi thụ lý và giải quyết yêu cầu của Thẩm phán và Hội đồng xét xử nhằm tránh việc giải quyết sai lệch hoặc làm kéo dài thời gian tố tụng.
- Đẩy mạnh hiệu quả công tác đối thoại trước phiên tòa nhằm tạo điều kiện cho các đương sự tự nguyện rút hoặc điều chỉnh yêu cầu khởi kiện phù hợp với thực tế.
- Đóng góp khoa học và thực tiễn:
- Khóa luận là công trình nghiên cứu chuyên sâu, tập trung trực tiếp vào quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện tại giai đoạn xét xử sơ thẩm theo quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
- Cung cấp nguồn tư liệu phân tích thực chứng kết hợp giữa số liệu ngành và các án văn thực tế tại nhiều địa phương, đóng góp tài liệu tham khảo cho hoạt động lập pháp và thực tiễn xét xử hành chính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hành chính; các dữ liệu bản án và số liệu thống kê công tác ngành Tòa án được khai thác trong phạm vi các nguồn công khai từ năm 2016 đến năm 2023.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quyền tự định đoạt của người khởi kiện ở các giai đoạn tố tụng khác như phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm; nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa quyền tự định đoạt đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại vật chất trong vụ án hành chính; so sánh đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp tố tụng hành chính của các quốc gia trên thế giới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, Luật Hành chính và Luật Tố tụng: Cung cấp hệ thống lý luận hoàn chỉnh về nguyên tắc tự định đoạt của người khởi kiện và cấu trúc của một vụ án hành chính sơ thẩm.
- Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý: Nguồn tư liệu thực chứng hữu ích để rút kinh nghiệm trong việc xác định phạm vi yêu cầu khởi kiện, kỹ năng thụ lý việc thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu tại phiên tòa theo đúng Điều 173 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống 4 đặc điểm lý luận tại Chương 1 và các bình luận án điển hình kèm số liệu tổng hợp ngành Tòa án tại Chương 2.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả khóa luận tiếp cận và lựa chọn định nghĩa quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự dựa trên quan điểm của học giả nào?
Tác giả đồng thuận và tiếp thu định nghĩa của TS. Nguyễn Quang Hiền công bố trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 17/2013, xác định quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự là quyền tự lựa chọn và quyết định các hành vi được pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong quá trình tham gia giải quyết vụ việc dân sự và vụ án hành chính.
2. Điểm khác biệt căn bản giữa quyền tự định đoạt trong tố tụng hành chính so với tố tụng dân sự được tác giả chỉ ra là gì?
Trong tố tụng dân sự, quyền tự định đoạt thuộc về cả hai bên đương sự gắn liền với quyền tự do thỏa thuận, định đoạt tài sản và Tòa án tiến hành hòa giải. Trong tố tụng hành chính, quyền quyết định và tự định đoạt là quyền đặc thù tập trung vào người khởi kiện (bên yếu thế trước quyền lực công), không áp dụng nguyên tắc hòa giải hay tự thỏa thuận tài sản công mà áp dụng thủ tục đối thoại để bảo đảm tính hợp pháp của quản lý nhà nước.
3. Theo số liệu báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2018 – 2022 trong khóa luận, chất lượng xét xử án hành chính thể hiện qua các chỉ số nào?
Tỷ lệ giải quyết án tăng từ 62,58% (năm 2018) lên 72,60% (năm 2022). Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy giảm từ 4,43% xuống 3,80%; tỷ lệ bản án bị sửa giảm từ 3,94% xuống 3,30%. Kể từ năm 2019 đến năm 2022, toàn ngành không ghi nhận vụ án hành chính nào để quá thời hạn luật định.
4. Nguyên nhân khiến Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy án sơ thẩm và phúc thẩm trong vụ án của ông Trần Văn D tại Đà Nẵng là gì?
Theo Thông báo số 38/TB-VC2-V3 của VKSND cấp cao tại Đà Nẵng, Tòa án cấp sơ thẩm đã giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện. Ông D chỉ yêu cầu xác nhận nguồn gốc và thời gian sử dụng 1.462,5m2 đất từ năm 1995 đến 2013 làm cơ sở bồi thường, nhưng phán quyết sơ thẩm lại tuyên buộc cơ quan hành chính công nhận diện tích trên là đất nuôi trồng thủy sản.
5. Điểm bất cập lớn nhất trong quy định tại Điều 173 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 khi đương sự thay đổi, bổ sung yêu cầu tại phiên tòa là gì?
Luật hiện hành chưa có văn bản hướng dẫn giải thích cụ thể tiêu chí xác định thế nào là hành vi "vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu". Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất giữa các Tòa án: có Tòa án chấp nhận việc thay đổi nội dung buộc thực hiện hành vi hành chính (như TAND tỉnh Lâm Đồng), nhưng có Tòa án lại từ chối thụ lý yêu cầu hủy quyết định cưỡng chế phát sinh từ quyết định hành chính ban đầu (như TAND huyện Đông Anh, Hà Nội).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Như Quỳnh đã phân tích có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt của người khởi kiện về yêu cầu khởi kiện trong xét xử sơ thẩm vụ án hành chính ở Việt Nam. Thông qua việc đối chiếu quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015 với số liệu thống kê công tác xét xử giai đoạn 2018 - 2022 và các án văn thực tế, đề tài đã chỉ rõ những bất cập trong việc áp dụng giới hạn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện tại phiên tòa sơ thẩm. Công trình là tài liệu học thuật có giá trị tham khảo phục vụ nghiên cứu pháp lý và góp phần đề xuất các định hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng hành chính tại Việt Nam.