Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Nga được thực hiện tại Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Hành chính Quốc gia (năm 2024), tập trung vào quyền khám bệnh, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế dưới góc độ pháp lý và thực tiễn hành chính công.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng theo số liệu của Bộ Y tế, tuổi thọ trung bình của người dân Việt Nam tương đối cao so với các nước có cùng mức sống, song người Việt phải đối mặt với bệnh tật trong thời gian dài (trung bình có tới 10 năm sống cùng bệnh tật), gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Nhận thức được tầm quan trọng của việc chăm sóc sức khỏe toàn dân, Định hướng phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021 – 2025) tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đặt chỉ tiêu tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) đạt 95% dân số và tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,5 tuổi. Để hiện thực hóa mục tiêu này theo phương châm "Lấy người bệnh làm trung tâm", pháp luật đã quy định cụ thể về quyền khám bệnh, chữa bệnh (KCB) BHYT. Thành phố Hà Nội là trung tâm tập trung mạng lưới bệnh viện, cơ sở KCB tuyến cuối quy mô lớn với mật độ người bệnh đông đảo, do đó việc khảo sát việc thực hiện quyền KCB BHYT tại địa bàn mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn quản lý.

Khóa luận xác định rõ ràng mục tiêu và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu, làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận và pháp lý của quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế; từ đó đánh giá đúng thực trạng và xác định các giải pháp đảm bảo thực hiện quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 3 nhiệm vụ):
    1. Nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý của quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế.
    2. Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thực hiện quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội.
    3. Nghiên cứu các giải pháp đảm bảo thực hiện quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu các quyền được pháp luật quy định riêng cho người khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế (không đi sâu vào toàn bộ hệ thống BHYT nói chung).
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn triển khai trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực tiễn và văn bản pháp luật trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023.

Giả thuyết khoa học của đề tài xác định rằng quyền KCB BHYT dù đã được pháp luật Việt Nam ghi nhận nhưng quá trình thực thi trên thực tế vẫn gặp phải những rào cản, vướng mắc xuất phát từ cả hành lang pháp lý chưa đồng bộ lẫn năng lực tổ chức thực hiện tại các cơ sở khám chữa bệnh, đòi hỏi phải có hệ thống giải pháp khắc phục đồng thời trên cả hai phương diện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc loại hình nghiên cứu pháp lý - thực tiễn hành chính. Tác giả xây dựng khung phân tích dựa trên hệ thống các quy định pháp luật hiện hành và khái niệm khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Hệ thống văn bản pháp luật nền tảng: Hiến pháp năm 2013 (Điều 34 về quyền an sinh xã hội, Điều 38 về quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe); Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023; Nghị định số 146/2018/NĐ-CP; Thông tư số 40/2015/TT-BYT; Thông tư số 14/2014/TT-BYT; cùng các mốc pháp lý lịch sử như Nghị định số 299/HĐBT (năm 1992) ban hành Điều lệ BHYT và Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg chuyển BHYT Việt Nam sang Bảo hiểm xã hội Việt Nam.
  • Khái niệm then chốt: Quyền khám bệnh, chữa bệnh theo BHYT được định nghĩa là quyền của cá nhân thông qua BHYT được cơ sở y tế sử dụng kiến thức, phương pháp, kỹ thuật chuyên môn để đánh giá tình trạng sức khỏe, nguy cơ sức khỏe và nhu cầu chăm sóc; đồng thời trên cơ sở đó được giải quyết tình trạng bệnh, ngăn ngừa sự phát triển của bệnh tật.
  • Khung phân tích yếu tố ảnh hưởng: Tác giả xác lập 4 yếu tố chủ yếu tác động đến việc thực thi quyền: (1) Quy định của pháp luật; (2) Cơ sở vật chất, kỹ thuật và nguồn lực tài chính; (3) Nhận thức của người dân; (4) Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người hành nghề.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khóa luận tổng thuật quá trình hình thành chính sách BHYT tại Cộng hòa Liên bang Đức (Luật BHYT năm 1883 dưới thời Thủ tướng Bismarck), Phần Lan (Luật Bảo hiểm ốm đau năm 1963), và Nhật Bản (BHYT bắt buộc từ năm 1927, hoàn thành bao phủ toàn dân năm 1961).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai kết hợp bao gồm:

  • Phương pháp lịch sử: Phân tích quá trình hình thành chính sách BHYT quốc tế và các giai đoạn thí điểm các quỹ BHYT tại Việt Nam từ đầu thập niên 1980 (Quỹ Bảo hiểm sức khỏe Hải Phòng, Quỹ KCB nhân đạo Vĩnh Phúc, Quỹ BHYT tự nguyện Bến Tre, Quảng Trị, Quỹ KCB ngành đường sắt) đến khi hợp nhất vào quỹ quốc gia.
  • Phương pháp liệt kê hệ thống: Phân loại, liệt kê có hệ thống các quyền chung của người bệnh và 5 nhóm quyền riêng biệt của người tham gia BHYT.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các quy định giữa Luật BHYT năm 2008 với Luật sửa đổi năm 2014; so sánh quy định phân tuyến kỹ thuật cũ với quy định 3 cấp chuyên môn kỹ thuật theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát hóa: Tổng hợp các báo cáo hành chính, số liệu thống kê thực tế để làm rõ bức tranh thực thi quyền tại địa bàn Hà Nội.

Nguồn dữ liệu của khóa luận được thu thập từ báo cáo thống kê chính thức của Sở Y tế thành phố Hà Nội, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, số liệu của Bộ Y tế và các nghiên cứu khoa học pháp lý đã công bố liên quan đến đề tài.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về BHYT và quyền KCB BHYT. Tác giả phân tích tính chất của BHYT là chính sách an sinh xã hội phi lợi nhuận do Nhà nước tổ chức, bao gồm hình thức bắt buộc (chia làm 6 nhóm đối tượng theo khoản 6 Điều 1 Luật sửa đổi 2014) và tự nguyện theo hộ gia đình (Nghị định 146/2018/NĐ-CP).

Về bản chất pháp lý, quyền KCB BHYT có 3 đặc điểm cơ bản: (1) Là một nội dung quan trọng của quyền được bảo vệ và chăm sóc sức khỏe; (2) Có mối quan hệ chặt chẽ với các quyền cơ bản khác (quyền sống, quyền an sinh xã hội); (3) Mang tính phổ quát nhưng vẫn có sự giới hạn về đối tượng tham gia. Khóa luận phân định ranh giới giữa hai nhóm quyền:

  • Các quyền chung của người bệnh (theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023): Quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe và bí mật riêng tư (Điều 10); Quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phí (Điều 12); Quyền từ chối KCB và rời khỏi cơ sở KCB (Điều 13); Quyền KCB của người mất năng lực hành vi dân sự, khó khăn nhận thức, chưa thành niên hoặc người không có thân nhân (Điều 15).
  • Các quyền riêng của người khám bệnh, chữa bệnh theo BHYT: (1) Quyền đăng ký KCB BHYT ban đầu (Điều 26 Luật BHYT 2008, Thông tư 40/2015/TT-BYT); (2) Quyền được lựa chọn cơ sở và phương pháp điều trị (Điều 11 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023 và khoản 24 Điều 1 Luật sửa đổi 2014); (3) Quyền được chuyển tuyến điều trị (Điều 27 Luật BHYT, Thông tư 14/2014/TT-BYT); (4) Quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo và được bồi thường (Điều 36 Luật BHYT, Điều 14 và Điều 102 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023); (5) Quyền được thanh toán chi phí KCB theo chế độ BHYT (khoản 4 Điều 36 Luật BHYT).

Chương 2: Thực tiễn thực hiện quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội

Chương 2 đi sâu khảo cứu thực tế áp dụng các quyền riêng của người tham gia BHYT trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 2019 – 2023 thông qua các chỉ số cụ thể:

Tiêu chí / Chỉ số theo dõi Dữ liệu ghi nhận tại Hà Nội Nguồn trích xuất trong khóa luận
Tỷ lệ bao phủ BHYT (đến 12/2023) 93,5% dân số (gần 7,9 triệu người tham gia, tăng 1,9% so với 2022) Báo cáo BHXH TP. Hà Nội
Ứng dụng công nghệ thông tin KCB BHYT 100% cơ sở KCB BHYT áp dụng VssID và CCCD gắn chíp Báo cáo ngành BHXH / Y tế
Mạng lưới y tế tuyến xã, phường 579 trạm y tế; 100% trạm có bác sĩ (86,3% biên chế cố định) Báo cáo Sở Y tế Hà Nội
Số lượt chuyển tuyến (năm 2023) 187.788 lượt từ xã, huyện lên tỉnh, trung ương (tăng 3,2% so với 2022) Tham luận Sở Y tế Hà Nội
Dự toán chi KCB BHYT năm 2022 Dự toán: 18.912,579 tỷ đồng; Thực chi: 19.169,5 tỷ đồng Báo cáo tài chính BHYT
Chi phí KCB BHYT năm 2023 Tổng chi: 22.536 tỷ đồng (Vượt dự toán giao 20.101 tỷ đồng) Quyết toán Quỹ BHYT Hà Nội
Chi phí điều trị bệnh nhân ngoại tỉnh Gần 11.260 tỷ đồng (chiếm 50,3% tổng chi KCB BHYT toàn địa bàn) Quyết toán Quỹ BHYT Hà Nội
Trường hợp Quỹ BHYT chi trả cao (2023) 38 bệnh nhân được chi trả trên 1 tỷ đồng; 3 bệnh nhân trên 3 tỷ đồng Thống kê BHXH TP. Hà Nội

Từ các số liệu trên, tác giả chỉ ra các kết quả đạt được: Độ bao phủ BHYT liên tục vượt chỉ tiêu được giao; chính sách thông tuyến KCB huyện và nội trú tuyến tỉnh tạo thuận lợi cho người dân; 100% cơ sở khám chữa bệnh thực hiện số hóa thông tin thẻ BHYT. Bên cạnh đó, mô hình thí điểm "Bệnh viện Chị - Em" (khởi động ngày 18/10/2023 giữa Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn với Bệnh viện Đa khoa Ba Vì và Trung tâm Y tế huyện Ba Vì) bước đầu giảm áp lực chuyển tuyến từ cơ sở lên tuyến trên.

Tuy nhiên, chương này đã bóc tách hàng loạt hạn chế nổi cộm:

  • Về quyền đăng ký và lựa chọn: Người dân không mặn mà đăng ký ban đầu tại trạm y tế tuyến xã do thiếu trang thiết bị, danh mục thuốc nghèo nàn, nhân lực mỏng; dẫn tới hiện tượng dồn đăng ký vượt chỉ tiêu tại bệnh viện đa khoa tuyến huyện và trung tâm y tế, gây quá tải cục bộ.
  • Về quyền chuyển tuyến: Tình trạng phiền hà trong thủ tục cấp giấy chuyển viện, còn phát sinh hiện tượng tiêu cực hoặc giữ bệnh nhân lại tuyến dưới để tiếp tục điều trị.
  • Về quyền thanh toán chi phí: Bệnh nhân BHYT vẫn phải tự bỏ tiền túi mua thuốc và vật tư y tế bên ngoài do cơ sở KCB thiếu hụt hoặc chậm cập nhật danh mục đấu thầu (điển hình như trường hợp ông Nguyễn Đức T. mất 3 năm khiếu nại đòi quyền thanh toán thuốc Hydrocortisone 10mg do cơ chế hướng dẫn chi trả trực tiếp chưa đồng bộ).
  • Về quyền kiến nghị, bồi thường: Tỷ lệ người dân thực hiện quyền này rất thấp do e ngại, thủ tục phức tạp; thiếu các thống kê chính thức về tai biến y khoa và đa số cơ sở KCB chưa tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
  • Về xung đột thể chế: Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 quy định phân chia hệ thống y tế thành 3 cấp chuyên môn kỹ thuật (ban đầu, cơ bản, chuyên sâu), làm phát sinh tình trạng bất cập, chưa tương thích với việc phân 4 tuyến kỹ thuật và xếp hạng bệnh viện làm căn cứ thanh toán theo Luật BHYT hiện hành.

Chương 3: Giải pháp đảm bảo thực hiện quyền khám, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế tại thành phố Hà Nội

Dựa trên mục lục và định hướng của đề tài, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp chia làm hai nhóm chính:

  • Nhóm giải pháp đảm bảo từng quyền cụ thể:
    • Quyền đăng ký: Đơn giản hóa thủ tục hành chính, tối ưu hóa quy trình phân bổ chỉ tiêu thẻ BHYT ban đầu giữa các tuyến, giảm tải thời gian chờ đợi tại khâu tiếp đón bệnh viện tuyến trên.
    • Quyền lựa chọn: Cho phép người mắc bệnh hiếm, bệnh hiểm nghèo được chủ động tiếp cận điều trị tại tuyến trên mà không bị rào cản thủ tục chuyển viện cơ học; đưa danh mục quản lý và cấp phát thuốc bệnh mãn tính về y tế cơ sở.
    • Quyền chuyển tuyến: Chuẩn hóa quy trình và điều kiện cấp giấy chuyển tuyến bằng dữ liệu điện tử liên thông; nhân rộng mô hình liên kết chuyên môn "Bệnh viện Chị - Em" nhằm nâng cao năng lực giữ chân người bệnh tại tuyến huyện.
    • Quyền kiến nghị, khiếu nại và bồi thường: Thiết lập quy trình xử lý đơn thư nhanh chóng, minh bạch; bổ sung quy định cụ thể về mức bồi thường thiệt hại tối thiểu và bắt buộc các cơ sở y tế tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp trong KCB.
    • Quyền thanh toán chi phí: Ban hành cơ chế chi trả trực tiếp nhanh chóng cho người bệnh khi cơ sở điều trị thiếu thuốc, vật tư thuộc danh mục BHYT; bảo đảm cân đối dự toán chi gắn với đặc thù tiếp nhận bệnh nhân ngoại tỉnh của Hà Nội.
  • Nhóm giải pháp bổ trợ khác:
    • Sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế để thống nhất mô hình 3 cấp chuyên môn kỹ thuật theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023; thường xuyên cập nhật danh mục thuốc, vật tư y tế tiên tiến.
    • Đầu tư cơ sở vật chất, đồng bộ trang thiết bị kỹ thuật cho trạm y tế xã, phường; kiện toàn nguồn lực tài chính cho y tế cơ sở.
    • Đẩy mạnh truyền thông chính sách nhằm nâng cao nhận thức của người dân về các quyền phái sinh và nghĩa vụ trong KCB BHYT.
    • Bồi dưỡng, luân phiên đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và y đức cho đội ngũ hành nghề y tế cơ sở.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và công bố nhiều số liệu thực tế phản ánh bức tranh thực thi chính sách BHYT tại Hà Nội: Tỷ lệ bao phủ đạt 93,5% dân số (7,9 triệu người tham gia); mạng lưới 579 trạm y tế với 100% có bác sĩ làm việc; số lượt chuyển tuyến năm 2023 đạt 187.788 lượt; chi phí KCB BHYT năm 2023 chạm ngưỡng 22.536 tỷ đồng, vượt dự toán giao (trong đó gánh nặng chi trả cho bệnh nhân ngoại tỉnh chiếm tới 50,3% tổng chi).

Đóng góp của khóa luận được thể hiện trên hai phương diện:

  • Về phương diện lý luận: Khóa luận góp phần hệ thống hóa, làm sáng tỏ các khái niệm khoa học pháp lý, xác định rõ nội hàm và đặc điểm của quyền KCB BHYT; đồng thời xây dựng tiêu chí phân định rõ ràng giữa các quyền chung của người bệnh theo Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 với các quyền riêng của người tham gia BHYT theo Luật BHYT.
  • Về phương diện thực tiễn: Khóa luận cung cấp bức tranh xác thực về việc thực thi quyền KCB BHYT tại địa bàn trọng điểm Hà Nội; phát hiện những khoảng trống pháp lý (như cơ chế thanh toán thuốc tự mua, thiếu hụt bảo hiểm trách nhiệm y khoa, xung đột giữa 4 tuyến hành chính cũ và 3 cấp chuyên môn mới). Hệ thống hạn chế và giải pháp trong đề tài là tài liệu tham khảo có giá trị thực tế cho các cơ quan quản lý nhà nước về y tế, cơ quan Bảo hiểm xã hội và các cơ sở y tế trên địa bàn Hà Nội cũng như các địa phương khác.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn nghiên cứu được rút ra từ văn bản:

  • Hạn chế về phạm vi và dữ liệu: Nghiên cứu chỉ tập trung vào nhóm các quyền riêng của người bệnh có thẻ BHYT tại một địa bàn hành chính duy nhất (thành phố Hà Nội) trong giai đoạn 2019 – 2023. Đề tài cũng thừa nhận sự thiếu hụt số liệu thống kê chính thức mang tính định lượng về các vụ việc tai biến y khoa và việc bồi thường thiệt hại liên quan đến KCB BHYT trên địa bàn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu sâu việc hoàn thiện hành lang pháp lý khi dự thảo Luật Bảo hiểm y tế (sửa đổi) được thông qua nhằm đồng bộ hóa với mô hình 3 cấp chuyên môn kỹ thuật của Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023; mở rộng khảo cứu thực nghiệm về cơ chế vận hành quỹ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp y khoa và cơ chế thanh toán bảo hiểm y tế tự động trên toàn quốc.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Luật học, Luật Hành chính, Quản lý công, Y tế công cộng và An sinh xã hội: Cung cấp khung lý luận, cấu trúc phân loại quyền người bệnh và phương pháp luận tiếp cận một vấn đề pháp lý gắn liền với chính sách công.
  • Người làm nghiên cứu về bảo hiểm y tế và an sinh xã hội: Cung cấp chuỗi số liệu thực tế về dự toán, chi phí KCB, tỷ lệ vượt tuyến và dữ liệu vận hành y tế cơ sở tại Hà Nội giai đoạn 2019 – 2023.
  • Cán bộ quản lý tại cơ quan Bảo hiểm xã hội và Sở Y tế: Tham khảo các phân tích thực trạng về rào cản chuyển tuyến, nguyên nhân người dân né tránh y tế tuyến xã, và các vướng mắc trong việc thanh toán chi phí thuốc, vật tư y tế ngoài danh mục.

Câu hỏi thường gặp

1. Quyền khám bệnh, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế bao gồm những quyền riêng biệt nào theo phân tích của tác giả? Khóa luận xác định người tham gia BHYT được thụ hưởng 5 nhóm quyền riêng biệt theo quy định pháp luật: (1) Quyền được đăng ký KCB BHYT ban đầu; (2) Quyền được lựa chọn trong KCB BHYT (bao gồm lựa chọn cơ sở đăng ký và lựa chọn phương pháp điều trị); (3) Quyền được chuyển tuyến điều trị; (4) Quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo và được bồi thường; (5) Quyền được thanh toán chi phí KCB theo chế độ BHYT.

2. Tỷ lệ bao phủ BHYT và tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT tại Hà Nội năm 2023 được ghi nhận như thế nào? Tính đến hết tháng 12/2023, tỷ lệ bao phủ BHYT của thành phố Hà Nội đạt 93,5% dân số với gần 7,9 triệu người tham gia (tăng 1,9% so với cuối năm 2022). Tổng số tiền chi KCB BHYT trên địa bàn thành phố năm 2023 là 22.536 tỷ đồng, vượt dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao (20.101 tỷ đồng); trong đó chi phí dành cho bệnh nhân ngoại tỉnh đến KCB là gần 11.260 tỷ đồng, chiếm 50,3% tổng chi.

3. Vì sao Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 đặt ra yêu cầu phải sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế hiện hành? Điều 104 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2023 đã chuyển đổi mô hình phân loại hệ thống y tế từ 4 tuyến hành chính kỹ thuật trước đây sang 3 cấp chuyên môn kỹ thuật (cấp ban đầu, cấp cơ bản và cấp chuyên sâu). Do tuyến chuyên môn và hạng bệnh viện không còn là căn cứ tính giá dịch vụ KCB, Luật Bảo hiểm y tế cần được sửa đổi đồng bộ để tránh xung đột pháp luật trong phân luồng quản lý và thanh toán viện phí.

4. Mô hình "Bệnh viện Chị - Em" được triển khai thí điểm tại Hà Nội mang lại kết quả gì trong việc thực hiện quyền chuyển tuyến? Mô hình "Bệnh viện Chị - Em" được Sở Y tế Hà Nội triển khai thí điểm từ ngày 18/10/2023, trong đó Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn đóng vai trò thường trực hỗ trợ chuyên môn toàn diện, chỉ đạo tuyến và khám chữa bệnh từ xa cho Bệnh viện Đa khoa Ba Vì và Trung tâm Y tế huyện Ba Vì. Kết quả bước đầu ghi nhận tỷ lệ chuyển tuyến người bệnh tại các bệnh viện này có xu hướng giảm dần, giảm tải rõ rệt cho các bệnh viện tuyến trên và tiết kiệm chi phí cho người bệnh.

5. Điểm nghẽn thực tế lớn nhất trong việc thực hiện quyền thanh toán chi phí KCB BHYT được đề cập là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là tình trạng các cơ sở y tế thiếu thuốc, vật tư y tế thuộc danh mục được BHYT thanh toán, buộc người bệnh phải tự bỏ tiền túi ra mua bên ngoài để phục vụ điều trị. Khi người bệnh yêu cầu thanh toán lại các chi phí này, cơ quan có thẩm quyền gặp lúng túng và kéo dài thời gian giải quyết do thiếu các văn bản quy định hướng dẫn cơ chế chi trả trực tiếp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thu Nga đã phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận và nền tảng pháp lý của quyền khám bệnh, chữa bệnh theo bảo hiểm y tế. Thông qua nguồn dữ liệu thực tế tại thành phố Hà Nội giai đoạn 2019 – 2023, công trình đã làm rõ những thành tựu nổi bật trong độ bao phủ an sinh cũng như các xung đột pháp luật, bất cập chuyển tuyến và vướng mắc thanh toán viện phí. Các nhóm giải pháp do đề tài đề xuất mang tính đồng bộ, cung cấp cơ sở tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế y tế và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về an sinh xã hội.