Lời mở đầu, Danh mục viết tắt, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo và Kết luận thì Luận văn có kết cấu làm 2 chương, gồm: Chƣơng 1. Tổng quan về quyền giao dịch quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thực trạng pháp luật về quyền giao dịch quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và hướng hoàn thiện. 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUYỀN GIAO DỊCH QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI 1.
Khái niệm quyền giao dịch quyền sử dụng đất của doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài 1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (DNCVĐTNN) là một khái niệm được dùng ngày càng rộng rãi hơn trong nền kinh tế thị trường ngày nay. Theo Từ điển Luật học, “DNCVĐTNN là doanh nghiệp do nhà đầu tư của một quốc gia đầu tư toàn bộ hoặc một phần vốn thành lập trên lãnh thổ của một quốc gia khác để tiến hành hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận. Nhiều nước trên thế giới không phân biệt vốn trong nước với vốn đầu tư nước ngoài và bởi vậy, không có khái niệm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; họ gọi các doanh nghiệp được thành lập trên cơ sở góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài theo hình thức tổ chức pháp lý của chúng, ví dụ: công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần,… Thuật ngữ DNCVĐTNN chính thức được sử dụng trong Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 (trước đó gọi là xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài)”2.
Đến nay, thuật ngữ DNCVĐTNN được sử dụng càng nhiều trong các văn bản pháp luật khác nhau, phục vụ cho đa dạng các lĩnh như đất đai, đầu tư, thương mại, chứng khoán,… Do chưa có một khái niệm chính thức nào về DNCVĐTNN, nên khái niệm này được xác định không thống nhất dẫn đến tình trạng thực tế áp dụng một cách khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền xử lý và chính những doanh nghiệp được xem là DNVCĐTNN không rõ quyền hạn hay nghĩa vụ như thế nào làm kéo dài thời gian thực hiện thủ tục đầu tư và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của chủ thể. Trước năm 1996, giai đoạn này DNCVĐTNN được gọi bằng xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Còn thuật ngữ DNCVĐTNN được sử dụng chính thức từ lúc Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Luật số 52-L/CTN ngày 12 tháng 11 năm 1996) có hiệu lực. Trong đó luật quy định DNCVĐTNN gồm có doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài3.
Hơn nữa, pháp luật còn quy định nhà 2 Viện Khoa học Pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, Nhà xuất bản Tư pháp, tr. 3 Khoản 6 Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996. 10 đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam4. Và đến Luật Đầu tư năm 2004 vẫn tiếp tục sử dụng thuật ngữ này như sau: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại” (Khoản 6 Điều 3).
Ở giai đoạn tiếp theo, pháp luật đầu tư có sự thay đổi về tên gọi. Theo Luật Đầu tư 2014 (Luật số 67/2014/QH13) đã không còn sử dụng thuật ngữ “DNCVĐTNN” mà thay bằng tên khác là “tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” (Khoản 17 Điều 3 LĐT 2014) là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông. Điều này có thể hiểu là, để xác định tổ chức nào thuộc đối tượng là tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài thì chỉ cần nhà đầu tư nước ngoài có tỉ lệ vốn góp trong tổ chức lớn hơn 0% là thỏa mãn điều kiện. Mặc dù đều được xem là tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng LĐT 2014 có phân biệt rõ rằng, dựa trên cơ sở tỷ lệ sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài trong doanh nghiệp đã được thành lập tại Việt Nam là bao nhiêu phần trăm thì tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn bị đối xử như một nhà đầu tư nước ngoài.
Nghĩa là tổ chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế khác; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế khác; đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC nếu tổ chức kinh tế đó thuộc một trong các trường hợp cụ thể tại Khoản 1 Điều 23. Điều này hiểu nôm na là tỷ lệ phần vốn góp chiếm ở mức cụ thể theo luật định thì phải thực hiện các thủ tục đầu tư như nhà đầu tư nước ngoài. Việc quy định này nhằm kiểm soát vốn đầu tư của nước ngoài, cũng như định danh tư cách rõ ràng trong thực hiện thủ tục đầu tư. Vì khi xét đây là trường hợp phải thực hiện thủ tục của nhà đầu tư nước ngoài, thủ tục này sẽ được cơ quan quản lý Nhà nước kiểm soát gắt gao.
Có lẽ thấy được tầm quan trọng của các quy định trên để áp dụng cho DNCVĐTNN, mà Luật Đầu tư 2020 (Luật số 61/2020/QH14) ngày 17 tháng 6 năm 2020 vẫn giữ nguyên và tiếp tục phát huy các quy định này. Đối với Luật Thương Mại 2005 (LTM) quy định: “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thương nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là thành viên thì được coi là thương nhân Việt Nam. Vì thế, LTM 4 Khoản 2 Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996. 11 2005 chỉ đề cập và không định nghĩa đến các thuật ngữ thương nhân nước ngoài và DNCVĐTNN mà chỉ giải thích thuật ngữ thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (Khoản 1 Điều 6).
Từ đó cũng có thể suy ra rằng: thương nhân nước ngoài chính là nhà đầu tư nước ngoài theo LTM 2005 (tổ chức, cá nhân nước ngoài) và để thực hiện hoạt động thương mại tại Việt Nam. Không những vậy, LTM 2005 còn quy định địa vị pháp lý của DNCVĐTNN là do thương nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam theo quy định pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Viêt Nam là thành viên thì “được coi là thương nhân Việt Nam”. Nhìn chung thì, việc LTM 2005 không quy định thế nào là DNCVĐTNN cũng không có gì đáng bàn cãi vì vấn đề này đã được điều chỉnh bởi LĐT 2020 và LDN 2020. Cũng giống như LTM 2005, Luật Doanh nghiệp (LDN) 2020 cũng không có sự giải thích về thuật ngữ DNCVĐTNN mà chỉ thông qua quy định tại Khoản 12 Điều 4 chỉ nêu: “Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam”.
Như vậy có thể xem LDN 2020 dựa vào yếu tố quốc tịch để xác định một doanh nghiệp được xem là doanh nghiệp Việt Nam. Theo đó, nếu như tất cả doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập trên lãnh thổ Việt Nam thì chúng được xem là doanh nghiệp Việt Nam, kể cả trường hợp doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam. Song, tại Khoản 26 Điều 4 LDN 2020 lại có quy định dẫn chiếu đến Luật Đầu tư như sau: “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân được hiểu là nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của Luật Đầu tư.” Trong pháp luật đất đai trước đây, DNCVĐTNN được sử dụng với thuật ngữ “tổ chức, cá nhân nước ngoài”. Đến khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực, luật này dường như đã tách “tổ chức, cá nhân nước ngoài” thành hai chủ thể độc lập là “DNCVĐTNN” và “tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao”.
Vì trước đây khi đề cập đến “tổ chức, cá nhân nước ngoài” là bao gồm tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao và tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất để đầu tư vào Việt Nam trong khi mục đích sử dụng của họ rất khác nhau. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao sử dụng đất chỉ để thành lập cơ quan đại diện ngoại giao có chức năng thực hiện các công việc, nhiệm vụ được giao trong quan hệ của quốc gia họ với Việt Nam, còn đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất để đầu tư, mục đích thực hiện kinh doanh thu lợi nhuận. Và một điều cần lưu ý, bản thân tổ chức, 12 cá nhân nước ngoài không thể trực tiếp sử dụng đất tại Việt Nam. Việc sử dụng đất này sẽ được thực hiện một cách gián tiếp bằng cách được thực hiện bởi một doanh nghiệp nào đó mà do chính tổ chức, cá nhân nước ngoài đó bỏ vốn thành lập ra pháp nhân mới hoặc góp vốn, mua cổ phần đối với pháp nhân đã được thành lập sẵn.
Và chính những pháp nhân này mới là chủ thể sử dụng đất. Do đó, khi gọi thuật ngữ “tổ chức, cá nhân nước ngoài” thì dễ bị hiểu nhầm rằng tổ chức, cá nhân nước ngoài này chính là chủ thể sử dụng đất. Việc xác định tách bạch giữa DNCVĐTNN và tổ chức, cá nhân nước ngoài có chức năng ngoại giao hay việc không còn sử dụng thuật ngữ “tổ chức, cá nhân nước ngoài” một cách chung chung trong LĐĐ 2013 là một sự thay đổi tiến bộ góp phần giúp phân định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này. Có thể nói, LĐĐ 2013 lần đầu tiên đã chính thức thay thuật ngữ tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư (LĐĐ 2003 và LKDBĐS 2006) bằng thuật ngữ DNCVĐTNN.
Căn cứ vào quan hệ sử dụng đất, thì DNCVĐTNN thuộc nhóm chủ thể sử dụng đất nước ngoài. Tuy nhiên, LĐĐ 2013 có đề cập đến thuật ngữ DNCVĐTNN nhưng không đưa ra khái niệm cụ thể để xác định mà chỉ liệt kê ra doanh nghiệp nào là DNCVĐTNN, cụ thể gồm ba (03) nhóm: “Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư” (Khoản 7 Điều 5 LĐĐ 2013).