Chương 1: LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐỐI VỚI HỌ, TÊN 1. Khái quát chung về quyền nhân thân 1. Khái niệm quyền nhân thân Quyền nhân thân của cá nhân là quyền dân sự không th thiếu của mỗi con người. Quyền nhân thân được ghi nhận, phát tri n và thực thi gắn liền với từng chủ th từ khi sinh ra cho đến khi chấm dứt, không còn tồn tại nữa, phản ánh nhiều hơn quy trình phát tri n lịch sử mang tính quy luật của việc tăng cường những nền tảng dân chủ trong những hình thái xã hội khác nhau.
“Quyền” là những xử sự được phép của các chủ th nói chung. Quyền của chủ th có th là quyền tự nhiên, vốn có, không do ai quy định, cho phép và cũng có th trên cơ sở quy định của pháp luật, trên cơ sở ủy quyền từ phía chủ th khác. “Nhân thân” là tổng hợp các đặc đi m về xuất thân, giới tính, tuổi tác, sức khỏe, tính cách, học vấn, quá trình giáo dục, nghề nghiệp, thành phần tôn giáo, hoàn cảnh gia đình, địa vị xã hội của cá nhân… Mỗi người đều có nhân thân riêng, ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi của người đó [22]. Quyền nhân thân thuộc phạm trù của quyền con người, chỉ gắn với mỗi con người cụ th.
Ở mức độ cao nhất, quyền con người là những quyền tự nhiên vốn có khi con người sinh ra, thiêng liêng và bất khả xâm phạm, như quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Mỗi con người đều có đời sống riêng, tâm tư, tình cảm, nhân cách, phẩm giá, uy tín riêng… làm nên những giá trị tinh thần cốt lõi của người đó. Các quyền nhân thân luôn th hiện đời sống tinh thần của mỗi con người cụ th. Pháp nhân, chủ th khác không th có tâm tư, tình cảm, phẩm giá… như một con người.
Đối tượng của quyền nhân thân là giá trị tinh thần (phi vật chất), luôn gắn liền với cá nhân và không th chuy n giao (trừ một số trường hợp đặc biệt theo quy định 7 của luật). Còn các yếu tố như danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ th khác là những giá trị vô hình của pháp nhân, chủ th khác thông qua quá trình hoạt động, gắn liền với lợi ích mà pháp nhân, chủ th khác hướng tới và mong muốn đạt được. Một số quyền nhân thân được bảo vệ vô thời hạn mà không phụ thuộc là cá nhân đó còn sống hay đã chết. Pháp nhân, chủ th khác xét về tư cách chủ th là do được thành lập trên cơ sở quyết định hành chính hoặc đăng ký thông qua trình tự, thủ tục hành chính, được phân biệt thông qua tên gọi, trụ sở, cơ cấu tổ chức, lĩnh vực hoạt động, tài sản… và có th bị chấm dứt sự tồn tại trên cơ sở thủ tục hành chính hoặc thủ tục tư pháp do pháp luật quy định.
Danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ th khác được tích lũy do quá trình hoạt động của pháp nhân, chủ th khác và sẽ mất đi khi pháp nhân, chủ th khác đó chấm dứt sự tồn tại. Tuy quyền nhân thân thuộc phạm trù quyền con người (là những quyền tự nhiên), nhưng gắn với những điều kiện lịch sử, chính trị – xã hội, cơ sở kinh tế của mỗi quốc gia mà mức độ ghi nhận và bảo vệ quyền nhân thân trong pháp luật có những giới hạn nhất định. Quyền nhân thân có lịch sử phát tri n từ lâu đời, từ thời La Mã, phạm trù pháp lý về các quyền cá nhân đã được ghi nhận một cách gián tiếp thông qua hình thức các đơn kiện vật quyền và đơn kiện cá nhân. Trong giai đoạn Nhà nước phong kiến, với đặc trưng là nông dân phụ thuộc vào các lãnh chúa, cá nhân thường trong tình trạng “vô quyền”, không phải là chủ th của pháp luật, cá nhân có nghĩa vụ phải tuân thủ mệnh lệnh chứ không được chống lại sự lạm quyền của nhà nước.
Chính vì vậy trong giai đoạn này, tự do cá nhân không phát tri n. Đến giai đoạn tư bản chủ nghĩa, cá nhân mới từng bước ý thức được giá trị nhân thân của mình đã bị xâm phạm, tuyên ngôn về quyền con người và công dân của nước Pháp năm 1789 đã th hiện con người có quyền sống, tự do, bất khả xâm phạm về đời sống cá nhân, hôn nhân, danh dự, uy tín, tự do lựa chọn nơi sinh sống,… đã được th hiện trong tuyên ngôn về quyền con người năm 1948, công ước quốc tế về các quyền kinh tế 8 xã hội và văn hóa 1966, công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và những tự do cơ bản năm 1950 [24]. Trên thế giới, quyền nhân thân là chế định pháp lý mang tính chất đa ngành, trong đó chứa đựng quy phạm pháp luật của nhiều ngành nghề khác nhau. Cơ sở nền tảng điều chỉnh quan hệ nhân thân chính là Hiến pháp và pháp luật dân sự.
Bởi tuy việc ghi nhận mang tính hiến định của Hiến pháp sẽ không đủ cho việc thực thi và bảo vệ các giá trị một cách hiệu quả trong trường hợp có hành vi xâm phạm quyền nhân thân xảy ra. Luật dân sự là ngành luật đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các giá trị nhân thân, bảo vệ đời sống cá nhân, tự do, danh dự, nhân phẩm của mỗi con người. Các chủ th nắm giữ các giá trị nhân thân có th sử dụng những biện pháp trách nhiệm dân sự đ bảo vệ quyền lợi của mình, trong đó việc áp dụng những biện pháp này cần được tính đến những đặc trưng của quan hệ nhân thân. Quyền nhân thân trong pháp luật dân sự là tổng hòa các mối quan hệ giữa những chủ th xác định liên quan đến các giá trị nhân thân được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật dân sự.
Pháp luật thừa nhận và bảo vệ một số quyền nhân thân quan trọng. Về mặt tính chất, quyền nhân thân là quyền tuyệt đối. Người có quyền đối lập với phạm vi không xác định các chủ th có nghĩa vụ tôn trọng những giá trị nhân thân được bảo vệ. Cần phân biệt quyền nhân thân với tư cách là một quyền tuyệt đối, một trong những đặc trưng cơ bản của quyền nhân thân là cấu trúc của nó khác với các loại quyền tuyệt đối.
Quyền nhân thân được chủ th thực hiện quyền bằng những hành vi riêng của mình, trong những hành vi này nằm ngoài sự điều chỉnh cụ th của pháp luật. Người có quyền nhân thân có quyền đòi hỏi một phạm vi không xác định những người khác có nghĩa vụ không được xâm phạm quyền nhân thân của chủ th , hoặc có quyền yêu cầu những biện pháp bảo vệ do pháp luật quy định trong những trường hợp quyền nhân thân bị xâm phạm. 9 Về mặt thực thi, quyền nhân thân không đặt ra các giới hạn thực thi mà chỉ đặt ra những ranh giới ngăn chặn sự can thiệp của người thứ ba đối với lĩnh vực cá nhân của một người. Trong đó, những quy phạm đạo đức có ý nghĩa quan trọng đối với những ranh giới được phép của chủ th quyền và chủ th nghĩa vụ.
Bản chất bảo vệ quyền nhân thân là sự bảo đảm tự do cho các cá nhân nằm trong việc xác định hành vi của mình theo ý chí, theo nhìn nhận của bản thân, loại bỏ sự can thiệp của chủ th khác vào đời sống cá nhân. Trong khoa học pháp lý về dân sự, quyền nhân thân là những quan hệ được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật giữa các chủ th liên quan đến giá trị nhân thân. Như vậy, quyền nhân thân trong pháp luật dân sự là quyền chủ th của cá nhân xuất hiện do việc điều chỉnh các quy phạm pháp luật dân sự đối với các quan hệ liên quan đến giá trị nhân thân của chủ th đó. Dưới góc độ khách quan, quyền nhân thân trong pháp luật dân sự là những quan hệ được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật dân sự giữa các chủ th xác định liên quan đến các giá trị nhân thân.
Về mặt chủ quan, quyền nhân thân là các mức độ hành vi cho phép chủ th th hiện quyền th hiện ở sự tự do lựa chọn hành xử trong đời sống cá nhân theo sự nhìn nhận của mình, loại bỏ bất cứ sự can thiệp nào từ phía các chủ th khác, trừ những trường hợp do pháp luật quy định. Do vậy, quyền nhân thân là quyền chủ th xuất hiện do hệ quả của việc điều chỉnh các quan hệ thân nhân bởi các quy phạm pháp luật. Theo Từ đi n Luật học của Viện Khoa học Pháp lý Bộ Tư pháp năm 2006 định nghĩa về quyền nhân thân là: Quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân mà không th chuy n giao cho người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quyền nhân thân bao gồm: quyền có họ tên; quyền xác định dân tộc; quyền của cá nhân đối với hình ảnh; quyền được bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, thân th ; quyền được bảo vệ nhân phẩm, danh dự, uy tín; quyền đối với bí mật đời tư; quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền có quốc tịch; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự 10 do đi lại, cư trú; quyền lao động; quyền tự do sáng tạo, quyền tác giả đối với tác phẩm; quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp [31, tr.
Một số nghiên cứu cũng đưa ra khái niệm quyền nhân thân như sau: Theo nghĩa khách quan: "Quyền nhân thân được hiểu là một phạm trù pháp lý bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, trong đó có nội dung quy định cho các cá nhân có các quyền nhân thân gắn liền với bản thân mình và đây là cơ sở để cá nhân thực hiện quyền của mình" [21]. Theo nghĩa chủ quan:"quyền nhân thân là quyền dân sự chủ quan gắn liền với cá nhân do Nhà nước quy định cho mỗi cá nhân và cá nhân không thể chuyển giao quyền này cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định khác" [21]. Tại Hội thảo khoa học: “Quyền nhân thân và bảo vệ quyền nhân thân bằng pháp luật dân sự”, Giáo sư Ravanas đã phân tích khái niệm quyền nhân thân xuất phát từ khái niệm quyền con người, quyền công dân, quyền tự do dân sự và quyền của cá nhân.